ẢNH HƯỞNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP ĐỐI VỚI BỘ LUẬT DÂNSỰ ĐẦU TIÊN CỦA NHẬT BẢN Tóm tắt: Trong quá trình hiện đại hóa pháp luật Nhật bản, vai trò của mô hình luật pháp Pháp đóng một vai tr
Trang 1ẢNH HƯỞNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP ĐỐI VỚI BỘ LUẬT DÂN
SỰ ĐẦU TIÊN CỦA NHẬT BẢN
Tóm tắt: Trong quá trình hiện đại hóa pháp luật Nhật bản, vai trò của mô hình
luật pháp Pháp đóng một vai trò quan trọng, đặc biệt là trong buổi đầu của cải cách Minh Trị, thông qua sự tham gia của các học giả người Pháp trong quá trình xây dựng các bộ luật của Nhật, và vai trò của các luật gia người Nhật được đào tạo tại Pháp Bài viết trình bày tiến trình tiếp nhận pháp luật Pháp, vai trò của nó với sự phát triển của pháp luật Nhật bản và những dấu ấn của sự tiếp nhận pháp luật này.
Từ khóa: Bộ luật dân sự 1898; Bộ luật dân sự Napoléon 1804; Duy tân Minh
Trị; Gustave Boissonade.
Influence of the French civil code on the first Civil Code of Japan Minpo
Abstract:French legal model plays an important role in the modernization of
Japanese law, especially at the time of the Meiji Restoration This role is expressed through the participation of French lawyers in the construction of Japanese codes, and the Japanese lawyers who received their training in France The article analyzes the reception of French law in Japan, its influence on the development of the Japanese legal system and the heritage of the reception of French law.
Key word: Civil code of Japan 1898; Napoleonic Code; Meiji Restoration;
Gustave Boissonade.
Dẫn nhập
Trong tiến trình hiện đại hóa nước Nhật bắt đầu từ thời Duy Tân Minh Trị, có một công cuộc hiện đại hóa âm thầm phía sau ít được nhắc tới là quá trình hiện đại hóa hệ thống pháp luật của nước Nhật phong kiến - trước ngưỡng cửa của thời hiện đại
Khi nghiên cứu luật so sánh người ta thường quan niệm rằng hệ thống luật pháp của nước Nhật chịu ảnh hưởng lớn từ hệ thống luật của Đức1 Cho tới những năm 80 trong giới luật học của Nhật bản vẫn tồn tại một “huyền thoại”, theo đó Bộ luật dân sự
đầu tiên của Nhật bản đã lấy bộ dân luật Đức BGB (Das Bürgerliche Gesetzbuch,
khởi thảo từ năm 1881 và được thông qua vào năm 1896) làm hình mẫu, cụ thể là bản
sơ thảo lần nhất và lần hai của bộ luật Đức Không ít người nghĩ rằng bộ luật dân sự Nhật bản chẳng qua là bản sao của bộ luật dân sự Đức Xuất phát từ lầm tưởng này, các nhà nghiên cứu các quốc gia khác làm lan tỏa nó rộng khắp như một điều hiển nhiên: Bộ dân luật Nhật bản thường được dẫn ra, đặc biệt là trong các công trình nghiên cứu của các tác giả người Đức như là một bộ luật chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Bộ dân luật Đức2
TS Luật học, Học viện Khoa học xã hội, email: quannguyen.gass@gmail.com , đt: 09.42.22.88.22
1 Ví dụ: Võ Khánh Vinh, Luật học so sánh, nxb Khoa học xã hội, 2013, tr 267-269.
Trang 2Bài viết này phân tích căn nguyên của quan niệm có phần cảm tính đó Dĩ nhiên, chúng ta không thể phủ nhận ảnh hưởng của bộ dân luật Đức đối với Bộ dân luật Nhật, nhưng có một điều chắc chắn rằng Bộ dân luật của Pháp 1804 cũng có ảnh hưởng rất quan trọng tới Bộ dân luật Nhật Ảnh hưởng rõ ràng nhất mà chúng ta có thể thấy đó là Bộ dân luật đầu tiên của Nhật được soạn thảo bởi một người Pháp, Giáo
sư Gustave Boissonade
Bộ luật dân sự đầu tiên này được gọi là bộ Cổ luật hay bộ luật Boissonade không bao giờ có hiệu lực trên thực tế vì nó bị Nghị viện đình chỉ áp dụng sau khi được công
bố Và chính phủ Nhật đã lập một ủy ban liên nghị viện để sửa đổi bộ luật Ba giáo sư Nhật được lựa chọn để soạn thảo bộ luật mới nhằm thay thế bộ luật Boissonade
1 Bối cảnh của công cuộc hiện đại hóa hệ thống pháp luật Nhật bản cuối thế kỷ 19
Năm 1853 thiếu tướng hải quân Hoa kỳ Matthew Calbraith Perry tới Nhật Bản, cùng đoàn hộ tống gồm bốn chiến hạm hơi nước và trình lên chính quyền mạc phủ Tokugawa, công hàm của tổng thống Millard Fillmore gửi chính quyền Nhật, yêu cầu Nhật Bản mở lại các cảng bị đóng cửa từ 250 năm nay để thông thương Tuy lời lẽ trong công hàm ngoại giao của Tổng thống Fillmore rất lịch sự nhưng dễ dàng thấy được ý định thực sự của Hoa Kỳ Chính quyền mạc phủ rơi vào thế rất lúng túng Trước những đe dọa của các nước phương Tây, một nhóm nhỏ các trí thức cấp tiến đã nhận thức được sự cần thiết của việc tái mở cửa ra với thế giới bên ngoài Bất chấp mọi hiểm nguy những người này khởi xuống và tham gia năng nổ vào các cuộc vận động để quảng bá cho quan điểm của họ Chính quyền mạc phủ cuối cùng nhận ra
