(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ HẰNG
XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SINH THÁI NHÂN VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ HẰNG
XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SINH THÁI NHÂN VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH CAO BẰNG Ngành: Lý luận & Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã số: 8 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin xam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh Các tài liệu trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019
Tác giả
Nông Thị Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ vô cùng quý báu của các tập thể và cá nhân
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa học
PGS TS Nguyễn Phúc Chỉnh, người đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong
quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn tập thể bộ môn Sinh học hiện đại & Giáo dục Sinh học, Khoa Sinh học, Phòng Đào tạo - Trường ĐHSP Thái Nguyên, trung tâm GDNN - GDTX huyện Trà Lĩnh đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Thái nguyên, tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Nông Thị Hằng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nhiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đối tượng và khách thể 5
6 Giả thiết khoa học 5
7 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Tổng quan những nghiên cứu về sinh thái nhân văn 5
1.1.1 Tổng quan những nghiên cứu về sinh thái nhân văn trên thế giới 5
1.1.2 Tổng quan những nghiên cứu về sinh thái nhân văn ở Việt Nam 7
1.2 Cơ sở đề xuất của chuyên đề sinh thái nhân văn 10
1.2.1 Chương trình môn sinh học trong chương trình THPT 10
1.2.2 Vị trí và chức năng chuyên đề sinh thái nhân văn 12
1.3 Khái niệm sinh thái nhân văn 12
1.4 Sinh thái nhân văn tại địa phương 15
1.5 Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án 16
1.6 Cơ sở thực tiễn của chuyên đề sinh thái nhân văn 18
Kết luận Chương 1 19
Chương 2: XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SINH THÁI NHÂN VĂN Ở TRƯỜNG THPT TỈNH CAO BẰNG 20
Trang 62.1 Xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng 20
2.1.1 Mục đích xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng 20
2.1.2 Các bước thực hiện xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng 20
2.1.3 Cấu trúc tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng 21
2.2 Thiết kế và tổ chức dạy học dự án chuyên đề sinh thái nhân văn 22
2.2.1 Mạch kiến thức của chuyên đề STNV 22
2.2.2 Mục tiêu của chuyên đề STNV 23
2.2.3 Sử dụng phương pháp dạy học theo dự án để tổ chức dạy chuyên đề STNV 24
2.2.4 Vận dụng dạy học dự án trong dạy học chuyên đề Sinh thái nhân văn 28
2.2.5 Đánh giá kết quả học tập của học sinh 48
2.2.6 Xây dựng công cụ đánh giá sản phẩm của học sinh 56
Kết luận Chương 2 60
Chương 3: KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ 61
3.1 Mục đích kiểm nghiệm 61
3.2 Tổ chức kiểm nghiệm 61
3.3 Kết quả kiểm nghiệm 63
3.3.1 Sản phẩm của dự án 63
3.3.2 Phiếu điều tra sau học tập 64
3.4 Đánh giá thực nghiệm 67
3.4.1 Đánh giá kết quả học tập của học sinh 67
3.4.2 Phân tích các sản phẩm của học sinh 67
Kết luận Chương 3 68
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Bảng 2.1 Phiếu điều tra nhận thức và hiểu biết của học sinh sau khi
kết thúc dự án 1 48
Bảng 2.2 Phiếu điều tra nhận thức và hiểu biết của học sinh 51
Bảng 2.3 Phiếu điều tra nhận thức và hiểu biết của học sinh sau khi kết thúc dự án 3 54
Bảng 2.4 Các nội dung đánh giá sản phẩm học sinh 57
Bảng 2.5 Các tiêu chí đánh giá sản phẩm học sinh 57
Bảng 3.1 Kết quả thực hiện dự án của các nhóm 63
Bảng 3.2 Kết quả điều tra sau học tập chuyên đề sinh thái nhân văn - Phần Sinh thái học -Sinh học 12 64
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc hệ sinh thái nhân văn theo Gerald G Marten, 2001 13
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông
Ngày 04-11-2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
ra Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, trong đó nêu chín
giải pháp đổi mới chương trình và sách giáo khoa trung học phổ thông [17] Ngày 9-6-2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết Số 44/NQ-CP về việc
“Ban hành chương trình hành động của chính phủ thực hiện nghị quyết số NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 hội nghị lần thứ tám ban chấp hành trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Nghị quyết xác định các nhiệm
29-vụ, giải pháp chủ yếu trong đó có 2 nhiệm vụ quan trọng đó là: “Hoàn thiện hệ
thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo và giữa các hình thức giáo dục, đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời và hội nhập quốc tế” và “Triển khai đổi mới chương trình giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực; phát triển năng lực và phẩm chất người học; chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống; nâng cao năng lực ngoại ngữ, tin học; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khả năng sáng tạo và ý thức tự học” [4]
Ngày 28-11-2014, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 Về
việc “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông” với một số nội dung đổi mới như sau: “Giáo dục phổ thông 12 năm, gồm hai giai đoạn
giáo dục: giai đoạn giáo dục cơ bản (gồm cấp tiểu học 5 năm và cấp trung học
cơ sở 4 năm) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp trung học
Trang 10phổ thông 3 năm) Giáo dục cơ bản bảo đảm trang bị cho học sinh trí thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở Giáo dục định hướng nghề nghiệp bảo đảm học sinh tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng”; “Đổi mới nội dung giáo dục phổ thông theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình
độ và định hướng nghề nghiệp; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên Ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở thực hiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số lĩnh vực giáo dục, một số môn học trong chương trình hiện hành để tạo thành môn học tích hợp; thực hiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung giáo dục, giảm hợp lý số môn học Ở cấp trung học phổ thông yêu cầu học sinh học một số môn học bắt buộc, đồng thời được tự chọn các môn học và chuyên đề học tập theo hình thức tích lũy tín chỉ”[18]
Đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình và phương pháp dạy học theo hướng hội nhập quốc tế Nội dung chương trình và SGK cần được tổ chức xây dựng và triển khai theo hướng mở Ngoài mạch nội dung kiến thức chính được
Bộ giáo dục thống nhất ban hành, mỗi địa phương đều được xây dựng các chủ
đề dạy học phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn [2]
1.2 Xuất phát từ đặc điểm dạy học sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng
