1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng ngân hàng đến thu nhập hộ gia đình việt nam tt

25 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 430,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, nghiên cứu sử dụng phương pháp khác biệt trong sự khác biệt DID kết hợp hồi quy dữ liệu gộp Pooled-OLS để đánh giá hiệu quả ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng ngân hàng đến thu nh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí

Có thể tìm hiểu luận án tại:

Thư viện Trường Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh Thư viện Quốc Gia, Tp Hồ Chí Minh

Trang 3

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Đặt vấn đề

Theo Báo cáo của Tổng cục Thống Kê năm 2016, tỷ lệ người dân sống ở khu vực nông thôn của Việt Nam chiếm khoảng 68%, tương đương 61,2 triệu người Do vậy, nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực được Chính phủ đặc biệt quan tâm trong những năm gần đây Trong đó, điều tiết thị trường tín dụng ngân hàng được xem là chính sách quan trọng của Chính phủ giúp xóa đói, giảm nghèo ở vùng nông thôn mà hoạt động sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp là chủ yếu Cụ thể, Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn hay Quyết định số 813/QĐ-NHNN ngày 24/4/2017 về chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch,…đã được thực thi Tuy nhiên, các hộ gia đình ở nông thôn lại gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng nói chung và tiếp cận tín dụng ngân hàng nói riêng

Về mặt lý thuyết và nghiên cứu trước trên thế giới và tại Việt Nam có liên quan ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng ngân hàng lên thu nhập của hộ gia đình cho thấy còn tồn tại nhiều kết quả trái ngược Một số nghiên cứu cho thấy tiếp cận tín dụng có ảnh hưởng tích cực lên thu nhập của hộ gia đình (Đinh Phi Hổ và Đông Đức, 2015; Li và cộng sự, 2013) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại cho rằng tiếp cận tín dụng không cải thiện thu nhập của hộ (Phan Thị Nữ, 2013; Takahashi và cộng sự, 2010) Trong nghiên cứu này, tác giả lấp đầy các khe hở nghiên cứu sau:

Thứ nhất, tác giả lựa chọn thời điểm nghiên cứu là năm 2014 và 2016 để loại

bỏ cú sốc về khủng khoảng kinh tế năm 2008 làm ảnh hưởng lên tính bền vững của các hệ số ước lượng Đây là điểm mới về phạm vi thời gian nghiên cứu mà các nghiên cứu trước chưa cập nhật

Thứ hai, nghiên cứu sử dụng phương pháp khác biệt trong sự khác biệt (DID)

kết hợp hồi quy dữ liệu gộp (Pooled-OLS) để đánh giá hiệu quả ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình mà ít sử dụng phổ biến tại Việt Nam (Đinh Phi Hổ và Đông Đức, 2015)

Thứ ba, hầu như chưa có nghiên cứu nào được thực hiện một cách có hệ

thống tại Việt Nam đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng mà sử dụng nhóm đối chứng là các hộ gia đình chỉ tiếp cận được tín dụng phi ngân hàng nhằm đánh giá một cách toàn diện các yếu tố kiểm soát khác như đặc điểm tài chính và tín dụng của hộ gia đình

Thứ tư, một khe hở nghiên cứu khác mà nghiên cứu sẽ lấp đầy đó chính là

phạm vi mẫu rộng với 598 hộ gia đình trong 61 tỉnh/thành phố từ bộ Bộ dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) của năm 2014 và năm 2016 được nghiên cứu lặp lại Do đó, kết quả ước lượng sẽ mang tính tin cậy hơn với mẫu nhỏ hơn mà các nghiên cứu sử dụng

Trang 4

Cuối cùng, trong nghiên cứu này, đặc điểm tín dụng của hộ được khai thác đa

dạng hơn với nhiều khía cạnh như khoản thời gian đã vay các khoản vay chưa trả, chi phí chi trả để có được khoản vay,…

Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng ngân hàng và ảnh hưởng của tín dụng ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và lý luận, mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng ngân hàng và ảnh hưởng của tín dụng ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam

Từ đó, hai mục tiêu cụ thể được đặt ra như sau:

(i) Nhận diện và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tiếp cận tín dụng ngân hàng của hộ gia đình nông thôn Việt Nam

(ii) Đo lường ảnh hưởng của tín dụng ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Dựa trên mục tiêu nghiên cứu, ba câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:

(i) Thực trạng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam trong năm 2014 và năm 2016 như thế nào?