không còn có thể thực thi mãi chính sách bế quan tỏa cảng (sakoku), đã quyết định
thiết lập quan hệ với các quốc gia ngoại quốc Vào năm 1858 (Ansei 5), Nhật Bản kí liên tiếp các hiệp ước giao hiếu và thông thương với Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, Nga
và Hà Lan Nhưng do không hiểu biết pháp luật quốc tế, Nhật Bản đã chấp nhận những điều kiện bất lợi cho mình Các hiệp ước bất bình đẳng này tác động mạnh tới tính tự ái của người dân Nhật bản và chính phủ Minh trị, kế thừa mạc phủ, phải cố gắng để chấm dứt hiệu lực của các hiệp ước nhục nhã này Dù sao đi nữa, sự sụp đổ của chính quyền mạc phủ vốn suy yếu sẵn báo trước sự thay đổi đường lối chính trị của nước Nhật
Việc mất đi một loạt chủ quyền quốc gia khiến Nhật Bản đứng trước cuộc khủng hoảng dân tộc và gây bất mãn trong quần chúng nhân dân, khiến các phong trào phản đối diễn ra khắp nơi Nổi bật là phong trào chính trị kết hợp với vũ trang của những người ủng hộ Triều đình trung ương, vốn muốn trông cậy vào quyền lực của Thiên Hoàng - ít được quan tâm đến cho tới lúc đó, để đánh đổ mạc phủ và phe cánh Phe bảo hoàng đa phần là các võ sĩ thuộc đẳng cấp thấp của bốn phe nhóm vùng Tây Nam Nhật bản (Satsuma, Choosshu, Tosa và Hizen) - vốn từ lâu bất mãn với Mạc phủ - đã 2
Ví dụ: Ludwig Enneccerus và Hans Carl Nipperdey (1955), Lehrbuch des bürgerlichen Rechts (chuyên luật
về luật dân sự), tập 1: Allgemeiner Teil des Bürgerlichen Rechts (phần chung về dân luật), Halbband, 29, XI, nxb Mohr, Tübingen; Konrad Zweîgert và Hein Kötz (1971), Einführung in die Rechtsvergleichung auf dem
Gebiete des Privatrechts (Nhập môn luật so sánh trong lĩnh vực luật tư), tập 1; Grundlagen (khái niệm cơ bản),
28, III, nxb Mohr, Tübingen.
Trang 3nhân cơ hội này đi rêu rao khắp nơi rằng chính quyền Mạc phủ câu kết với người nước
ngoài, bán đứng chủ quyền quốc gia; mưu dùng chiêu bài “Tôn hoàng, nhương di” để
lật đổ chế độ mạc phủ Chiến thắng cuối cùng đã thuộc về phe bảo hoàng: Cuối năm
1867 Tướng quân cuối cùng của Mạc phủ Tokugawa trao quyền chính trị vào tay Nhật hoàng Chính phủ quân sự tồn tại 700 năm chấm dứt và tính từ thời điểm này một thời
đại mới bắt đầu - thời Minh Trị (Meiji-ishin).
Ngay từ những ngày đầu tiên, chính phủ mới phải đối mặt với những vấn đề cốt tử: Làm thế nào để giữ được độc lập của quốc gia trước vòng vây của các đế quốc hùng mạnh phương Tây? Có phương cách nào để tiếp nhận chủ nghĩa tư bản? Dĩ nhiên chính quyền mong muốn tìm được con đường tốt nhất để vẫn giữ được độc lập quốc gia Bởi vậy, ngay từ khi tiếp quản quyền lực, chính phủ cố gắng hiện đại hóa tổ chức chính trị và xã hội của đất nước dựa các nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản hiện đại Điều đó đồng nghĩa với yêu cầu hiện đại hóa toàn bộ hệ thống pháp luật, để đảm bảm một nền tảng vững chắc cho các hoạt động kinh tế-thương mại Việc đổi mới luật pháp trở nên cấp thiết buộc chính phủ Minh Trị nhanh chóng thực thi việc hiện đại hóa luật pháp hơn là việc tìm cách tu chính các hiệp ước nhục nhã do chính quyền mạc phủ ký kết trước đó Thêm nữa, các liệt cường tham gia kí kết các hiệp ước bất bình đẳng trước đó yêu cầu chính phủ Nhật hiện đại hóa hệ thống luật pháp của nước này như là điều kiện tiên quyết để sửa đổi các điều khoản của các hiệp ước đã kí kết Trong hoàn cảnh như thế, chính phủ Nhật không có nhiều thời gian để chờ đợi một hệ thống luật pháp hiện đại được tạo ra một cách tự nhiên, hoàn thiện từng bước theo nhịp điệu chuyển đổi của cấu trúc xã hội trong một xã hội tư bản Yêu cầu cấp thiết là có được hệ thống luật pháp theo tiêu chuẩn hiện đại trong thời gian nhanh nhất, không phụ thuộc vào tiến triển thay đổi xã hội của nước Nhật đương thời Vậy làm thế nào để đạt được điều đó một cách nhanh nhất? Giải pháp đơn giản dễ thấy là lấy các quốc gia tư bản tiên tiến đương thời làm khuôn mẫu Và thời điểm đó thì Anh
và Pháp là hai quốc gia hiện đại nhất trong mắt người Nhật Người Nhật lựa chọn
nước Pháp như mô hình để học tập vì hệ thống thông luật (Common law) của Anh quá
phức tạp để có thể mô phỏng theo trong một thời gian ngắn, trong khi nước Pháp đã
có sẵn 5 bộ luật Napoléon với chất lượng đã được kiểm chứng thông qua việc nhiều quốc gia đã dùng làm khuân mẫu để xây dựng nền tảng để hiện đại hóa xã hội