Theo chương trình giáo dục phổ thông môn sinh học, ở cấp trung học phổ thông ngoài phần kiến thức cơ bản có 09 chuyên đề, trong đó có chuyên đề sinh thái nhân văn Chuyên đề này chủ yếu vận dụng kiến thức từ nhiều lĩnh vực như: phát triển kinh tế - xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, bảo vệ môi trường,… giúp học sinh hiểu được khái niệm sinh thái nhân văn và giá trị của sinh thái nhân văn trong sự phát triển kinh tế xã hội [1]
Chuyên đề STNV có phần liên hệ với thực tiễn địa phương Vì vậy, cần xây dựng chuyên đề và đề xuất cách dạy phù hợp với từng địa phương
Trang 11Cao Bằng là một tỉnh miền núi điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị hạn chế, học sinh trên địa bàn trên 95% là con em dân tộc thiểu số nên việc tổ chức tiếp cận tìm hiều công nghệ sinh học sẽ gặp nhiều khó khăn Để giúp học sinh địa phương có cơ hội được học tập, lĩnh hội một cách hiệu quả nhất theo nội dung chương trình giáo dục mới cần khơi gợi sự hứng thú và ham học hỏi của học sinh Do đó, cần tìm ra các phương pháp dạy học phù hợp và nội dung phù hợp với đối tượng người học
Vì vậy, việc xây dựng chương trình địa phương cụ thể để áp dụng đối với từng đối tượng và từng địa phương hết sức cần thiết Từ chương trình của từng địa phương cụ thể sẽ có những phương pháp dạy học phù hợp gắn với thực tiễn cho từng đối tượng, từng vùng miền giúp học sinh hình thành, khắc sâu kiến thức một cách chủ động và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, phát triển năng lực toàn diện
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng”
2 Mục đích nhiên cứu
Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề STNV ở trường THPT tỉnh Cao Bằng góp phần thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích chương trình môn sinh học trong chương trình giáo dục phổ thông mới để xác định vị trí và chức năng của chuyên đề Sinh thái nhân văn
- Xây dựng chuyên đề sinh thái nhân văn thể hiện được các nội dung như: khái niệm sinh thái nhân văn, phân tích được giá trị của sinh thái nhân văn trong việc phát triển bền vững, phân tích được giá trị một số lĩnh vực sinh thái nhân văn như: Nông nghiệp, phát triển đô thị, phát triển du lịch, bảo tồn và phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu,…
Trang 12- Vận dụng dạy học theo dự án để dạy chuyên đề này ở một số trường THPT tỉnh Cao Bằng yêu cầu học sinh tìm hiểu và vận dụng kiến thức sinh thái nhân văn ở tỉnh Cao Bằng
- Kiểm nghiệm và đánh giá: Tiến hành kiểm nghiệm và đánh giá để thấy được tính khả thi của việc xây dựng nội dung chương trình trong tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở một số trường THPT tỉnh Cao Bằng
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu về các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và đào tạo về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông trọng tâm là chương trình đổi mới của bộ môn sinh học; Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến sinh thái nhân văn và phát triển bền vững
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng để nghiên cứ lịch sử vấn đề, Phát hiện và rút ra những kết luận cần thiết về cơ sở lí luận thông qua việc tìm hiểu tư liệu, giáo trình, sách, các bài nghiên cứu thuộc: Các lĩnh vực liên quan đến môi trường; Sinh thái nhân văn; …
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Được sử dụng để thu thập tư liệu thực tế
về những nội dung liên quan đến chuyên đề sinh thái nhân văn phù hợp và được giáo viên, học sinh hứng thú để đưa vào xây dựng và dạy học chuyên đề trong chương trình địa phương tại Cao Bằng
- Phương pháp thống kê: Thống kê, phân tích các số liệu trong quá trình điều tra, thâm nhập thực tế ở một số trường phổ thông bổ trợ cho phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đạt kết quả chính xác
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến từ các chuyên gia về những nội dung xây dựng tài liệu và các bước tổ chức dạy học cho chuyên đề
- Phương pháp quan sát sư phạm: Tham gia dự giờ một số tiết dạy học chuyên đề, ngoại khóa ở trường phổ thông để tìm hiểu nhu cầu hứng thú và thái độ của người dạy và người học đối với những nội dung trong chuyên đề tự chọn
Trang 13- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm đối với học sinh lớp 12 ở một số trường THPT thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài luận văn
5 Đối tượng và khách thể
- Đối tượng nghiên cứu: Chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường THPT của tỉnh Cao Bằng
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học sinh thái học lớp 12
6 Giả thiết khoa học
Nếu xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn một cách hợp lí sẽ góp phần nâng cao nhận thức và hiểu biết của học sinh về sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận nội dung luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Xây dựng và tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn ở trường THPT tỉnh Cao Bằng
Chương 3: Kiểm nghiệm và đánh giá
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan những nghiên cứu về sinh thái nhân văn
1.1.1 Tổng quan những nghiên cứu về sinh thái nhân văn trên thế giới
Sinh thái nhân văn được công nhận là khởi sinh vào năm 1921, khi nó được đề cập như một lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học, trong cuốn sách giáo khoa “Tổng quan về xã hội học” của nhóm tác giả tại Đại học Chicago, do Robert E Park là chủ biên Ra đời bởi một nhà xã hội học, mang cái tên gần gũi với sinh thái học, sinh thái nhân văn có một lịch sử phát triển thăng trầm phức tạp Để hiểu rõ khái niệm STNV, cần phải xem xét quá trình lịch sử phát triển của nó [27]
Khởi đầu, thuật ngữ “Sinh thái nhân văn” có nội dung hẹp, hàm nghĩa là ứng dụng các quy luật sinh thái vào nghiên cứu xã hội học đô thị Chicago, trong giai đoạn nó mở rộng và tiếp nhận lượng dân nhập cư đa dạng Sinh thái nhân văn được phát triển nhằm phục vụ việc nghiên cứu bản chất mối quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình tự tổ chức và cấu trúc hệ xã hội theo lý thuyết đồng hóa, nghĩa là mang tính xã hội học Trong sự phát triển sau đó của sinh thái nhân văn, Robert E Park, bận rộn với vai trò là một nhà xã hội học xuất chúng, đã không thể dành cho ngành khoa học này một sự quan tâm xứng tầm Trong xã hội học, sinh thái nhân văn chưa nhận được sự quan tâm đặc biệt của các học giả khác, nhất là khi nó hiện diện bên cạnh, hoặc thậm chí bị đồng nhất với những ngành khoa học đã có lịch sử và cơ sở lý thuyết đáng nể, như nhân chủng học, dân tộc học… Theo thời gian, STNV ngày càng tách xa khỏi
xã hội học, phạm vi nghiên cứu của nó được mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác có liên quan đến con người, như nhân chủng học, dân tộc học, sinh thái học người, kinh tế hộ và PTBV [13], [17], [21]
Theo Jean - Clauder Paseson, 1992, “Để xác định được vị trí của mỗi ngành khoa học về con người so với với các ngành khác, ít nhất việc phân loại