(ii) Các nhân tố nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của

hộ gia đình nông thôn Việt Nam?

(iii) Tín dụng ngân hàng có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam như thế nào?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng dưới hai khía cạnh (i) khả năng nhận được các khoản vay ngân hàng so với nhóm đối chứng là các hộ gia đình chỉ tiếp cận tín dụng phi ngân hàng; (ii) tổng

số tiền được vay của các hộ gia đình nông thôn Thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam cũng là một đối tượng nghiên cứu chính của đề tài

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung vào các hộ gia đình nông thôn Việt Nam trong thời điểm là năm 2014 và năm 2016 tại 61 tỉnh/thành Ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất lên thu nhập của hộ gia đình

1.4 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu

Để nhận diện và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam, nghiên cứu sử dụng phương pháp Heckman hai bước (Heckman, 1979)

Phương pháp khác biệt trong khác biệt hay khác biệt kép (DID) được dùng để

đo lường ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam Phương pháp DID cho phép so sánh sự khác biệt giữa kết quả

Trang 5

của đối tượng tham gia (nhóm can thiệp) và đối tượng không tham gia (nhóm đối chứng) chương trình hoặc chính sách

1.4.2 Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu nàysử dụng dữ liệu thứ cấp từ Bộ dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) của năm 2014 và năm 2016 Phạm vi khảo sát của bộ

dữ liệu này là 61 tỉnh thành do Tổng cục Thống kê thực hiện dựa trên mẫu cơ bản để lựa chọn Đối tượng khảo sát là các hộ gia đình, thành viên các hộ và các xã/phường

ở nông thôn Việt Nam

1.5 Đóng góp của luận án

Thứ nhất, nghiên cứu tổng quan được thực trạng và so sánh tiếp cận tín dụng

và thu nhập của các hộ gia đình nông thôn tại Việt Nam tại hai thời điểm là năm

2014 và năm 2016

Thứ hai, nghiên cứu cung cấp bằng chứng mới về ảnh hưởng của khả năng

tiếp cận tín dụng ngân hàng đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn ở Việt Nam tại hai thời điểm là năm 2014 và năm 2016

Thứ ba, các kết quả nghiên cứu bổ sung vào luận chứng khoa học cho các

nghiên cứu khác có liên quan dưới hai khía cạnh của vấn đề: (i) Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các hộ gia đình nông thôn tại Việt Nam với nhóm đối chứng là các hộ gia đình chỉ tiếp cận tín dụng phi ngân hàng; (ii) Ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng ngân hàng đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn tại Việt Nam

Thứ tư, các kết quả nhiên cứu kỳ vọng khuyến nghị một số chính sách phù

hợp cho các tổ chức có liên quan nhằm cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng, sử dụng hiệu quả nguồn vốn, và nâng cao thu nhập của các hộ gia đình nông thôn tại Việt Nam

1.6 Kết cấu của luận án

Nội dung của luận án được kết cấu thành 5 chương:

Chương 1 “Giới thiệu” Trong chương này, tác giả trình bày những nội dung quan trọng của đề tài bao gồm đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu và kết cấu của đề tài

Chương 2 “Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước” Trong chương này, tác giả lược khảo các lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng và ảnh hưởng của tín dụng ngân hàng đến thu nhập Do đó, thông tin bất cân xứng trong thị trường tài chính, lý thuyết kinh tế phát triển, lý thuyết sinh kế bền vững, cơ sở kinh tế học của tài chính

vi mô được xem là các lý thuyết nền tảng

Chương 3 “Phương pháp nghiên cứu” Quy trình nghiên cứu, mô hình thực nghiệm và các phương pháp được lựa chọn tương ứng với từng mục tiêu sẽ được trình bày cụ thể trong chương này

Chương 4 “Kết quả nghiên cứu và thảo luận” Chương này sẽ trình bày kết quả thống kê mô tả, phân tích định lượng và thảo luận các kết quả nghiên cứu để trả

Trang 6

lời cho câu hỏi nghiên cứu đầu tiên Chương này cũng sẽ trình bày kết quả thống kê

mô tả, phân tích định lượng và thảo luận các kết quả nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ hai

