Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát hiệu quả của thuốc y học cổ truyền trong điều trị bệnh nhân loãng xương nguyên phát.. Mục tiêu nghiên cứu Khảo sát hiệu quả của thuốc y học cổ truyền tron
Trang 1HIỆU QUẢ CỦA THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN TRONG ĐIỀU TRỊ LOÃNG XƯƠNG
Nguyễn Thị Bay*, Lê Ngọc Thanh*, Lê Bảo Lưu*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề và mục tiêu: Loãng xương chiếm tỉ lệ khá cao ở những người lớn tuổi Tuy bệnh danh loãng
xương không có trong các tài liệu kinh điển Y học cổ truyền (YHCT), nhưng đã có một số nghiên cứu bệnh học cho thấy có mối tương quan giữa loãng xương và bệnh lý tạng Thận Do đó thuốc YHCT có thể có hiệu quả trong
điều trị loãng xương Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát hiệu quả của thuốc y học cổ truyền trong điều trị bệnh
nhân loãng xương nguyên phát
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tìm kiếm các nghiên cứu từ trong các trang
MEDLINE, CNKI, EMBASE, CBM, Wanfang data, Elselvier, Medsci, Tạp chí Y học TP.HCM với các từ khóa được giới hạn “thuốc y học cổ truyền VÀ thảo dược VÀ loãng xương VÀ gãy xương” và chỉ chọn các nghiên cứu lâm sàng
Kết quả: Có 10 công thức thảo dược đã được chứng minh có hiệu quả trong điều trị và phòng ngừa loãng
xương dựa trên kết quả đo mật độ xương (BMD) Các công thức thảo dược làm tăng các hormon sinh dục và/hoặc tăng hoạt động tạo xương (tăng các marker tạo xương) và/ hoặc giảm hoạt động hủy xương (giảm các marker hủy xương) Theo YHCT, các thảo dược làm tăng phần tinh tủy của cơ thể
Kết luận: Thuốc YHCT có hiệu quả trong điều trị và phòng ngừa loãng xương Các nghiên cứu cần phải
tiến hành trong thời gian dài hơn (>12 tháng) và cần được so sánh trực tiếp với các thuốc điều trị loãng xương Tây Y hiện hành để so sánh hiệu quả, tính an toàn
Từ khóa: Tạng Thận (theo Y học cổ truyền), Thuốc YHCT, Loãng xương
ABSTRACT
EFFECTIVENESS OF TRADITIONAL MEDICINE IN THE TREATMENT OF OSTEOPOROSIS
Nguyen Thi Bay, Le Ngoc Thanh, Le Bao Luu
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 1 – 2014: 255 - 261
Background and Aims: Osteoporosis is a major health problem for the elderly Although osteoporosis did
not exist in the literature of traditional medicine, but there have been a number of studies which showed that there
is pathologic correlation between osteoporosis and kidney deficiency Therefore, traditional medicine can be
effective in treating osteoporosis Aims: Survey the effectiveness of traditional medicine treatment on the patients
with primary osteoporosis
Materials and Method: We searched for papers published in MEDLINE, CNKI, EMBASE, CBM,
Wanfang data, Elselvier, Medsci, Medical journals databases without language limit by retrieving key words
“traditional medicine/ chinese herb AND herbal AND osteoporosis AND fracture”; only those papers with clinical trials will be selected
Results: There are 10 herbal formulas which have been proven to be effective in the treatment and prevention