Trang 15ngành phải đi kèm với thỏa thuận về phân chia nhiệm vụ Nhưng đây cũng là một mục tiêu khó đạt, do cơ cấu nghiên cứu không ngừng thay đổi” Sự phát triển lý thuyết hệ thống và năng lượng đã thổi luồng gió mới vào khoa học sinh thái nhân văn, giúp nó định hình rõ nét hơn và thu hút được sự quan tâm hơn của nhiều nhà khoa học
Từ thập niên 1970, khoa học sinh thái nhân văn có sự vượt bậc bước sang thời kỳ phát triển mới Nó đã tập hợp được lực lượng trong nhiều trung tâm nghiên cứu độc lập, như Viện Sinh thái nhân văn ở California, Trung tâm Sinh thái nhân văn thuộc Đại học Edinburgh, các trường đại học, các tổ chức xã hội chuyên nghiệp ở châu Âu như Liên minh quốc tế của Ủy ban Khoa học nhân chủng học và dân tộc học về Sinh thái nhân văn… Nhiều hội sinh thái nhân văn được thành lập, như Ủy ban Sinh thái nhân văn khối cộng đồng chung Vương Quốc Anh có trụ sở tại Luân đôn, tổ chức Sinh thái nhân văn Quốc tế có trụ sở tại Viên Năm 1979, Hội sinh thái nhân văn (tên viết tắt là SHE) được thành lập
và nhanh chóng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành Gerald
L Young, sáng lập viên đồng thời là chủ tịch thứ tư của hội, trở thành nhân vật
có ảnh hưởng tích cực, đóng góp đáng kể vào việc phát triển sinh thái nhân văn thành lĩnh vực đa ngành, tạo ra ý nghĩa mới cho tên gọi sinh thái nhân văn Hội
đã giúp phát triển việc đào tạo ngành khoa học này tại nhiều trường đại học như: Đại học Tự do Brussels, đại học California, đại học Washington, đại học Michigan, đại học Colorado tại Boulder…
Trước đây, trong các nghiên cứu sinh thái học con người thường chỉ đứng ngoài như một siêu yếu tố để quan sát và nhận định các quá trình tự nhiên Ngày nay, có thể nói không có một hệ sinh thái nào trên bề mặt trái đất lại không có sự tác động của con người Cũng vì thế mà năm 1971, Tổ chức Khoa học, Văn hoá và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đề xướng và thành lập chương trình “Con người và Sinh quyển - (MAB)” Mục tiêu rộng lớn của chương trình này là phát triển trên cơ sở kết hợp giữa khoa học tự nhiên và
Trang 16khoa học xã hội trong việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên sinh quyển để cải thiện mối quan hệ toàn cầu giữa con người và thiên nhiên, cảnh báo hậu quả các hoạt động của con người ngày nay lên thế giới ngày mai và bằng cách đó tăng cường khả năng của con người để bảo vệ một cách hiệu quả hơn tài nguyên Sinh quyển
STNV phát triển thành một ngành khoa học đa ngành, thực hiện nghiên cứu trên cơ sở kết hợp sức mạnh của nhiều ngành theo một cách đặc biệt, tổng hợp và chồng chéo kiến thức để tạo ra một cách tiếp cận toàn diện, nhằm vào các vấn đề vượt ra ngoài ranh giới của các ngành Theo từ điển môi trường,
"Sinh thái nhân văn là hệ thống các nguyên tắc đạo đức, triết lý thống trị của con người đối với trái đất và sinh vật, nơi sự thống nhất của con người và Môi trường là cần thiết cho phúc lợi xã hội Sinh thái nhân văn dựa trên một sự tiến hóa tiếp cận trong môi trường và thích ứng văn hóa và tiến hóa của con người Sinh thái nhân văn nghiên cứu sự mất cân bằng các mối quan hệ giữa con người và môi trường, liên quan đến bệnh tật, cung cấp thực phẩm, dân số sinh thái, ô nhiễm môi trường, phân phối không đồng đều và sử dụng các nguồn lực
vô lý " Cách tiếp cận sinh thái nhân văn là ứng dụng khoa học sinh thái nhân văn để nghiên cứu một cách có hệ thống hệ sinh thái của con người, hướng tới các điều kiện cân bằng, ổn định của toàn hệ thống
1.1.2 Tổng quan những nghiên cứu về sinh thái nhân văn ở Việt Nam
Khoa học STNV đến Việt Nam khá muộn, vào giai đoạn thứ hai của lịch
sử ngành Năm 1990, Lê Trọng Cúc đã lần đầu tiên công bố một công trình nghiên cứu sinh thái nhân văn Tiếp theo đó, độc lập hoặc đồng tác giả với nhiều nhà nghiên cứu khác, trong đó có A Terry Rambo, Lê Trọng Cúc đã có hàng loạt các công bố chính thức khác về sinh thái nhân văn [6], [7], [8], [9],[22],[23] Tiếp cận sinh thái nhân văn học đã trở nên đặc biệt hữu dụng cho các công trình nghiên cứu của giáo sư và các cộng sự về trung du và miền núi
Trang 17Định nghĩa về STNV của Lê Trọng Cúc hiện được trích dẫn nhiều nhất ở Việt Nam Theo ông, sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa con người và môi trường ở mức độ hệ thống, đúng hơn là nghiên cứu mối quan hệ giữa xã hội loài người (hệ xã hội) và môi trường thiên nhiên (hệ sinh thái - hệ tự nhiên) Việc nhấn mạnh “Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa con người và môi trường ở mức độ hệ thống” là một điểm quan trọng trong định nghĩa này Mục đích của nghiên cứu sinh thái nhân văn là nhằm tìm hiểu, nhận biết đặc điểm và mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống này với nhau và sự hình thành những đặc trưng trong hệ thống xã hội và hệ sinh thái Sinh thái nhân văn nghiên cứu ba vấn đề là:
1- Các dòng năng lượng, vật chất, thông tin chuyển từ hệ sinh thái đến hệ
xã hội và từ hệ xã hội đến hệ sinh thái là gì?
2- Hoạt động của con người gây nên tác động gì đối với hệ sinh thái? 3- Hệ xã hội thích nghi và phản ứng trước thay đổi của hệ sinh thái như thế nào?
STNV ở Việt Nam được thực hành thành công nhất trong nghiên cứu những hệ thống quy mô nhỏ, nơi nó thực sự đã thể hiện được thế mạnh ưu việt Các kết quả nghiên cứu sinh thái nhân văn được đánh giá cao đều gắn liền với vùng nghiên cứu ở miền núi hoặc nông thôn nông nghiệp [8], [9], [11]
Khi yêu cầu phát triển bền vững đang ngày càng lớn, STNV là một cách tiếp cận có khả năng mang lại những điều chỉnh và vận dụng hiệu quả, phù hợp hơn với bối cảnh hiện tại Là môn khoa học nghiên cứu quan hệ giữa con người với môi trường thiên nhiên ở mức độ hệ thống, nghiên cứu STNV đã được ứng dụng tại Việt Nam trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu hệ thống tự nhiên, môi trường và xã hội STNV nêu lên những giá trị đạo đức, nghĩa vụ tôn trọng thiên nhiên, quan tâm đến chia sẻ công bằng lợi ích và chi phí trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường giữa các cộng đồng, giữa người giàu
Trang 18và người nghèo, giữa thế hệ chúng ta và thế hệ mai sau, nhằm đảm bảo các mục tiêu phát triển bền vững
Sinh thái nhân văn học được Giáo sư Tiến sĩ Lê Trọng Cúc, Đại học Quốc gia Hà Nội đưa vào giảng dạy và nghiên cứu ở Việt Nam từ những năm 1980 Bắt đầu từ đây, sinh thái nhân văn bắt đầu “bén rễ” vào các công trình khoa học
cơ bản và ứng dụng, cũng như “kết trái” thành các bài giảng trong những khóa học ngắn hạn 3 tháng, 6 tháng tại Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường Sau đó trở thành môn học chính thức trong chương trình đào tạo cử nhân mã ngành “Khoa học môi trường”, thạc sĩ ngành “môi trường phát triển bền vững” tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Khởi đầu của sinh thái nhân văn học là giai đoạn thực hiện Chương trình cấp nhà nước 5202 “Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” từ năm 1981-1990 Đây là chương trình đã tập hợp được các chuyên gia hàng đầu, mở ra mối quan tâm tập trung vào nghiên cứu đánh giá sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Đặc biệt là ở các khu vực miền núi, trung du, rừng ngập mặn cửa sông cửa biển và các vấn đề môi trường bức xúc