Chương 5 “Kết luận và kiến nghị” Tác giả tổng kết các kết quả nghiên cứu chính Từ đó, một số hàm ý chính sách phù hợp cũng được khuyến nghị nhằm cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của hộ gia đình nông thôn trong mối tương quan với thu nhập

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng

(i) Thông tin bất cân xứng

Thông tin bất cân xứng (asymmetric information) hay thông tin không hoàn hảo (imperfect information) được giới thiệu lần đầu tiên bởi Akerlof (1970) mà dẫn đến các vấn đề lựa chọn nghịch (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard) được xem là các lý thuyết nền tảng giải thích cho sự hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình, đặc biệt là các hộ gia đình nghèo với mức thu nhập thấp (Stiglitz và Weiss, 1981; Williamson, 1987)

Theo Stiglitz và Weiss (1981), đối với thị trường tín dụng, lựa chọn nghịch cũng là hệ quả của thông tin bất cân xứng nghĩa là người đi vay tiềm năng có nhiều rủi ro hơn thì thường tìm kiếm các khoản vay và được lựa chọn, trong đó việc phân biệt giữa người đi vay ít rủi ro và nhiều rủi ro được phản ánh trong lãi suất Tuy nhiên, tăng lãi suất để bù đắp cho chi phí rủi ro tín dụng cao có thể đẩy người đi vay

ít rủi ro ra khỏi thị trường Kết quả là, người cho vay chỉ cho vay những dự án có rủi

ro cao Thông tin bất cân xứng cũng dẫn đến vấn đề rủi ro đạo đức hay tâm lý ỷ lại,

đó là tình trạng người đi vay không còn động cơ để cố gắng hay hành động một cách hợp lý như trước khi giao dịch xảy ra do người cho vay phải gánh chịu một phần của rủi ro Hậu quả là người đi vay không trả được nợ Nói chung, quyết định cấp tín dụng và cấp bao nhiêu phụ thuộc vào thông tin mà người cho vay có được từ người

đi vay Do đó, không phải tất cả người có nhu cầu vay mượn tiếp cận được tín dụng

(ii) Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng

Mặc dù phát triển tài chính có ảnh hưởng rộng lớn đến nền kinh tế nhưng khả năng tiếp cận tín dụng ở các hộ gia đình là cần thiết để nghiên cứu một cách đầy đủ tiếp cận tín dụng ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng đang được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều yếu tố cản trở các hộ gia đình sử dụng hệ thống tài chính một cách toàn diện Thật vậy, ở các nước với hệ thống tài chính kém phát triển, các hộ gia đình nghèo tiếp cận tín dụng bị hạn chế hơn những những hộ gia đình giàu có

Trang 7

2.1.2 Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng đến thu nhập

(i) Lý thuyết Kinh tế phát triển

Một trong những phương pháp phổ biến dùng để đánh giá đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng GDP là sử dụng hàm sản xuất với hai yếu tố đầu vào cơ bản

là vốn và lao động Sự gia tăng sản lượng trong nền kinh tế là do hai thành phần chính: (i) sự gia tăng của các yếu tố đầu vào; (ii) sự gia tăng của năng suất được đo lường bằng hệ số năng suất tổng hợp các yếu tố (Total Factor Productivity – TFP)

Ngoài ra, Claessens và Feijen (2007) chỉ ra tiếp cận dịch vụ tài chính là thước

đo cho sự phát triển của lĩnh vực tài chính Theo khung phân tích về mối quan hệ giữa tài chính, thu nhập và các mục tiêu thiên niên kỷ của nghiên cứu này cho thấy tiếp cận dịch vụ tài chính có ảnh hưởng tích cực lên thu nhập Thu nhập có ảnh hưởng lên sức khỏe, giáo dục và bình đẳng giới và ngược lại Ngoài ra, thu nhập càng cao càng cắt giảm nghèo đói (Hình 2.1)

Hình 2.1 Mối quan hệ giữa tài chính, thu nhập và các mục tiêu thiên niên kỷ

Nguồn: Claessens và Feijen (2007)