Ngay từ năm 1869, chính phủ Nhật đã thể hiện mối quan tâm sâu sắc tới việc dịch các bộ luật của Pháp Cũng vào năm đó, một trong các thành viên của chính phủ đầu tiên thời Minh Trị, Taneomi Soejima đã ra lệnh cho một trí thức biết tiếng Pháp là học giả Rinsho Mitsukuri, dịch bộ luật hình sự Napoléon 1810 Mitsukuri đã hoàn thành một phần của bản dịch này vào cuối năm đó Bộ trưởng Tư pháp Shimpei Etô ấn tượng mạnh bởi bản dịch của Mitsukuri Chất lượng của bộ luật đã khiến ông rất hài lòng và thúc đẩy ông có ý tưởng có phần vội vã là yêu cầu dịch luôn bộ luật dân sự của Pháp để áp dụng luôn cho Nhật Bản Ông ra lệnh cho Mitsukuri dịch không chỉ bộ luật dân sự mà tất cả các bộ luật khác của Pháp một cách nhanh nhất có thể3 Người ta
3
Marius B Jansen, John Whitney Hall (1989), The Cambridge History of Japan, tập 5, nxb Cambridge
University Press, tr 473.
Trang 4kể lại rằng Etô đã nói như sau khi ông ra lệnh cho Mitsukuri: “Hãy dịch các bộ luật
này một cách nhanh nhất có thể, không phải lo ngại vễ các lỗi dịch thuật có thể mắc phải” Mitsukuri đã làm việc điên cuồng và ông hoàn thành khối lượng công việc
khổng lồ đó trong vòng không đầy 5 năm Vào thời của mình Mitsukuri là một trong những người nắm rõ ngôn ngữ cũng như hiểu biết về văn minh phương Tây sâu rộng nhất Vào cuối thời kỳ Tokugawa, mạc phủ bắt đầu nhận thức được sự cần thiết của các tri thức ngoại quốc, đã lập ra trường để giảng dạy và nghiên cứu những thứ liên
quan đến Âu châu, nói theo tiếng Nhật là Yôgaku (Âu học) Môn học cơ bản của việc
nghiên cứu và giảng dạy của trường này là ngôn ngữ châu Âu, trong đó có tiếng Hà Lan Tiếng Hà Lan lúc đó được coi trọng nhất bởi vì đây là quốc gia duy nhất mà Nhật bản vẫn cho phép giao thương ngay cả trong thời kỳ thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng Rinsho Mitsukuri bắt đầu bằng việc nghiên cứu tiếng Hà Lan và ông nhanh chóng nắm vững ngôn ngữ này để được bổ nhiệm làm giáo viên của trường sau đó Nhưng ông cũng mau chóng hiểu được tầm quan trọng của tiếng Pháp và bắt đầu học thứ ngôn ngữ này và được chọn cùng đoàn Nhật sang Pháp tham dự Triển lãm thế giới năm 1867 tại Paris Vào thời kỳ này ông chưa phải là chuyên gia về luật (sau này ông trở thành thứ trưởng bộ tư pháp và thẩm phán tòa hành chính dưới thời Minh Trị) Nói chung vào thời đó tất cả các nhà Âu học đều là những nhà bách khoa toàn thư học và người ta xem họ như những nhà thông thái Chính trong điều kiện đó mà Mitsukuri đảm trách việc dịch các bộ luật của Pháp Chúng ta có thể dễ dàng hình dung ra được núi khó khăn mà ông phải trải qua để hoàn thành nhiệm vụ được giao Ông không có một cuốn từ điển Pháp-Nhật đáng tin cậy cũng như ko có một người Pháp nào đủ hiểu biết để ông có thể xin tư vấn Chúng ta sẽ ngạc nhiên khi biết rằng phần nhiều các thuật ngữ pháp lý được sáng tạo ra hoặc chí ít là đề xuất bởi Mitsukuri Ngay cả
những từ cơ bản như “quyền chủ thể” (kenri) hay nghĩa vụ (gimu) đã được đưa ra bởi
chính nhà khoa học này Có thể so sánh ông với một kiến trúc sư buộc phải xây dựng ngôi nhà bắt đầu từ việc sản xuất từng viên gạch đầu tiên Dĩ nhiên các bản dịch của ông không phải là hoàn thiện trong con mắt của các nhà luật học thời đại chúng ta nhưng lợi ích mà nó mang lại cho những người hành nghề luật của thời đại ông là cực
kỳ to lớn Như một cố vấn ở Tòa tối cao Nhật bản đã nói: Các bộ luật này được dịch
ra giống như ánh sáng chợt tỏa rạng trong màn đêm đen, và quan tòa tìm thấy ở đó không chỉ là cơ sở pháp lý hợp lý và khoa học để họ dựa vào đó ra quyết định bản án
mà còn tạo cho họ nền tảng kiến thức về luật pháp hiện đại Cho dù không bộ luật nào
do Mitsukuri dịch được áp dụng vào đời sống như Etô mong muốn, nhưng chúng đóng vai trò như những nguyên tắc cơ bản của luật pháp Chúng ta có thể nói rằng đó chính là bước đầu tiên của việc tiếp nhận luật pháp phương Tây của Nhật Bản
Etô từ bỏ việc áp dụng bộ luật được dịch ra tại Nhật, nhưng ông không vì thế mà
từ bỏ ước ao có được một cách nhanh nhất bộ luật dân sự Nhật bản Chính vì thế, ông liền cho soạn thảo bộ luật dân sự Nhật, và một ủy ban soạn thảo được lập ra dành cho mục đích này dưới sự chủ trì của ông Ủy ban này hăng say tiến hành soạn thảo một
bộ luật dựa trên nền tảng của bộ luật dân sự Pháp Sau cái chết bi thảm của của Eto
-bị kết án tử hình vào năm 1874 vì tham gia phiến loạn chống lại triều đình4, công việc
4
Masakazu Iwata (1964), Ōkubo Toshimichi: The Bismarck of Japan, nxb University of California Press, tr.