Từ năm 1989, hợp tác quốc tế trong nghiên cứu sinh thái nhân văn được thúc đẩy mở rộng, với Hội thảo “Nghiên cứu sinh thái nhân văn miền núi” lần đầu tiên được tổ chức có sự tham gia của các chuyên gia Hoa Kỳ, Philippin, Thái Lan từ Trung tâm Đông Tây, mạng lưới hệ sinh thái nông nghiệp các trường đại học tổng hợp Đông Nam Á [20]
Ngày 13/01/2017 tại Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, tổ chức Tropenbos và Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) đồng tổ chức Hội thảo Khoa học: Sinh thái nhân văn và Phát triển bền vững - Một số vấn đề
từ lý luận và thực tiễn Hội thảo được coi là sự kiện khoa học đầu tiên về STNV tại Việt nam, giúp tổng quan về nghiên cứu STNV, tiềm năng áp dụng cách tiếp cận sinh thái nhân văn trong các hoạt động, dự án hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, đồng thời mở ra ý tưởng thành lập mạng lưới STNV tại Việt Nam
Trang 19Các chuyên gia và các nhà khoa học đều cho rằng, STNV ở Việt Nam đã được ứng dụng rộng rãi, trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu về hệ thống tự nhiên, môi trường và xã hội Đặc biệt đối với hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái nhân văn ở vùng đồng bằng, trung du, miền núi Trong thời gian tới, cần đẩy mạnh thêm hướng nghiên cứu liên quan tới hệ sinh thái nhân văn đô thị, hệ sinh thái nhân văn công nghiệp và các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu và nước biển dâng, để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững
Ngoài ra, cũng đã có rất nhiều tài liệu, luận văn của nhiều tác giả cũng nghiên cứu về chủ đề STNV nhưng chưa được xây dựng để dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông Do đó việc nghiên cứu lí luận và xây dựng một chương trình cụ thể cho chuyên đề sinh thái nhân văn là hết sức cần thiết nhằm có một chương trình phù hợp với đối tượng người học để học sinh dễ dàng tiếp thu lĩnh hội kiến thức và vận dụng được nó trong đời sống xã hội
1.2 Cơ sở đề xuất của chuyên đề sinh thái nhân văn
1.2.1 Chương trình môn sinh học trong chương trình THPT
Chương trình giáo dục phổ thông mới được soạn thảo gồm 27 môn học trong đó, tất cả các môn đều có sự đổi mới về nội dung, cấu trúc,… so với chương trình hiện hành
Trong chương trình giáo dục phổ thông môn sinh học mới được ban hành theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo Sinh học là môn học được lựa chọn trong nhóm môn khoa học
tự nhiên ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp
Môn Sinh học giúp HS hình thành, phát triển năng lực sinh học, trong quá trình học có sự kết hợp cùng các môn học, hoạt động giáo dục khác giúp học sinh hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung
Chương trình môn Sinh học vừa hệ thống hoá, củng cố kiến thức, phát triển
kĩ năng và giá trị cốt lõi của sinh học đã được học ở giai đoạn giáo dục cơ bản, vừa giúp học sinh tìm hiểu sâu hơn các tri thức sinh học cốt lõi, các phương pháp
Trang 20nghiên cứu và ứng dụng sinh học, các nguyên lí và quy trình công nghệ sinh học thông qua các chủ đề: sinh học tế bào; sinh học phân tử; sinh học vi sinh vật; sinh lí thực vật; sinh lí động vật; di truyền học; tiến hoá và sinh thái học
Nội dung giáo dục cốt lõi của môn Sinh học bao quát các cấp độ tổ chức sống, gồm: phân tử, tế bào, cơ thể, quần thể, quần xã - hệ sinh thái, sinh quyển Kiến thức về mỗi cấp độ tổ chức sống bao gồm: cấu trúc, chức năng; mối quan
hệ giữa cấu trúc, chức năng và môi trường sống Từ kiến thức về các cấp độ tổ chức sống, chương trình môn học khái quát thành các đặc tính chung của thế giới sống như: trao đổi chất và chuyển hoá năng lượng, sinh trưởng và phát triển, sinh sản, cảm ứng, di truyền, biến dị và tiến hoá Thông qua các chủ đề nội dung, chương trình môn học trình bày các thành tựu công nghệ sinh học trong chăn nuôi, trồng trọt, xử lí ô nhiễm môi trường, nông nghiệp và thực phẩm sạch; trong y - dược học
Bên cạnh nội dung giáo dục cốt lõi, trong mỗi năm học, những HS có thiên hướng hoặc hứng thú với sinh học và công nghệ sinh học được chọn học một số chuyên đề học tập Hệ thống các chuyên đề học tập môn Sinh học chủ yếu được phát triển từ nội dung các chủ đề sinh học ứng với chương trình mỗi lớp 10, 11, 12 Các chuyên đề nhằm mở rộng, nâng cao kiến thức, rèn luyện kĩ năng thực hành, tìm hiểu ngành nghề để trực tiếp định hướng, làm cơ sở cho các quy trình kĩ thuật, công nghệ thuộc các ngành nghề liên quan đến sinh học Nội dung các chuyên đề hướng đến các lĩnh vực của nền công nghiệp 4.0 như: công nghệ sinh học trong nông nghiệp, y - dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, Các lĩnh vực công nghệ này ứng dụng theo cách tích hợp các thành tựu không chỉ của sinh học mà còn của các khoa học liên ngành (giải trình tự gene, bản đồ gene, liệu pháp gene, ), trong đó công nghệ thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng
Môn Sinh học hình thành, phát triển ở học sinh năng lực HS; đồng thời góp phần cùng các môn học, hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở
Trang 21học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, đặc biệt là tình yêu thiên nhiên, niềm tự hào về thiên nhiên của quê hương, đất nước; thái độ tôn trọng các quy luật của thiên nhiên, trân trọng, giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững; rèn luyện cho học sinh thế giới quan khoa học, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, tình yêu lao động, các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo [1], [2]
1.2.2 Vị trí và chức năng chuyên đề sinh thái nhân văn
Chuyên đề Sinh thái nhân văn là 1 trong 9 chuyên đề tự chọn trong chương trình sinh học THPT Chuyên đề nằm trong chương trình tự chọn sinh học lớp 12
Nghiên cứu chuyên đề sinh thái nhân văn HS phân tích được khái niệm sinh thái nhân văn, giá trị sinh thái nhân văn đối với sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội, môi trường Từ những hiểu biết đó, HS nhận thức được STNV trong xã hội hiện đại là một lĩnh vực khoa học, văn hoá, đạo đức xã hội; phát triển các phẩm chất như yêu thiên nhiên, trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên, tôn trọng các quy định của pháp luật và các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường Chuyên đề thể hiện cách tiếp cận tích hợp các lĩnh vực tri thức khác nhau trong giáo dục sinh học [1]
1.3 Khái niệm sinh thái nhân văn
Khái niệm hệ STNV hiện vẫn được diễn giải theo nhiều quan điểm khác nhau, trừ một điểm chung thống nhất rằng STNV là khoa học nghiên cứu một kiểu hệ thống đặc biệt, đó là hệ sinh thái nhân văn, một hệ thống được cấu tạo
từ các hệ xã hội và hệ sinh thái (xem hình 1.1) có liên hệ hữu cơ với nhau Hệ sinh thái là đối tượng nghiên cứu chính của sinh học và hệ xã hội là đối tượng nghiên cứu chính của các khoa học xã hội