of osteoporosis based on bone mineral density measurements (BMD) The herbal formula increased the sex hormones and / or increased bone formation activity (increased bone formation markers) and / or reduced bone
* Khoa Y Học Cổ Truyền – Đại Học Y Dược TP.HCM
Tác giả liên lạc: PGS TS Nguyễn Thị Bay ĐT: 0903716398 Email: bay.nt@umc.edu.vn
Trang 2resorption activity (reduced bone resorption markers) According to traditional medicine, the herb increases the body's essence
Conclusion: Traditional medicine is effective in the treatment and prevention of osteoporosis The research to
be conducted over long periods (>12 months) and should be compared directly with Western medicine in the treatment of osteoporosis to compare the efficacy and safety
Keywords: Kidney (traditional medicine theory), traditional medicine/herbal, osteoprosis
MỞ ĐẦU
Với nhiều sự tiến bộ trong lĩnh vực chăm sóc
sức khỏe, tuổi thọ trung bình của con người
ngày một tăng Ở người cao tuổi có những sự
thay đổi về sinh lý cũng như bệnh lý ở hầu hết
các cơ quan, như hệ miễn dịch, hệ nội tiết, hệ tim
mạch, sự thay đổi ở hệ thống xương
khớp…Trong đó riêng vấn đề loãng xương
chiếm tỉ lệ khá cao ở những người lớn tuổi (20%
ở nữ giới và 10% ở nam giới ≥ 60 tuổi)(7,6) Y học
cổ truyền (YHCT) cũng có những quan điểm về
quá trình lão hóa tương tự YHCT cho rằng sự
thịnh suy của Thận khí có vai trò chủ đạo trong
quá trình sinh trưởng phát dục cũng như lão hóa
của con người Tuy bệnh danh loãng xương
không có trong các tài liệu kinh điển YHCT,
nhưng đã có một số nghiên cứu bệnh học cho
thấy có mối tương quan giữa loãng xương và
bệnh lý tạng Thận(7,3) Do đó, thuốc YHCT có thể
có hiệu quả trong điều trị loãng xương Việc tìm
hiểu về các thuốc YHCT trong điều trị loãng
xương cũng góp phần củng cố lý luận YHCT với
bệnh loãng xương
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát hiệu quả của thuốc y học cổ
truyền trong điều trị bệnh nhân loãng xương
nguyên phát
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng
Tất cả những nghiên cứu thử nghiệm lâm
sàng dùng để đánh giá hiệu quả của các thuốc
YHCT trong điều trị loãng xương
Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương theo
WHO 1994 và loại trừ tất cả những trường hợp
loãng xương thứ phát do thuốc, bệnh nội tiết, do
phẫu thuật…Kết quả của các thử nghiệm lâm sàng phải được chứng minh bằng sự thay đổi mật độ xương (BMD) của thắt lưng, cổ xương đùi hoặc xương cổ tay
Phương pháp tìm kiếm các nghiên cứu
Chúng tôi tìm kiếm các nghiên cứu từ trong các trang MEDLINE, CNKI, EMBASE, CBM, Wanfang data, Elselvier, Medsci, Tạp chí Y học TP.HCM với các từ khóa được giới hạn “ thuốc y học cổ truyền VÀ thảo dược VÀ loãng xương
VÀ gãy xương” (Chinese herb/ traditional medicine AND herbal AND osteoporosis AND fracture) và chúng tôi chỉ chọn các nghiên cứu lâm sàng (clinical trials) Chúng tôi tìm kiếm các tài liệu đến tháng 9/2013
KẾT QUẢ KHẢO SÁT