182
Trang 5vẫn được tiếp tục dưới sự chỉ đạo của một Bộ trưởng tư pháp khác là Takato Ooki Vào năm 1878 một đề án bộ luật dân sự chia làm 3 quyển gồm 1820 điều đã được hoàn thành nhưng không được thông qua vì lý so sự bắt chước quá nhiều bộ dân luật Pháp
2 Vai trò của GS Gustave Boissonade đối với việc hình thành bộ luật dân sự Nhật bản.
Những người tham gia soạn thảo ngày càng cảm nhận được những khó khăn vô cùng lớn trong việc soạn thảo bộ luật dân sự và âu hóa luật pháp quốc gia Chính phủ Nhật bản quyết định yêu cầu sự hỗ trợ của các luật gia người Pháp Vào năm 1872, Georges Bousquet, một luật sư người Paris được mời tới Nhật làm cố vấn pháp luật của chính phủ hoàng gia Ông sống ở Nhật bốn năm và chủ yếu dành thời gian để đào tạo các luật gia người Nhật ở Trường chuyên về luật pháp Pháp, trực thuộc Bộ Tư pháp Nhật bản5, được thành lập theo đề nghị của ông Và Bousquet cũng là một trong những người tham gia soạn thảo dự thảo bộ luật dân sự 1878 Vào năm 1873, Gustave Boissonade6, giáo sư luật giảng dạy tại Đại học Paris được chính phủ Nhật mời sang
để giúp đỡ hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước này Ông đã ở lại Nhật bản hơn 20 năm, đáp ứng lòng nhiệt tình của người Nhật Boissonade đã cống hiến miệt mài cho nước Nhật không chỉ trong lĩnh vực lập pháp mà còn góp phần đào tạo các nhà luật học người Nhật7
Boissonade bắt đầu công việc lập pháp của mình bằng việc soạn thảo các bộ luật hình sự và điều tra hình sự Ông hoàn thành việc soạn thảo hai bộ luật này bằng tiếng Pháp vào năm 1877 Các dự luật sau đó được dịch ra tiếng Nhật và trình lên để thảo luận và sửa đổi bởi cơ quan lập pháp, lúc đó còn chưa được gọi là Nghị viện (Nghị viện đầu tiên của Nhật được thành lập sau đó vào năm 1890 sau bản Hiến pháp Minh Trị), và được thông qua và công bố vào năm 1880 và có hiệu lực từ năm 1882 Đây là hai bộ luật theo mô hình hiện đại đầu tiên của nước Nhật
Tiếp đó, Boissonade tập trung vào việc soạn thảo dự luật dân sự kể từ năm 1879 Tuy nhiên, ông chỉ phụ trách phần liên quan đến tài sản, phần liên quan đến luật hôn nhân gia đình và sở hữu được giao cho các luật gia người Nhật, bởi vì các lĩnh vực này liên quan chặt chẽ đến phong tục truyền thống của người Nhật Tuy nhiên, chúng
ta có thể nhận thấy ảnh hưởng lớn của Boissonade đối với các phần này Dĩ nhiên Boissonade soạn thảo các điều luật dựa trên bộ luật Napoléon 1804 của Pháp nhưng ông không quên sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh cho phù hợp với điều kiện
cụ thể của nước Nhật Trái với những ước lượng ban đầu, công việc gian khổ này lấy mất 10 năm làm việc vất vả của ông Dự án luật được dịch ra tiếng Nhật dần theo tiến
độ soạn thảo của Boissonade, rồi các đoạn được dịch ra tiếng Nhật được thảo luận và sửa đổi bởi các cơ quan lập pháp Vào năm 1889, phần dự án luật do Boissonade đảm trách được thông qua Phần này chứa được quyển về tài sản, các biện pháp đảm bảo
5 Trường này trực thuộc Khoa luật Đại học Đế quốc Tokyo, tiền thân của Đại học Tokyo ngày nay.
6 Gustave Emile Boissonade (1825-1910), là giáo sư Khoa Luật của trường Đại học Grenoble, ông đồng thời giảng dạy tại Khoa Luật Đại học Paris, công sứ Nhật tại Paris Hisanobu Samejima đã mời ông tới Nhật để hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống pháp luật nước này.