Trang 22
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc hệ sinh thái nhân văn theo Gerald G Marten, 2001
Trong hệ STNV, quá trình tự tổ chức “lắp ráp” giữa hệ sinh thái và hệ xã hội có nguyên lý tương đồng với quá trình tiến hoá sinh học Nghĩa là hai hệ sẽ tương tác với nhau và cùng biến đổi thích nghi với nhau, trong đó mỗi hệ tự điều chỉnh mình để ăn khớp với hệ còn lại khi nhận được các tín hiệu trao đổi
mà hệ đối lập gửi đến, đồng thời cũng gửi đi những “thông điệp” mới có mục tiêu điều khiển hệ đối lập, định hướng nó thay đổi để phù hợp hơn với mình [5], [8], [9]
Đồng tiến hoá thích nghi giữa hai hệ sinh thái và xã hội là kết quả của quá trình điều chỉnh lẫn nhau không bao giờ kết thúc Đồng thích nghi (ăn khớp với nhau) là hệ quả của đồng tiến hoá (thay đổi cùng nhau) Hệ sinh thái và hệ nhân văn sẽ cùng tồn tại bền vững khi hai hệ đồng thích nghi với nhau Những thay
Trang 23đổi đột ngột trong hệ thống xã hội hoặc sinh thái có thể dẫn đến phá vỡ tính đồng thích nghi, hình thành chuỗi các tác động làm giảm khả năng của hệ sinh thái cung cấp các dịch vụ thiết yếu Tính đồng thích nghi của hệ xã hội với hệ sinh thái tự nhiên có thể sẽ mất đi khi con người di cư sang vùng đất mới, tiếp cận với các hệ sinh thái hoàn toàn khác biệt, mà những người di cư này không hiểu gì về chúng Tính đồng tính nghi có thể suy giảm sau những thay đổi hệ thống xã hội đột ngột, như áp dụng công nghệ mới [25]
Hệ xã hội truyền thống làm thế nào để có thể giới hạn tác động của toàn
hệ trong khuôn khổ khả năng đáp ứng của hệ sinh thái? Câu trả lời thường được nhận biết dễ dàng hơn trong những hệ thống nhỏ, nơi hệ xã hội thiết lập được thể chế tự quản cộng đồng Thể chế cộng đồng được hình thành và tồn tại theo nguyên tắc đồng thuận tự nguyện, dựa trên nền tảng của một loại tri thức cộng đồng đặc biệt, gọi là tri thức bản địa và có xuất phát điểm liên quan đến các lợi ích chung đặc biệt, được thực hiện nhờ những cơ chế phức tạp:
1- Dựa vào sự hiểu biết sâu sắc hệ sinh thái, kinh nghiệm lâu đời của cả cộng đồng, hoặc của những người có uy tín nhất trong cộng đồng và niềm tin vào sự đúng đắn của các tri thức đó, để xác lập cách khai thác, tác động tới tự nhiên sao cho không gây ảnh hưởng xấu đến chúng, cách phòng tránh, hạn chế tác động xấu của tai biến thiên nhiên, nhân sinh
2- Dựa trên nguyên tắc và niềm tin vào khả năng của cộng đồng trong kiểm soát nghiêm minh, trừng phạt khắc nghiệt và không bỏ sót Mức độ khốc liệt của sự trừng phạt có thể được gia tăng bằng cách thần bí hóa các tai biến thiên nhiên, siêu nhiên hóa các năng lực tự nhiên, hay uy lực của người có vị trí đặc biệt trong hệ thống
3- Dựa trên sự chia sẻ công bằng nguồn lợi thu được, thực hiện trên cơ sở nguyên tắc phổ thông đầu phiếu có sự tham gia của tất cả mọi người
4- Dựa trên chủ quyền thực của hệ xã hội với hệ tự nhiên, bao gồm quyền được hưởng toàn bộ lợi ích thu được, năng lực xác lập, bảo vệ được các quyền
Trang 24đó và sự tôn trọng, không can thiệp hay xâm phạm từ bên ngoài bởi các hệ thống xã hội khác [22], [24], [26]
1.4 Sinh thái nhân văn tại địa phương
Tri thức bản địa là những kinh nghiệm thực tiễn, mang bản sắc văn hóa truyền thống của các hệ sinh thái nhân văn đặc biệt, được hình thành và bảo tồn nhờ quá trình tương tác giữa hai hệ xã hội và sinh thái trong điều kiện bị cách
ly cao bởi các yếu tố không gian hoặc văn hóa đặc biệt Nó được khởi sinh, cải tiến, sàng lọc tại chỗ thông qua phép thử sai liên tục trong quá trình lâu dài cùng tương tác, thích nghi và cùng biến đổi tiến hóa giữa hai hệ thống Nói theo thuyết tiến hóa của Darwin, thì tri thức bản địa đã được thử thách qua áp lực chọn lọc của tự nhiên và có giá trị lớn trong việc ứng xử thân thiện với môi trường Nó bao gồm những thông tin quý giá về cấu trúc, động thái của hệ sinh thái nhân văn, có vai trò quan trọng trong sản xuất, phát triển kinh tế, quan hệ
xã hội
Tri thức địa phương là tri thức bản địa được sinh ra tại chỗ cộng với tri thức
du nhập đã được đồng hóa, là những giá trị tri thức có phân bố rộng hơn, có vai trò và giá trị ở quy mô lớn hơn Tri thức bản địa và địa phương đều có vai trò hữu ích trong điều khiển việc khai thác sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên thiên nhiên, nhất là các loại tài nguyên sở hữu chung của cộng đồng Bằng kinh nghiệm lâu đời, cộng đồng có khả năng xác định được giới hạn sức chứa và khả năng cung cấp tài nguyên, làm cơ sở cho sự khai thác lâu bền, cũng như có những cách độc đáo xác lập quyền sở hữu và ranh giới tài nguyên, phương thức khai thác tài nguyên và phân phối lợi ích thu được [21], [25], [27], [29]
Trong chuyên đề ngoài các nội dung chính cần đạt được chuyên đề còn đặt
ra yêu cầu “Điều tra tìm hiểu về một trong các lĩnh vực sinh thái nhân văn tại địa phương” Do đó mỗi địa phương cần xây dựng chương trình riêng cho chuyên đề sao cho phù hợp với đối tượng HS theo từng vùng miền để đạt thành công nhất
Trang 25Chương trình địa phương thử nghiệm đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu,
khám phá của HS đối với các chủ đề thực tế thiết thực của phần sinh thái học
Chương trình thử nghiệm sẽ trở thành tư liệu đọc ngoại khóa cho GV đang dạy và HS đang theo học chương trình Sinh học hiện hành của Bộ Giáo dục và đào tạo trong những năm tiếp theo
Trong thời gian tới, khi có chủ trương thay sách giáo khoa, chương trình
sẽ là một gợi ý nhỏ giúp các nhà biên soạn chương trình địa phương lựa chọn
cho phù hợp với thực tiễn khách quan
1.5 Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án
Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học theo dự án Dạy học theo dự án được nhiều tác giả coi là một hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự án, có nhiều PPDH cụ thể đƣợc sử dụng Tuy nhiên khi không phân biệt giữa hình thức và PPDH, người ta cũng gọi là phương pháp dự án, khi đó cần hiểu đó là PPDH theo nghĩa rộng, một PPDH phức hợp [10]
Dạy học theo dự án là phương pháp dạy học mà người dạy và người học
cùng nhau giải quyết không chỉ về mặt lý thuyết mà còn về thực tiễn một nhiệm
vụ học tập có tính chất tổng hợp, tạo điều kiện cho người học cùng nhau và tự quyết trong tất cả các giai đoạn học tập, kết quả là tạo ra được một sản phẩm hoạt động nhất định; Là phương pháp dạy học mà người dạy đóng vai trò là người định hướng các nhiệm vụ học tập, định hướng quá trình thực hiện cũng như quá trình tạo ra sản phẩm, người học trực tiếp thực hiện các giai đoạn của
dự án học tập; Là phương pháp dạy học mà người học không thụ động tiếp nhận kiến thức từ người dạy mà chủ động tìm tòi, khám phá các kiến thức cần thiết thông qua các nhiệm vụ thực tế liên quan đến bài học
Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện
một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Sản phẩm này có thể là các báo cáo khoa học, mô hình, phần mềm, mẫu vật, tư liệu sưu tầm Nhiệm vụ này được người