Kết quả tìm kiếm cho chúng tôi có được 10 công thức thảo dược đã được nghiên cứu trong điều trị loãng xương thỏa mãn các tiêu chí ban đầu Trong 10 công thức thảo dược được trình bày ở bảng 1, chúng tôi lọc ra những thảo dược nào xuất hiện với tỉ lệ ≥ 2 lần Kết quả cho thấy có thảo dược xuất hiện với tần suất phổ biến nhất theo thứ tự: Dâm dương hoắc (8/10), Thục địa (4/10), Ngưu tất (4/10), Phá cố chỉ (4/10), Câu kỷ tử (4/10), Cốt toái bổ (3/10), Đỗ trọng (2/10), Đan sâm (2/10), Đảng sâm (2/10), Hoàng kỳ (2/10), Sơn thù (2/10), Bạch truật (2/10) Theo lý luận YHCT,
các thảo dược này thuộc nhóm Bổ Thận dương
(Dâm dương hoắc, Phá cố chỉ, Cốt toái bổ, Đỗ
trọng); Bổ Thận âm (Thục địa, Câu kỷ tử); Hoạt
huyết hóa ứ (Ngưu tất, Đan sâm); Bổ khí kiện Tỳ
(Đảng sâm, Hoàng kỳ, Sơn thù, Bạch truật)
Trang 3Bảng 1: Các công thức thảo dược được nghiên cứu
lâm sàng trong điều trị loãng xương
Viên mật cốt (Migu table) Dâm dương hoắc, Đỗ trọng, Hồ
đào nhân, Thục địa, Ngưu tất,
Phá cố chỉ Tiên linh cốt bảo phiến
(Xian ling Gubao capsule)
Dâm dương hoắc, Tục đoạn, Phá
cố chỉ, Thục địa, Đan sâm, Tri
mẫu
Viên nang bổ cốt linh (Bo
– gu ling capsul)
Bạch truật, Cốt toái bổ, Dâm dương hoắc, Thỏ ty tử Viên nang ích cốt (Yigu
capsule)
Dâm dương hoắc, Câu kỷ tử, Đương quy, Ngưu tất Viên nang cường cốt
(Qiang –Gu capsule)
Cốt toái bổ Viên kiện cốt (Jiangu
granule)
Dâm dương hoắc, Sơn thù, Đảng
sâm, Câu kỷ tử
Bổ Thận sinh tủy thang
(Bu Shen Sheng Sui
soup)
Đỗ trọng, Thục địa, Phục linh, Miết giáp, Quy bản, Hoàng bá, Thái tử sâm, Bạch truật, Hoài sơn, Sơn thù, Ngưu tất, Câu kỷ
tử, Trư tủy
Siro Cốt khang (Gu Kang
Oral liquid)
Phá cố chỉ, Dâm dương hoắc, Nhục thung dung, Bạch thược,
Hoàng kỳ
Viên nang Cốt sơ khang
(Gushukang capsule);
Viên Cốt sơ khang
(Gushukang granules)
Dâm dương hoắc, Thục địa, Cốt toái bổ, Hoàng kỳ Đan sâm, Mộc
nhĩ, Hạt bí đỏ
Viên nang Kim ô cốt thông
(Jinwugutong capsule)
Câu kỷ tử, Dâm dương hoắc, Uy linh tiên, Ngưu tất, Mộc qua, Cát căn, Khương hoàng, Phá cố chỉ, Đảng sâm, Ô sáo xà
Viên Mật cốt (Migu tablet): Một nghiên cứu
trên 192 phụ nữ Trung quốc sau mãn kinh cho
thấy viên Mật cốt làm cải thiện BMD đáng kể sau
12 -24 tuần Nghiên cứu cũng cho thấy sau điều
trị viên Mật cốt làm giảm các marker hủy xương
như MMP-2 (matrix metalloproteinase-2), sCTx
(bone cross-linked C-telopeptides of type
collagen), uNTx (urine bone cross-linked
N-telopeptides of type collagen), ngược lại chúng
cũng làm tăng các marker tạo xương như sBAP
(bone alkaline phosphates), sOC (osteocalcin) (17)
Viên Tiên linh cốt bảo (Xian ling Gubao
capsule): Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy rằng
viên Tiên linh cốt bảo có tác dụng cải thiện có ý
nghĩa thống kê BMD cột sống thắt lưng ở phụ
nữ mãn kinh sau thời gian điều trị 6 tháng
Các nghiên cứu đồng thời cho thấy thuốc
không gây tác dụng phụ nào, cũng như thuốc
làm thay đổi các marker chu chuyển xương
(tương tự viên mật cốt)(17,2)
Viên Bổ cốt linh (Bo-gu Ling capsules): Một thử
nghiệm lâm sàng trên 150 phụ nữ có độ tuổi từ
40 - 60 được chẩn đoán là thiếu xương, được chia đều làm 2 nhóm, nhóm sử dụng viên Bổ cốt linh