7 Gustave Boissonade, comparatiste ignoré, trong Les probblèmes contemporains de droit comparé, Recueil
d’études de droit comparé en commémoration du 10 e anniversaire de la fondation de l’Institut japonais de droit comparé, 2 vol 1962, tập 2, tr 235.
Trang 6nghĩa vụ và quyển liên quan đến chứng cứ trong dân sự Vào năm 1891, các phần giao cho các nhà soạn luật người Nhật cũng đã được viết xong, gồm quyển liên quan đến
cá nhân, một phần của quyển liên quan đến sỡ hữu và thừa kế Hai phần này tập hợp lại thành một Bộ luật thống nhất được công bố vào năm 1891 Theo dự kiến bộ luật này sẽ đi vào hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 1894 Chúng ta có thể thấy bộ luật này có nhiều nét tương đồng với Bộ dân luật Napoléon 1804 về cấu trúc nhưng nó gồm 5 quyển thay vì 3 quyển như bộ dân luật của Pháp
Số phận của bộ luật này như thế nào? Liệu nó có được đưa ra áp dụng như dự kiến? Đáng tiếc bộ luật dân sự đầu tiên nà có số phận rất ngắn ngủi: Ngay từ năm
1889, đã xuất hiện phong trào chống đối việc áp dụng bộ dân luật Các luật gia chia làm hai phe nhóm và xung đột gay gắt diễn ra giữa những người ủng hộ hai phe này
về việc nên áp dụng ngay lập tức hay hoãn áp dụng bộ luật đã được thông qua Xuất hiện rất nhiều bài báo đả kích cũng như các tuyên bố công khai ủng hộ hoặc chống lại
Bộ luật Boissonade Người ta so sánh sự đối đấu này với cuộc đối đầu giữa Savigny
và Thibaut về sự cần thiết của pháp điển hóa luật dân sự của nước Phổ đầu thế kỷ 198
Lý do của những người đòi hỏi trì hoãn là bộ luật này không tính đến một cách đầy đủ các phong tục và truyền thống của người dân Nhật Một trong những học giả bảo thủ nhất là Yatsuka Hozumi, giáo sư luật hiến pháp Trường đại học Đế quốc Tokyo, thậm chí còn khẳng định rằng một khi bộ luật này được đưa vào áp dụng, sự trung thành với Nhật Hoàng và lòng thành kính với gia đình sẽ bị đạp đổ Lập luận của những người chủ trương đình chỉ áp dụng bộ luật ví lý do nó chỉ là bản sao luật ngoại bang rõ ràng
là thiếu cơ sở, bởi vì phần bộ luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan chặt chẽ tới truyền thống văn hóa Nhật, như chúng ta đã đề cập ở trên, được soạn thảo bởi các nhà soạn luật người Nhật, dựa trên sự đánh giá các đặc trưng văn hóa quốc gia Hơn nữa, phần này của bộ luật được sửa đổi rất nhiều bởi Thượng viện, vốn có một bộ phận chuyên trách lập pháp, để phù hợp hơn với đời sống và văn hóa đặc trưng của người Nhật9 Tuy nhiên, tình hình lại có lợi cho những người chống lại bộ luật Boissonade
và vào năm 1892, Nghị viện hoàng gia đã hoãn việc áp dụng bộ luật này
3 Lý do sâu xa của sự thất bại của bộ luật Boissonade?
Người ta thường hay gán điều này cho sự đối lập giữa trường phái luật Pháp và trường phái luật Anh10 Về mặt hình thức thì có vẻ như vậy, nhưng thực tế thì xuất phát từ những nguyên chính trị hơn là các lý do thuần túy pháp luật Đó một phần là kết quả logic của sự suy yếu ảnh hưởng của văn minh Pháp, bắt đầu để lại dấu vết trong mọi lĩnh vực của văn hóa Nhật Như chúng ta đã thấy Cải cách Minh Trị 1868 8
Về sự đối lập giữa Savigny và Thibaut trong vấn đề pháp điển hóa luật dân sự Xem: Margaret Barber
Crosby (2008), The Making of a German Constitution: A Slow Revolution, nxb Bloomsbury Academic, tr
80-84.
9 Ví dụ, trong dự thảo ban đầu quy định rằng nam và nữ vị thành niên không thể kết hôn thiếu sự đồng ý của bố
mẹ hai bên, nhưng Thượng viên đã sửa đổi quy định này theo hướng bất cứ đàn ông và phụ nữ ở bất kỳ lứa tuổi nào đều phải được sự chấp thuận của bố mẹ hai bên khi kết hôn Cuối cùng bộ luật dân sự năm 1898 chỉ quy định cần phải có sự đồng ý của bố mẹ hai bên trong trường hợp người nam dưới tuổi 30 và nữ dưới 25.
10 Ngay từ năm đầu của thời Minh Trị, luật Anh đã được giảng dạy cùng lúc với luật của Pháp Có rất nhiều trường luật chuyên giảng dạy luật Anh Khoa Luật trường Đại học Tokyo là cơ sở quan trọng nhất giảng dạy lĩnh vực này, và Trường chuyên về luật Pháp mà chúng ta đã đề cập ở trên do Bousquet lập ra sau đó được nhập vào Khoa Luật của Đại học Tokyo vào năm 1885.