Trang 26học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Trong dạy học theo dự án, người học thường phải giải quyết các vấn đề khá lớn, qua nhiều công đoạn Vì vậy, làm việc nhóm là hình thức cơ bản của dạy học theo dự án Người học thực hiện nhiệm vụ học tập thông qua quá trình hợp tác với người dạy và bạn bè trong nhóm cũng như thu thập thông tin từ thực tế và nhiều nguồn khác nhau [10]
Dạy học theo dự án là chiến lược giáo dục mà người học được cung cấp
các tài nguyên, các chỉ dẫn để áp dụng trên các tình huống cụ thể, qua đó người học tích lũy được kiến thức và khả năng giải quyết vấn đề Thông qua các dự
án học tập mà nhiều mục tiêu giáo dục được thực hiện và đem lại các hiệu quả trong thời gian dài
Dạy học theo dự án là một mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Theo đó, các nhóm HS, dưới sự hướng dẫn của giáo viên mà thực hiện các nhiệm vụ học tập một cách tự lực, độc lập qua những giai đoạn nhất định: đề xuất ý tưởng, lập kế hoạch, thực hiện ý tưởng, tạo sản phẩm, công bố sản phẩm Qua đó, giúp phát triển kiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích học sinh tìm tòi, hiện thực hoá những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình Chương trình dạy học theo dự án được xây dựng dựa trên những câu hỏi định hướng quan trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư duy bậc cao trong những bối cảnh thực tế [14]
Tóm lại, Dạy học theo dự án vừa là PPDH vừa là hình thức, mô hình dạy
học tích cực khác với các PPDH truyền thống, trong đó các nhiệm vụ học tập, các bài học được thể hiện dưới dạng các dự án, dưới sự hướng dẫn của người dạy, các dự án được thực hiện bởi sự cộng tác làm việc tích cực của các thành viên trong nhóm được hoàn thành dưới dạng các sản phẩm Kiến thức tự lĩnh hội được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau, làm phong phú tri thức của người
Trang 27học, đáp ứng các mục tiêu gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực tự học, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và
khả năng cộng tác làm việc của người học [14]
1.6 Cơ sở thực tiễn của chuyên đề sinh thái nhân văn
Chương trình giáo dục phổ thông môn sinh học (trong chương trình giáo dục phổ thông mới) chú trọng giúp HS phát triển khả năng thích ứng trong một thế giới biến đổi không ngừng; khả năng chung sống hài hoà với thiên nhiên và bảo vệ môi trường để phát triển bền vững Đặc biệt quan tâm tới những nội dung gần gũi với cuộc sống hằng ngày trong nhiều lĩnh vực khác nhau tạo điều kiện để HS tăng cường vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn, từ thực tiễn nhận thức rõ những vấn đề về môi trường và phát triển bền vững, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, rèn luyện khả năng thích ứng trong một thế giới biến đổi không ngừng Do đó, chuyên đề sinh thái nhân văn được đưa vào chương trình là rất phù hợp, khi có chương trình cho từng địa phương thì tính hiệu quả của chuyên đề lại càng được tăng thêm
Thông qua các tiết học của chương trình địa phương tạo sự gắn kết giữa
GV và HS, giúp HS hứng thú và say mê hơn trong việc học tập kiến thức Giúp cho giáo viên và học sinh cùng hăng say hòa mình vào thiên nhiên qua các chủ
đề của phần sinh thái học được chính giáo viên địa phương xây dựng với những nội dung gần gũi và nhiều thông tin bổ ích
Trang 28Kết luận Chương 1
Trong chương này chúng tôi đã tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau: Tổng quan nội dung chuyên đề sinh thái nhân văn, giới thiệu một số nghiên cứu thành công ở trên thế giới và ở Việt Nam Nêu bật được vị trí chức năng, nhiệm
vụ của chuyên đề STNV Phân tích chương trình môn Sinh học trong chương trình THPT Trong chương trình giáo dục phổ thông mới môn Sinh học chú trọng giúp HS phát triển khả năng thích ứng trong một môi trường biến đổi không ngừng đặc biệt thông qua các tiết học của chương trình địa phương Dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn đó có thể đề xuất xây dựng tài liệu cho chuyên đề STNV tại địa phương và vận dụng dạy học dự án một cách hiệu quả
để giảng dạy tốt chuyên đề STNV ở địa phương
Trang 29Chương 2 XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SINH THÁI NHÂN
VĂN Ở TRƯỜNG THPT TỈNH CAO BẰNG
2.1 Xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng
2.1.1 Mục đích xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng
Xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng để phục
vụ cho quá trình tổ chức dạy học chuyên đề sinh thái nhân văn Tài liệu giúp cho GV, HS có định hướng trong khi nghiên cứu và thực hiện các dự án dạy học trong nhà trường
2.1.2 Các bước thực hiện xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng
Để xây dựng tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn chúng tôi đã thực hiện theo 4 bước:
Bước 1
Bước 2
Bước 3
Bước 4
Bước 1: Tìm tài liệu liên quan đến chuyên đề sinh thái nhân văn
Tiến hành tham khảo các bách khoa toàn thư, sách, báo, tài liệu liên quan đến chuyên đề STNV, PTBV Các sự kiện liên quan đến chủ đề ở trên thế giới
Chắt lọc, tổng hợp nội dung tài liệu
Xin ý kiến chuyên gia về nội dung tài liệu
Trang 30Các nguồn để tìm kiếm:
- Internet
- Sách, báo, tạp trí - thư viện, nhà sách
- Hỏi giáo viên hướng dẫn và chuyên gia
Bước 2: Chọn lọc và giữ lại những tài liệu tin cậy cao cũng như lý thuyết phù hợp
Áp dụng các thuật ngữ chủ yếu, sự kiện vào việc tìm kiếm các danh mục tài liệu tham khảo và Internet để xác định các nguồn tài liệu
Lựa chọn nguồn tài liệu sẽ căn cứ vào nguồn thông tin và nội dung
- Mức độ uy tín của tác giả, website
- Ý kiến của giáo viên hướng dẫn và chuyên gia
- Chọn lọc và xác định được người đọc mà các tài liệu hướng đến điều này
sẽ rất quan trọng trong việc lựa chọn nội dung để đưa vào tài liệu cho phù hợp
Bước 3: Chắt lọc, tổng hợp nội dung tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng
- Chọn ra những lí thuyết tổng quát, tóm tắt ý chính của những lí thuyết liên quan đưa vào tài liệu phục vụ cho việc dạy và học của GV và HS được thuận lợi
- Sắp xếp trình tự nội dung sao cho phù hợp với đối tượng HS của địa phương
Bước 4: Xin ý kiến chuyên gia về nội dung tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng
- Sau khi xây dựng xong tài liệu chuyển đến cho GV hướng dẫn duyệt Thiết
kế phiếu xin ý kiến góp ý từ các chuyên gia trong lĩnh vực tài liệu nghiên cứu
- Chỉnh sửa cho phù hợp sau khi nhận được ý kiến đóng góp từ các chuyên gia
2.1.3 Cấu trúc tài liệu chuyên đề sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng
Tài liệu chuyên đề Sinh thái nhân văn tỉnh Cao Bằng được xây dựng gồm
3 chương, Trong đó:
Chương 1: Sinh thái nhân văn và phát triển bền vững
Trang 31Mô tả tổng quan về sinh thái nhân văn, phát triển bền vững và mối tác động qua lại giữa STNV và PTBV Trong đó có nội dung bao quát quá trình phát triển và đưa ra khái niệm về STNV, PTBV, tình trạng PTBV hiện nay, mức độ, các nguyên tắc quản lý PTBV Sự phát triển của STNV khẳng định khoa học STNV đã và vẫn đang được nghiên cứu Khi nghiên cứu về STNV