và nhóm giả dược Kết quả nghiên cứu cho thấy BMD cột sống thắt lưng, cổ xương đùi ở nhóm
bổ cốt linh tăng lần lượt là 0,69% và 0,21% sau 6 tháng điều trị và giảm lần lượt là 0,61% và 0,33%
ở nhóm giả dược Nghiên cứu kết luận viên Bổ cốt linh có hiệu quả trong việc tăng cường BMD
ở phụ nữ mãn kinh >10 năm (4)
Viên nang ích cốt (Yigu capsule): Một nghiên
cứu mù đôi, ngẫu nhiên so với giả dược của viên nang ích cốt trên 210 bệnh nhân loãng xương sau mãn kinh cho thấy viên nang ích cốt làm tăng BMD cột sống thắt lưng, cổ xương đùi, làm giảm nguy cơ gãy xương, giảm đau do loãng xương, không xuất hiện gãy thân đốt sống mới, làm tăng hormon sinh dục (estradiol), làm tăng các marker tạo xương như sBAP, sOC Nghiên cứu cũng cho thấy viên nang ích cốt không gây ra tác dụng phụ nào trong thời gian dùng thuốc (16)
Viên nang cường cốt (Qiang –Gu capsule):
Các nghiên cứu lâm sàng chứng minh viên nang cường cốt làm thay đổi BMD đáng kể cổ xương đùi ở phụ nữ mãn kinh sau thời gian điều trị 24 tuần(8)
Viên kiện cốt (Jiangu granule): Một số nghiên
cứu thực nghiệm chứng minh viên kiện cốt có tác dụng ngăn ngừa và điều trị loãng xương nguyên phát do sự ức chế TNF –α, cân bằng Nitric oxide (NO) và ức chế sự hoạt động của các hủy cốt bào Các nghiên cứu lâm sàng cũng chứng minh viên kiện cốt làm thay đổi BMD cột sống thắt lưng, cổ xương đùi đáng kể ở phụ nữ mãn kinh sau thời gian điều trị 24 tuần (9,12)
Bổ Thận sinh tủy thang (Bu Shen Sheng Sui soup): Một nghiên cứu so sánh hiệu quả của Bổ
Thận sinh tủy thang với các liệu pháp hormon thay thế trong điều trị loãng xương sau mãn kinh Nghiên cứu đưa ra kết luận Bổ Thận sinh tủy thang làm tăng estrogen và progesterone
Trang 4huyết thanh, do đó có thể dùng Bổ Thận sinh tủy
thang như là một liệu pháp hormon thay thế
Thuốc không gây tác dụng phụ như chảy máu
âm đạo, căng tức tuyến vú…Tuy Bổ Thận sinh
tủy thang và các liệu pháp hormon thay thế không làm cải thiện đáng kể BMD nhưng chúng
có thể làm giảm quá trình suy giảm BMD (5)
Dâm dương hoắc Ngưu tất
Thục địa Phá cố chỉ Câu kỷ tử Cốt toái bổ
Đỗ trọng Đan sâm Bạch truật Sơn thù Hoàng kỳ Đảng sâm
Sơ đồ 2: Tần suất các thảo dược có trong các công thức thuốc YHCT điều trị loãng xương
Siro Cốt khang (Gu Kang Oral liquid)
Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, mù
đôi trên 240 phụ nữ loãng xương nguyên phát,
chia ngẫu nhiên làm hai nhóm Siro cốt khang
và nhóm Tiên linh cốt bảo Kết quả nghiên cứu
cho thấy ở cả hai nhóm đều làm cải thiện BMD
đáng kể Không có sự khác biệt có ý nghĩa về
Ca, P, ALP ở hai nhóm Thuốc giúp cải thiện
triệu chứng lâm sàng của loãng xương Trong
thời gian sử dụng thuốc, không ghi nhận bất
kỳ tác dụng phụ nào(14)
Viên nang Cốt sơ khang (Gushukang
capsule); Viên Cốt sơ khang (Gushukang
granules)
Một số nghiên cứu lâm sàng cho thấy Viên
nang Cốt sơ khang làm tăng BMD ở nữ giới
3,1%, nam giới 3,9% sau 6 tháng điều trị Thuốc