Trang 7đã được thực hiện bởi tầng lớp võ sĩ cấp thấp Những người này có một vị trí trung bình trong xã hội phong kiến, họ chưa bao giờ thuộc tầng lớp tư sản, cho dù họ hướng tới việc thiết lâp một xã hội tư sản Bản chất của của những người này là ủng hộ chế
độ chuyên chế Vì lý do này mà chính phủ được thiết lập ngay sau cải cách Minh Trị bao gồm phần lớn các cựu võ sĩ tầng lớp thấp, không hề mong muốn thiết lập một xã hội tư sản đúng nghĩa Những người này chủ yếu hướng về việc thiết lập một Nhà nước chuyên chế Tuy nhiên, ban đầu quyền lực của chính phủ còn yếu ớt và vốn đã gặp rất nhiều khó khăn để có được sự quy phục của các lãnh chúa, không có gì đảm bảo tình trạng này có thể duy trì hay được củng cố trong ngắn hạn Vì thế, chính phủ mới thành lập bắt buộc cần đến sự hợp tác của các cựu lãnh chúa cho tới khi quyền lực được củng cố vững chắc Điều này buộc chính phủ phải tạo lập một vẻ bề ngoài dân chủ, ra vẻ tôn trọng ý kiến công chúng và khuyến khích các cuộc tranh luận công
khai Một trong năm tuyên bố của hoàng gia vào đầu năm 1858 nêu rõ: “khuyến khích
triệu tập càng nhiều càng tốt các hội nghị đông người nhằm tranh luận về mọi vấn đề quan trọng” Trong một bối cảnh như thế, các ý tưởng tự do của phương Tây được
phổ biến nhanh chóng trong công chúng Nhật bản Ngay từ những năm đầu của thời Minh Trị người ta đã biết đến các tác phẩm có xu hướng tự do của Anh và Pháp, như của J.S Mill, J Bentham, Montesquieu, Tocqueville và ngay cả của Rousseau11 Nhà
sử học người Anh Richard Storry, tác giả của cuốn “Lịch sử Nhật bản hiện đại” mô tả:
“Trong vào hai thập kỷ đầu của thời Minh Trị, Nhật bản đắm chìm trong men nồng
với tư tưởng phương Tây”12 G Bousquet tường thuật “chúng ta ngạc nhiên tìm thấy
bình luận về Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền dưới ngòi bút của những học trò Khổng tử, những người bổng chốc là tín đồ cuồng nhiệt của Rousseau”13 Có thể nói rằng triết học Anh và Pháp trở thành mốt vào thời kỳ này Bởi thế, một lẽ tự nhiên là người ta đón nhận các tư tưởng pháp lý của hai quốc gia này, và bên cạnh luật pháp Anh Quốc thì luật pháp của Pháp có một ảnh hưởng rất lớn lên pháp luật Nhật bản, thậm chí ảnh hưởng của hệ thống Pháp có phần nổi trội hơn
Cảm hứng từ tư tưởng tự do đến từ phương Tây, vào khoảng năm 1880 nổi lên
phong trào chính trị tự nhận là tự do, trong tiếng Nhật là Jiyû-min-ken-undô- phong
trào tự do vì quyền con người Phong trào này nhận được sự ủng hộ của một lượng lớn công chúng và đưa tới việc chính phủ chấp nhận thiết lập nên Viện dân biểu (Hạ viện) Tuy nhiên phong trào này chỉ tự do trong chừng mực hạn chế, vì phần lớn
những người ủng hộ phong trào này là các cựu võ sĩ (bushi) không hài lòng vì bị đứng
bên lề quyền lực chính trị Chính phủ tận dụng tình trạng này để thoát khỏi những khó khăn do phong trào tự do này gây ra: Một mặt chính phủ đàn áp phong trào và mặt khác mua chuộc các thủ lĩnh của phong trào Đàn áp diễn vô cùng khắc nghiệt và lâu dài Khi chính phủ bắt đầu cảm thấy khá vững mạnh để lộ rõ rõ ý đồ thực, một bản hiến pháp đã được soạn thảo trong vòng bí mật theo mô hình của nước Phổ, nhằm
11 Từ 1871 đến 1877, người ta thấy sự ra đời của các bản dịch bốn cuốn sách của J.S Mill: Essay on Liberty, Representatire Government, Political Economy et Utilitarism Vào năm 1873, một tác phẩm của J Bentham, Theory of Legislation, được dịch sang tiếng Nhật Bản dịch toàn văn “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu được xuất bản vào năm 1875 Rousseau được biết đến rất nhiều trong những người ủng hộ Jiyu-minken (phong trào tự do đòi nhân quyền) và “Khế ước xã hội” được dịch muộn hơn vào năm 1882.
12 Richard Storry, A History of Modern Japan, Harmondsworth, Middlesex, nxb Penguin, 1960, tr 102 (287 tr.)
13
Georges Bousquet (1877), Le Japon de nos jours et les échelles de l’Extrême-Orient, nxb Hachette, tập II,
tr 282.