là đang nghiên cứu về hệ xã hội và hệ sinh thái tập trung nghiên cứu các vấn
(3) Mối quan hệ giữa hệ xã hội và hệ sinh thái
Chương 2: Giá trị và ý nghĩa của sinh thái nhân văn trong phát triển bền vững Trong chương này chúng tôi tập trung làm rõ giá trị và ý nghĩa của STNV trong PTBV Đề cập đến những tác động của con người đến các hệ sinh thái, sinh quyển và chất lượng cuộc sống ngày nay Từ đó đưa ra một số biện pháp giáo dục giá trị STNV cụ thể trong trường học như: Đưa kiến thức về sinh thái nhân văn lồng ghép vào nội dung chương trình chính khóa; Thực hiện chuyên
đề STNV ở tại địa phương trong các buổi ngoại khóa thiên nhiên
Chương 3: Sinh thái nhân văn và phát triển bền vững ở tỉnh Cao Bằng Nội dung chương này trình bày về vị địa lý và đặc điểm tự nhiên đa dạng thuận lợi phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội từ đó làm nổi bật lên STNV ở tỉnh Cao Bằng STNV trong một số lĩnh vực như nông nghiệp, đô thị, phát triển du lịch địa phương…
2.2 Thiết kế và tổ chức dạy học dự án chuyên đề sinh thái nhân văn
2.2.1 Mạch kiến thức của chuyên đề STNV
- Khái niệm sinh thái nhân văn
- Giá trị và ý nghĩa của sinh thái nhân văn
Trang 32- Sinh thái nhân văn được chú trọng trong các lĩnh vực: Nông nghiệp; Phát triển đô thị; Phát triển du lịch địa phương; Thích ứng với biến đổi khí hậu
- Thực trạng vấn đề sinh thái nhân văn trong trong các lĩnh vực tại tỉnh Cao Bằng
- Các biện pháp giáo dục giá trị sinh thái nhân văn cho học sinh [2]
2.2.2 Mục tiêu của chuyên đề STNV
Sau khi học xong chủ đề, HS phải:
a Kiến thức
- Nêu được khái niệm sinh thái nhân văn
- Phân tích được giá trị của sinh thái nhân văn trong việc phát triển bền vững và một số lĩnh vực như nông nghiệp, phát triển đô thị, bảo tồn và phát triển du lịch địa phương, thích ứng với biến đổi khí hậu
b Kỹ năng: Rèn luyện được một số kỹ năng tư duy sau đây:
- Biết cách thu thập và xử lý tài liệu, xử lý các thông tin, viết và trình bày báo cáo về vấn đề có liên quan đến sinh thái nhân văn
- Phát triển kĩ năng phân tích, tổng hợp kiến thức từ các tài liệu học tập, các số liệu thu được
- Rèn kỹ năng sử dụng công nghệ nhằm hỗ trợ việc học tập
c Thái độ
- Có động cơ, thái độ hứng thú, ham học hỏi, hứng thú tìm hiểu các vấn đề
về sinh thái nhân văn
- Nâng cao trách nhiệm với cộng đồng, ý thức bảo vệ và giữ gìn môi trường sống Trên cơ sở đó giúp các em thay đổi các hành động, nhất là những hành động xây dựng quê hương, bảo vệ môi trường sống xung quanh đối với sự phát triển kinh tế xã hội và bền vững của mỗi quốc gia
d Định hướng phát triển năng lực:
- Năng lực tự học
- Năng lực giải quyết vấn đề
Trang 33- Năng lực giao tiếp
- Năng lực hoạt động nhóm
Trong phân phối chương trình mới môn sinh học lớp 12 có 70 tiết/năm học, tương ứng với thời gian phân bố dạy học của chương trình là 35 tuần/năm học Ngoài ra, có 03 chuyên đề học tập được bố trí 10-15 tiết [1]
Trên cơ sở phân tích mạch kiến thức, mục tiêu chủ đề và quy trình của dạy học theo dự án chúng tôi vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong chuyên đề “Sinh thái nhân văn”
2.2.3 Sử dụng phương pháp dạy học theo dự án để tổ chức dạy chuyên
đề STNV
2.2.3.1 Khái niệm dạy học theo dự án
Theo K.Frey, học giả hàng đầu về dạy học dự án của Cộng hòa Liên bang Đức thì: Dạy học theo dự án (Project Based Learning - PBL) là một hình thức của hoạt động học tập trong đó, nhóm người học xác định một chủ đề làm việc, thống nhất về một nội dung làm việc, tự lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một sự kết thúc có ý nghĩa, thường xuất hiện một sản phẩm có thể trình
ra được Học theo dự án nhấn mạnh vai trò của người học
Theo định nghĩa của Bộ Giáo dục Singapore “Học theo dự án (Project work) là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho học sinh tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống”
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu dạy học theo dự án (DHTDA) là một phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, hướng người học đến việc lĩnh hội tri thức và kỹ năng thông qua các dự án có liên quan đến các vấn đề có thực trong cuộc sống gắn liền với nội dung dạy học
2.2.3.2 Mục tiêu của dạy học theo dự án
- Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội dung học với cuộc sống thực tế
- Phát triển cho người học kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề; kĩ năng
tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá)
Trang 34- Rèn luyện nhiều kĩ năng (tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, kĩ năng làm việc theo nhóm, giao tiếp…)
- Cho phép người học làm việc “một cách độc lập” để hình thành kiến thức và cho ra những kết quả thực tế
- Nâng cao kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm
2.2.3.3 Đặc điểm của dạy học dự án
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm
vụ của dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của người học Các dự án học tập có ý nghĩa thực tiễn xã hội, góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực
- Định hướng hứng thú người học: Người học được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án
- Mang tính phức hợp, liên môn: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một nhiệm vụ, vấn đề mang tính phức hợp
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học
- Tính tự lực của người học: Trong dạy học theo dự án, người học cần tham gia tích cực, tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi
và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của người học và mức độ khó khăn của nhiệm vụ
Trang 35- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm Dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án
- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra không chỉ giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu 2.2.3.4 Tiến trình thực hiện dạy học theo dự án
Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta có thể chia cấu trúc của DHDA làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn Sau đây là một cách phân chia dạy học theo dự án theo 5 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án
Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện
Giai đoạn 3: Thực hiện dự án
Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm
Giai đoạn 5: Đánh giá dự án
- Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án: GV và HS cùng nhau đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dự án Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống Cần chú ý đến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài GV có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học viên lựa chọn và cụ thể hoá Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía HS Giai đoạn này được K.Frey mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo luận sáng kiến