làm tăng hormon sinh dục (estrogen và androgen), làm chậm quá trình mất khối lượng xương, tăng BMD, nó có tác dụng ngăn ngừa và điều trị loãng xương Bên cạnh đó, thuốc làm tăng HDL-C có tác dụng trong phòng và điều trị bệnh tim mạch (10)
Viên nang Kim ô cốt thông (Jinwugutong capsule)
Nghiên cứu lâm sàng cho thấy sau 6 tháng điều trị, viên nang Kim ô cốt thông làm thay đổi BMD cột sống thắt lưng và cổ xương đùi đáng kể
ở bệnh nhân loãng xương nguyên phát Thuốc cũng làm tăng các marker tạo xương như osteocalcin, ALP, AP Đồng thời các marker hủy xương giảm đáng kể như OHP Thuốc không gây ra phản ứng phụ đáng kể nào(17)
Bảng 3: Đặc điểm của các nghiên cứu lâm sàng trong điều trị loãng xương bằng thảo dược
Tác giả/Năm
nghiên cứu
Số lượng bệnh nhân
Thời gian
BMD: CSTL + Cổ xương đùi
xương đùi
BMD: CSTL + Cổ xương đùi
Trang 5Tác giả/Năm
nghiên cứu
Số lượng bệnh nhân
Thời gian
xương đùi
BMD: CSTL + Cổ xương đùi
BMD: CSTL + Cổ xương đùi
xương đùi
*MC: viên mật cốt; TLCB: Viên Tiên linh cốt bảo; BLC:Viên Bổ cốt linh; IC: Viên nang Ích cốt; CC: Viên nang Cường cốt; KC: Viên Kiện cốt; BTST: Bổ Thận sinh tủy thang; CK: Siro Cốt khang; CSK: Viên nang Cốt sơ khang; CSKv: Viên Cốt sơ khang; KOCT: Viên nang Kim ô cốt thông
Bảng 4: Sự thay đổi BMD ở nhóm điều trị bằng thuốc YHCT trước và sau điều trị.
Những nghiên cứu trên các công thức thảo
dược này đều chứng minh được tác dụng làm
thay đổi BMD cột sống thắt lưng và cổ xương
đùi có ý nghĩa thống kê sau thời gian điều trị 6
tháng hoặc 12 tháng Sau 6 tháng điều trị, BMD
cột sống thắt lưng của nhóm dùng thảo dược
tăng đáng kể so với nhóm chứng (WMD =0,07,
95% CI: 0,01 -0,04, n=892) Nghiên cứu cũng cho
kết quả tương tự đối với BMD cổ xương đùi
(WMD = 0,06, 95% CI:0,02–0,13,n =842)
BÀN LUẬN
Theo quan điểm của YHHĐ, việc tụt giảm các hormon sinh dục như estrogen ở phụ nữ mãn kinh, testosteron ở nam giới lớn tuổi là một trong những nguyên nhân góp phần gây loãng xương Theo quan điểm YHCT, Thận tàng tinh (bao gồm tinh sinh dục và tinh tạng phủ), tinh sinh tủy, tủy nuôi dưỡng xương cốt Khi tinh bị suy giảm sẽ ảnh hưởng đến khả năng phát dục, sinh dục, khả năng nuôi dưỡng cốt tủy Như vậy
ở YHHĐ và YHCT đều chung quan điểm cho rằng khi lớn tuổi do sự sụt giảm đột ngột của
Trang 6hormon (YHHĐ) hoặc tinh (YHCT) đều sẽ dẫn
đến các rối loạn chức năng của xương cốt(7,3,6)
Có một số nghiên cứu đoàn hệ cho thấy Độc
hoạt tang ký sinh và Hữu quy ẩm là những bài
thuốc thường được kê đơn nhất trong điều trị
loãng xương Đây là những bài thuốc được sử
dụng từ hàng ngàn năm nay trong điều trị các
bệnh xương khớp ở Trung Quốc và Việt Nam
Tuy nhiên, do chúng chỉ đánh giá hiệu quả điều
trị loãng xương thông qua việc theo dõi triệu
chứng lâm sàng như cải thiện triệu chứng đau,
cứng khớp…, nên chưa chứng minh được là
thực sự có hiệu quả trong điều trị loãng xương
hay không(14) Ngược lại, các nghiên cứu được
trình bày ở trên tuy không phải là những bài
thuốc kinh điển trong điều trị các bệnh xương
khớp, nhưng đã chứng minh có hiệu quả và an
toàn trong điều trị và phòng ngừa loãng xương
nguyên phát bằng các phương pháp nghiên cứu