Trang 8chuẩn bị cho việc thiết lập Hạ viện mà chính phủ đã hứa với những người ủng hộ tự
do Ý tưởng của chính quyền là hiến pháp phải là một đặc ân do Hoàng đế ban cấp cho thần dân của mình Chính vì lý do này mà đặc trưng chuyên chế của Đế quốc Phổ lôi cuốn những người đứng đầu nước Nhật hơn là ý tưởng tự do bình đẳng của nền cộng hòa Pháp Gần như vào đúng thời điểm này chính sách của chính phủ từng bước
lộ rõ xu hướng chuyên chế Xu hướng này không thể không tác động lên bình diện pháp lý Sự suy yếu của ảnh hưởng của hệ thống luật mô hình Pháp chỉ là một yếu tố phụ trong bối cảnh đó Không phải ngẫu nhiên mà luật pháp nước Đức bắt đầu chiếm lấy vị trị nổi trội từ hệ thống luật kiểu Pháp trong pháp luật Nhật bản Đặt vào bối cảnh này, nguyên nhân của việc loại bỏ bộ luật do Boissonade soạn thảo sẽ dễ hiểu hơn Một điều thú vị là năm nổ ra các cuộc tấn công đầu tiên chống lại bộ luật Boissonade trùng hợp với năm ban bố hiến pháp chuyên chế
Sau khi đình hoãn bộ luật Boissonade, Một hội đồng pháp điển hóa được thiết lập vào năm 1893, và trong khuôn khổ của hội đồng này một ủy ban soạn thảo bộ luật dân sự đã được lập Ủy ban này gồm ba thành viên: Nobushige Hozumi, Masaakira Tomii và Kenjirô Ume, đều là giáo sư luật tại Đại học Đế quốc Tokyo Cần nhắc lại rằng hai giáo sư Masaakira Tomii và Kenjirô Ume đều từng theo học luật tại Khoa luật trường đại học Lyon của Pháp và có bằng tiến sĩ luật từ trường này Về mặt chính thức, ủy ban này chịu trách nhiệm sửa đổi bộ luật Boissonade, nhưng thực tế có nhiệm
vụ soạn thảo một bộ luật mới Ba ủy viên thực hiện nhiệm vụ của mình bằng cách phân chia công việc Bộ dân luật tương lai được chia ra làm nhiều lĩnh vực và mỗi người phụ trách lĩnh vực mà họ cảm thấy có năng lực nhất Các giáo sư luật này tham khảo rất nhiều pháp luật nước ngoài, đặc biệt là hai dự thảo của bộ dân luật Đức BGB
Ủy ban soạn thảo quyết định từ bỏ đề án dựa trên bộ luật dân sự Pháp do Boissonade soạn thảo trước đó và thay thế nó bằng khuôn mẫu của bộ dân luật BGB, bộ luật mới
sẽ gồm năm quyển Ba quyển đầu tiên gồm: phần các quy định chung, quyền về vật và nghĩa vụ, hoàn thành vào năm 1895 và được Nghị viện thông qua và công bố một năm sau đó Phần còn lại gồm hai quyển về hôn nhân gia đình và thứa kế được soạn thảo một cách chậm rãi và thận trọng, bởi vì các nhà soạn luật đã tìm cách tránh các chê trách, chỉ trích cho rằng họ không đánh giá đúng mức các đặc trưng truyền thống văn hóa Nhật Hai quyển này được hoàn thành vào năm 1898 và trình lên Nghị viện cùng năm Toàn thể bộ luật mới có hiệu lức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 năm 1898
Bộ dân luật được soạn thảo mới liệu có khác biệt hoàn toàn với bộ luật do Boissonade chủ trì trước đó? Những người ủng hộ việc đình chỉ thi hành bộ luật Boissonade dĩ nhiên là muốn tin vào một sự khác biệt sâu sắc Thực tế nếu chỉ nhìn vào hình thức của bộ luật được thông qua thì bất cứ ai cũng có thể tin là có sự khác biệt lớn: Cách thức trình bày hoàn toàn theo kiểu luật Đức Nhưng về nội dung thì không hoàn toàn như vậy Dĩ nhiên ba nhà soạn luật đã vay mượn khá nhiều giải pháp của dự thảo bộ dân luật BGB của Đức, nhưng thực ra đúng là họ đã giữ lại nhiều quy phạm do Boissonade soạn ra trước đó Hơn nữa, đôi khi các nhà soạn luật lại đề xuất những giải pháp khác với cả hai bộ luật Đức và Pháp Vậy nên có thể nói bộ luật được thông qua năm 1898 là một công trình mang tính chiết trung Chúng ta có thể lấy ví dụ các điều khoản liên quan đến bồi thường thiệt hại do không thực hiện nghĩa vụ (từ điều 415 đến 422):
Trang 9Trong số 8 điều luật này, có 6 điều được chỉnh sửa từ các điều có sẵn trong bộ luật Boissonade Người ta soạn thảo các điều này dựa trên bộ luật của giáo sư người Pháp soạn và đồng thời tham khảo các bộ luật Châu Âu khác như luật của Đức, Thụy
Sĩ, Áo và Hà Lan Điều thú vị là các nhà soạn luật người Nhật trong một số trường hợp còn trung thành với bộ luật dân sự Napoléon 1804 hơn cả chính Boissonade: Điều
420 quy định điều khoản hình phạt không cho phép tòa án tăng hay giảm số tiền đã thỏa thuận giữ hai bên Đây chính là nội dung của điều 1152 của Bộ luật Napoléon Trong khi Boissonade đã đưa ra giải pháp tòa án có thể giảm số tiền phạt này, khác với quy định của bộ luật Napoleon Đó chỉ là một minh họa nhỏ cho thấy bộ luật dân