Trang 36- Xây dựng kế hoạch thực hiện: Trong giai đoạn này HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm
- Thực hiện dự án: Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề
ra cho nhóm và cá nhân Trong giai đoạn này, HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra
- Thu thập kết quả và công bố sản phẩm: Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn… Trong nhiều dự án, các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm của
dự án có thể được trình bày giữa các nhóm HS có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội
- Đánh giá dự án: GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo Kết quả của dự án cũng có thể được đánh giá từ bên ngoài Hai giai đoạn cuối này cũng có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc
dự án
Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án Giai đoạn 4 và 5 cũng thường được mô tả chung thành một giai đoạn (giai đoạn kết thúc dự án) [12]
Trang 372.2.4 Vận dụng dạy học dự án trong dạy học chuyên đề Sinh thái nhân văn
Chuyên đề “Sinh thái nhân văn” được phân phối trong 10 tiết tương ứng với 10 tuần học
Vận dụng DHDA trong các giờ học cho phép HS được tiếp thu đồng thời
lý thuyết và thực tiễn; lý thuyết được minh chứng, kiểm nghiệm qua thực tiễn; thực tiễn làm rõ ràng hơn, phong phú hơn các nội dung lý thuyết
Vận dụng DHDA sẽ cho phép triển khai được những dự án học tập có quy
mô vượt khỏi phạm vi lớp học, kéo dài không chỉ trong một tiết, một vài tiết học mà có thể diễn ra hàng tuần, hàng tháng với việc thu hút đông đảo số lượng người tham gia Hình thức học tập này sẽ khắc phục được phần nào những khó khăn đến từ điều kiện khách quan Vận dụng DHDA giúp HS một lần nữa được làm việc với thiên nhiên, trải nghiệm với những hoạt động thực tế; và đảm bảo được các mục tiêu của các giờ thực hành, giờ ôn tập
Đây là chuyên đề trong phần Sinh thái học, sau khi học xong các nội dung
cơ bản trong chương trình bắt buộc của môn sinh học “Cá thể, quần thể, quần
xã sinh vật, hệ sinh thái” học sinh đã có các khái niệm cơ bản về Sinh thái học: môi trường, nhân tố sinh thái, quần thể, quần xã, các mối quan hệ trong quần thể, giữa cá thể quần thể với môi trường Điều đó rất thuận tiện cho việc triển khai học tập theo dự án ở nội dung này Hơn nữa, Cao Bằng là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc với độ đa dạng sinh học cao, có nhiều yếu tố hấp dẫn giúp HS trải nghiệm thực tiễn và có cơ hội giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ thiên nhiên, môi trường và đa dạng sinh học.Và để HS nhớ sâu kiến thức chúng tôi đưa chủ đề đó vào các tiết học cụ thể để vận dụng hình thức dạy học theo dự
án nhằm mục đích vừa cho HS thực hiện tốt yêu cầu cần đạt được của chuyên
đề, vừa để HS tiếp cận với thực tiễn địa phương, vừa nâng cao ý thức bảo tồn gìn giữ các giá trị thiên nhiên
Ý tưởng dự án: Nội dung của chuyên đề bao gồm: Sinh thái nhân văn giá
trị và ý nghĩa của sinh thái nhân văn, mối liên quan giữa STNV và PTBV Các
Trang 38vấn đề này có thể được làm sáng tỏ trong quá trình HS tìm hiểu,quan sát, phân
tích các hệ sinh thái Tìm hiểu các dạng tài nguyên thiên nhiên, các hình thức
sử dụng tài nguyên thiên nhiên gây ô nhiễm môi trường, các biện pháp khắc phục suy thoái môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên Các vấn đề này thể hiện rõ rệt trong quá trình tìm hiểu STNV ở địa phương Vì vậy, chúng tôi hướng dẫn HS thảo luận và lựa chọn các dự án:
(1) Tìm hiểu sự đa dạng về hệ sinh thái của tỉnh Cao Bằng
(2) Tìm hiểu hệ xã hội của tỉnh Cao Bằng
(3) Tìm hiểu mỗi quan hệ giữa hệ xã hội và hệ sinh thái
Kế hoạch bài dạy
Người dạy: Nông Thị Hằng
Số năm công tác 04 năm
Giáo viên hỗ trợ Đàm Thị Mới - THPT Trà Lĩnh
Giáo viên hỗ trợ Phạm Ngọc Sơn – THPT Quang Trung
Tổng quan về bài dạy
Tiêu đề bài dạy
Tìm hiểu sự đa dạng về hệ sinh thái của tỉnh Cao Bằng
Tóm tắt bài dạy
Có được các kiến thức về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở Cao Bằng học sinh
sẽ một phần có thêm nguồn kiến thức để lý giải tại sao nơi đây lại có hệ sinh thái động - thực vật khá phong phú, đa dạng
Trang 39Từ đó, làm nổi bật lên khao khát tìm hiểu thế giới thiên nhiên, thể hiện trách nhiệm với quê hương Cao Bằng Các kiến thức Sinh thái học, học sinh sẽ đề ra được các biện pháp tìm hiểu, đánh giá độ đa dạng sinh học của quần xã động - thực vật, qua đó làm cho học sinh thấy được ý nghĩa mọi mặt của rừng cũng như đề xuất được một số giải pháp bảo tồn, phát triển độ đa dạng sinh học của quần xã rừng và các nhóm động - thực vật quý hiếm
Lĩnh vực bài dạy
Sinh thái học
Cấp/Lớp
Cấp/lớp sẽ áp dụng bài: Lớp 12 - THPT
Thời gian dự kiến: 3 tuần
Mục tiêu cơ bản của bài
Sau khi học xong dự án, HS phải:
Kiến thức:
- Có kiến thức về hệ sinh thái của tỉnh Cao Bằng
- Biết vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của tỉnh Cao Bằng
- Hiểu giá trị và ý nghĩa của vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
- Đề xuất được một số giải pháp bảo tồn, phát triển độ đa dang sinh học
- Thiết kế được các sản phẩm
Kỹ năng:
- Rèn luyện được một số kỹ năng học tập: Kỹ năng nghiên cứu và trình bày các vấn đề khoa học, kỹ năng tự học, làm việc cộng tác, tìm hiểu tư liệu thông tin
- Rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức, kĩ năng lựa chọn sự kiện tiêu biểu
- Rèn luyện kĩ năng làm việc hợp tác nhóm, nghiên cứu, giải quyết vấn đề
- Rèn luyện kĩ năng sử dụng phương tiện công nghệ hỗ trợ việc học tập
- Rèn kỹ năng sưu tầm các tư liệu đề cập các mối quan hệ giữa các loài và ứng dụng các mối quan hệ trong thực tiễn
- Bồi dưỡng lòng yêu khoa học, yêu thiên nhiên, tinh thần trách nhiệm với
thiên nhiên
Trang 40Bộ định hướng câu hỏi
Câu hỏi khái quát Sự đa dạng sinh học về hệ sinh thái có ý nghĩa như
thế nào đối với sinh vật và con người?
Câu hỏi bài học Hệ sinh thái động - thực vật Cao Bằng có độ đa
dạng sinh thái như thế nào?
Câu hỏi nội dung bài
1) Tìm hiểu đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên? 2) Mô tả hệ sinh thái động - thực vật của Cao Bằng 3) Phân tích mối quan hệ giữa vị trí địa lý, điều kiện
tự nhiên và hệ sinh thái động - thực vật?
4) Đánh giá độ đa dạng của hệ sinh thái Ý nghĩa độ
đa dạng đối với sinh vật và con người
5) Chúng ta cần làm gì để bảo tồn sự đa dạng sinh học trong hệ sinh thái động - thực vật của Cao Bằng?
- Trình bày các nghiên
cứu về việc phát triển
khu du lịch sinh thái
- Báo cáo đề cương
- Trình bày ý nghĩa
của việc nghiên cứu
- Tiến độ thực hiện đề tài
- Cách thực hiện đề tài
- Tính chính xác khoa học của các bước tiến hành đề tài
- Cơ sở của các nhận xét, đánh giá, kết luận
- Cách lý giải các nhận định, kết luận nghiên cứu
- Trình bày ý nghĩa của việc nghiên cứu
- Cách xử lý số liệu thu thập được
- Các nhận xét, kết luận rút ra từ việc phân tích các
số liệu
- Ý nghĩa của các kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu
- Quá trình báo cáo kết