có độ tin cậy cao Các công thức thuốc này được
cấu tạo chủ yếu từ các vị thuốc quy kinh Thận có
tác dụng bổ Thận, mạnh gân cốt hoặc các vị thuốc
hoạt huyết khử ứ (YHCT cho rằng khí huyết lưu
thông sẽ giúp giảm đau) Bên cạnh các vị thuốc
quy kinh Thận, còn có một số vị thuốc quy kinh
Tỳ giúp tăng cường khả năng hấp thu, chuyển
hóa thức ăn của cơ thể Điều này theo quan điểm
của YHCT là giúp cho bổ sung phần tinh của
Thận Như vậy, có thể thấy dù là nghiệm
phương hay tân phương, thì các công thức thuốc
điều trị loãng xương chủ yếu bao gồm các vị
thuốc tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm tăng
phần Tinh Tủy của cơ thể
Để tìm hiểu cơ chế tác dụng của một công
thức thuốc YHCT thật sự sẽ rất khó khăn do các
thảo dược có rất nhiều hợp chất khi chiết xuất
Các hợp chất này còn có thể bị biến đổi do sự
thay đổi về điều kiện khí hậu, bảo quản, thời
gian thu hoạch…Một số nghiên cứu lâm sàng
bước đầu cho thấy một số công thức thảo dược
làm tăng các hormon sinh dục(16,5,10), một số làm
tăng hoạt động tạo xương (tăng các marker tạo
xương), giảm hoạt động hủy xương (giảm các
marker hủy xương)(1,18,17)
Nhục thung dung là vị thuốc có tần suất sử
dụng cao nhất (8/10) trong các công thức thuốc điều trị loãng xương Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy Nhục thung dung có tác dụng chống lại tình trạng hủy xương trên chuột cắt bỏ buồng trứng Các hợp chất trong Nhục thung dung như (2E,6R)-8-hydroxy-2,6-dimethyl-2-octenoic acid được cho là có tác dụng chống lại tình trạng hủy xương Nghiên cứu kết luận Nhục thung dung có tác dụng trong điều trị loãng xương là do có tác dụng như các hormon sinh dục (17β-estradiol)(13) Các nghiên cứu trên
Cốt toái bổ cũng cho kết quả tương tự(2) Chiết xuất từ Đỗ trọng có rất nhiều hợp chất polyphenolic như lignans, phenolic acid, và favonoids Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy
Đỗ trọng làm giảm quá trình hủy xương, được chứng minh bởi sự giảm các marker hủy xương
deoxypyridinoline (DPD), Ca và P bài xuất trong nước tiểu(15)
KẾT LUẬN
Thông qua kết quả khảo sát đã nêu trên, có thể kết luận rằng thuốc YHCT có hiệu quả trong điều trị và phòng ngừa loãng xương Tuy nhiên các nghiên cứu cần phải tiến hành trong thời gian dài hơn (>12 tháng) để chứng minh có thể làm tăng BMD hiệu quả hơn Các nghiên cứu cũng cần được so sánh trực tiếp với các thuốc điều trị loãng xương Tây Y hiện hành để so sánh hiệu quả, tính an toàn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Dai Y, Shen L (2007) Effects of Migu tablet on bone mineral
density, serum matrix metalloproteinase-2 level and bone metabolic markers in postmenopausal osteoporosis Zhongguo Zhongyao Zazhi, 32(22): 2409–2412
2 Jeong JC, Yoon CH, Jeong CW, Lee YC, Chang YC, and Kim CH (2004) “Inhibitory activity of Drynariae rhizoma extracts on
Immunopharmacology and Immunotoxicology, 26(3): 373–385
3 Lê Ngọc Thanh, Nguyễn Trương Minh Thế (2011) “Mối tương quan giữa loãng xương và bệnh lý tạng Thận” Tạp chí Y học TP.HCM, Phụ bản của tập 16 - số 1; 42 -47.