sự Nhật bản 1898 không chỉ đơn thuần là sự sao chụp máy móc bộ dân luật Đức BGB Xem xét xu hướng riêng của các nhà soạn thảo: Hozumi là người được đào tạo về luật Anh, nhưng cũng đồng thời nghiên cứu tại Đại học Tổng hợp Berlin Ume và Tomii được đào tạo về luật tại Pháp như chúng ta đã biết Ume là đại diện cho trường phái luật của Pháp ở Nhật, dù ông cũng từng học tại Berlin Tomii đánh giá bộ dân luật của Đức hoàn thiện hơn bộ dân luật của Pháp cho dù ông chưa từng học tập tại Đức Vì thế, không phải ngẫu nhiên Ume dẫn đầu những người ủng hộ nhiệt thành cho việc áp dụng ngay bộ luật Boissonade Nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày ra đời bộ luật dân sự Pháp 1804 được tổ chức ngày 21 tháng 04 năm 1904 tại Đại học Đế quốc Tokyo, GS Ume nhấn mạnh sự ảnh hưởng của luật pháp nước Pháp đối vói bộ dân luật Nhật bản
như sau: “Được mời tới Nhật, Boissonade ban đầu hoàn thành việc soạn thảo bộ luật
hình sự và điều tra hình sự Tiếp theo ông lập tức bắt tay xây dựng bộ luật dân sự Bộ luật này được hoàn thành và công bố vào năm 1890 Tuy hình thức có phần khác với
bộ luật dân sự của Pháp, nhưng về mặt nội dung nó hoàn toàn dựa trên bộ luật của Pháp Bộ luật này đáng lẽ được áp dụng trên thực tế nhưng đã bị đình hoãn để sửa đổi Bộ luật mới được soạn thảo sau đó thay thế bộ luật Boissonade giống bộ dân luật Đức về mặt hình thức, và người ta đã nhầm khi tin rằng nó hoàn toàn dựa trên khuôn mẫu của bộ luật Đức Trên thực tế, nó không phải là một bản sao máy móc, mà bộ luật mới 1898 xem xét và tham khảo cả luật Đức, Pháp và luật của các nước khác chịu sự ảnh hưởng của luật dân sự Pháp”14
Bộ luật thương mại được soạn thảo cùng lúc với bộ luật dân sự, nhưng không do một người Pháp đảm nhiệm mà một người Đức được giao trọng trách này, luật gia Hermann Roesler bắt đầu soạn thảo bộ luật thương mại từ năm 1881, dù Roesler là người Đức nhưng ông lại dựa trên cơ sở bộ luật thương mại Pháp 1807 để soạn thảo
bộ luật của Nhật Bộ luật này được hoàn thành và được thông qua vào năm 1890, nhưng nó cùng chịu chung số phận với bộ dân luật Boissonade - bị Nghị viện đình chỉ thi hành ngay sau khi công bố Sau đó, Nghị viện thông qua vào năm 1899 một bộ luật thương mại khác, do các nhà soạn luật người Nhật soạn thảo dựa trên luật Đức
4 Kết luận
Chúng ta có thể thấy được những nỗ lực lớn lao của Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 nhằm hiện đại hệ thống pháp luật theo mô hình các nước tiên tiến Thực chất đó là quá trình phương tây hóa hệ thống pháp luật Nhật bản thông qua việc tiếp nhận và sao chép có bổ sung các bộ luật phương Tây, đặc biệt là các bộ luật của Đức và Pháp
14Yosiyuki Noda, La réception du droit français au Japon, trong Revue internationale de droit comparé, Vol 15
N 3, Juillet-septembre 1963, tr 552.
Trang 10Cĩ thể khẳng định rằng những hạt giống đầu tiên của hệ thống pháp luật Nhật bản thời hiện đại cĩ hình bĩng của pháp luật Tây Âu, trong đĩ pháp luật của nước Pháp giữ một vị trí quan trọng Nĩi như GS Luật trường Đại học Tokyo Yosiyuki
Noda : “Mỗi khi người Nhật nghĩ đến luật pháp, họ khơng quên ngước cái nhìn biết
ơn đối với luật pháp của nước Pháp vì đã nuơi dưỡng cái nơi của luật pháp Nhật bản hiện đại”15
Tài liệu tham khảo
1 Margaret Barber Crosby (2008), The Making of a German Constitution: A
Slow Revolution, nxb Bloomsbury.
2 Marius B Jansen, John Whitney Hall (1989), The Cambridge History of Japan,
Volume 5, nxb Cambridge University Press
3 Eiichi Hoshino, L’héritage de G Boissonade dans le code civil et dans la
doctrine du droit civil au Japon, trong Revue international de droit comparé, vol 43
N2, Avril-juin 1991, tr 407-422
4 Masakazu Iwata (1964), Ōkubo Toshimichi: The Bismarck of Japan, nxb.
University of California Press
5 Masao Ishimito, L’influence du Code civil francais sur le droit japonais, trong
Revue international de droit comparé, Vol 6 N 4, Octobre-décembre 1954, tr 744-752
6 Zentaro Kitagawa (1970), Rezeption und Fortbildung des europạschen
Zivilrechts in Japan, trong Arbeiten zur Rechtsvergeleichung, tập 40.
7 Yosiyuki Noda, La réception du droit français au Japon, trong Revue
internationale de droit comparé, Vol 15 N 3, Juillet-septembre 1963, tr 542-556.
8 Richard Storry (1960), A History of Modern Japan, Harmondsworth,
Middlesex, nxb Penguin
15 Yosiyuki Noda, La réception du droit français au Japon, như trên, tr 556.