4 Leung PC, Cheng KF, and Chan YH (2011) “An innovative herbal product for the prevention of osteoporosis” Chinese Journal of Integrative Medicine, 17(10): 744–749
5 Liao L, Li XS, Cai QH, et al (2004) “Clinical research of the bu
Trang 7shen sheng sui principle curing the postmenopausal
osteoporosis” Chinese Journal of Information on Traditional
Chinese Medicine, 11(40): 287–289
6 Nguyễn Văn Tuấn (2007) Loãng xương, nguyên nhân, chẩn
đoán, điều trị và phòng ngừa NXB Y học
7 Phạm Vũ Khánh (2009) Lão khoa Y học cổ truyền NXB Giáo
dục Việt Nam, tr.15 -41,147 – 172
8 Ruan X, Qi J, Liu Y et al (2006) “Effects of traditional Chinese
medicine on bone mineral density and femoral neck strength in
postmenopausal women” Chinese Journal of Osteoporosis,
12(2): 181–184
9 Shi Chuan-dao,Qi Zhi-Qiang,Wang Xiao-di (2011) “Effect of
Granule of Kang-shu Jian-gu on TNF-α and NO in Rat Model of
Osteoporosis” Shanxi Journal of Traditional Chinese Medicine,
no 1
10 Wang HM, Ge JR, Shi GT, et al (2006) “Clinical study on the
effect of gushukang capsule in primary osteoporosis treatment”
Chinese Journal of Traditional Medical Traumatology &
Orthopedics, 14(6): 11–15
11 Wei TS, Yao HY, Pau ChCh (2012) “Prescription Patterns of
Chinese Herbal Products for Osteoporosis in Taiwan: A
Population-Based Study, Evidence-Based Complementary and
Alternative Medicine Hindawi Publishing Corporation
doi:10.1155/2012/752837
12 Xiong YH, Teng WR, Liu T, et al (2008) “Jiangu granules in
treatment of postmenopausal osteoporosis: a randomized,
doubleblind, double dummy, Multicenter Clinical Trial”
Chinese Journal of Traditional Medical Traumatology &
Orthopedics, 16(4): 17–21
13 Yamaguchi K, Shinohara C, Kojima S, Sodeoka M and T Tsuji T (1999).“(2E,6R)-8-hydroxy-2,6-dimethyl-2-octenoic acid, anovel Anti-osteoporotic monoterpene, isolated from Cistanche salsa” Bioscience Biotechnology and Biochemistry, vol 63, no 4,pp 731–735
14 Yang H, Shen L, Zhang Y, et al (2007) “Observation of the efficacy of GKKFY in treating primary osteoporosis” Chinese JournalTraditional Medicine Traumatology & Orthopaedics, 15(12): 31–33
15 Zhang R, Liu ZG, Li C, et al (2009) “Du-Zhong (Eucommia ulmoides Oliv.) cortex extract prevent OVX-induced osteoporosis in rats” Bone, 45(3): 553–559
16 Zhang RH, Chen KJ, Lu DX, Zhu XF, and Ma XC(2005) “A clinical study of Yigu capsule (Chinese characters) in treating postmenopausal osteoporosis” Chinese Journal of Integrative Medicine, 11(2): 97–103
17 Zheng WK, Liu CY, and Zhou Y (2007) Clinical study on treatment of postmenoporosis by jinwugutong capsule” Chinese Journal of Traditional Medical Traumatology & Orthopedics, 15(3): 30–32
18 Zhu HM, Qin L, Garnero P, et al (2011) The first multicenter and randomized clinical trial of herbal Fufang for treatment of postmenopausal osteoporosis” Osteoporosis International, vol.23, pp 1317–1327
Ngày nhận bài báo: 17/10/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 24/10/2013 Ngày bài báo được đăng: 02/01/2014