(ii) Lý thuyết Sinh kế bền vững

Ngày nay, cách tiếp cận sinh kế đã được sử dụng phổ biến khi nghiên cứu về đặc điểm kinh tế - xã hội của các hộ gia đình ở các nước đang phát triển Sinh kế (livelihood) được Chambers & Conway (1992) định nghĩa như sau: “Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần

có để bảo đảm phương tiện sinh sống: sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu với và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn.” (Chambers & Conway, 1992, p.6)

(iii) Cơ sở kinh tế học của tài chính vi mô

Một trong những quy luật đầu tiên của kinh tế học là quy luật lợi nhuận cận biên giảm dần theo vốn (diminishing marginal returns to capital)

Sức khỏe, giáo dục

và bình đẳng giới

Nghèo đói (nghèo đói về thu nhập và suy dinh dưỡng)

Trang 8

2.2 Lược khảo các nghiên cứu trước

2.2.1 Các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng

Có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng với nhiều phương pháp, giai đoạn nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cũng chưa có sự đồng thuận cao

2.2.2 Các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng đến thu nhập

Theo Claessens và Feijen (2007), tiếp cận dịch vụ tài chính nói chung và tiếp cận tín dụng nói riêng có đóng góp quan trọng vào thu nhập, đặc biệt là các hộ gia đình nghèo Có nhiều nghiên cứu được hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng và các yếu tố khác lên thu nhập của các hộ gia đình ở nhiều nước trên thế giới dưới góc độ quốc tế, quốc gia và từng địa phương

2.3 Thực trạng tiếp cận tín dụng ngân hàng trên thế giới

Dựa trên Khảo sát tiếp cận tài chính (FAS) của IMF (2017), kết quả cho thấy tính không cân xứng hay bất cân bằng về giới tính trong tiếp cận tài chính nói chung

và tiếp cận tín dụng nói riêng, đặc biệt trong dịch vụ tài chính chính thức Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của hộ gia đình và cơ hội đầu tư cho tất cả mọi người, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng và tiềm năng phát triển kinh tế của một quốc gia Số liệu khảo sát FAS năm 2016 cung cấp thông tin tiếp cận tài chính theo giới tính từ các ngân hàng thương mại của 5 nước bao gồm Cabo Verde, Chile, Costa Rica, Malaysia và Poland trong giai đoạn 2010 - 2016 cho thấy, tỷ lệ vay mượn của nữ giới đều chiếm dưới 50% Trong đó, tỷ lệ này trung bình thấp nhất

là Costa Rica và cao nhất là Poland

Theo Cơ sở dữ liệu Tài chính toàn cầu (GFD) của Ngân hàng thế giới (World Bank) năm 2017, một nửa người lớn trên toàn thế giới báo cáo có vay tiền trong năm qua Tỷ lệ này cao hơn ở những nước phát triển mà hầu hết tiếp cận tín dụng chính thức được cung cấp bởi các định chế tài chính hoặc thẻ tín dụng Ngược lại, ở các nước đang phát triển, việc vay mượn ở thị trường phi ngân hàng (thông qua gia đình

và bạn bè) chiếm đáng kể

2.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

(i) Đối với các ngân hàng

Thứ nhất, minh bạch hơn về hiệu quả tài chính và thông tin thị trường của các

ngân hàng: có rất ít dữ liệu về nhu cầu thị trường trong tiếp cận tín dụng đối với các

hộ gia đình ở nông thôn cũng như thông tin về hiệu quả tài chính của các ngân hàng được truyền thông rộng rãi đến các hộ gia đình nông thôn Điều này làm giảm khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng

Thứ hai, chia sẻ thông tin tín dụng có thể cắt giảm rủi ro và tăng tiếp cận tín

dụng:

Việc thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và cung cấp hồ sơ về hành

vi trả nợ của các cá nhân và doanh nghiệp cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau Thông qua hoạt động này, thông tin bất đối xứng được cắt giảm đáng kể, từ đó cho

Trang 9

phép người cho vay sàng lọc thông tin người đi vay với chi phí thấp hơn Kết quả là, người cho vay có thể đưa ra quyết định tín dụng nhanh hơn và giảm rủi ro, tăng khả năng được tiếp cận tín dụng Kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống thông tin tín dụng tốt hơn thường cung cấp nhiều khoản vay hơn cho các cá nhân và doanh nghiệp, ngay cả sau khi kiểm soát thu nhập bình quân đầu người và thực thi hợp đồng

Mặc dù hệ thống thông tin tín dụng mang lại nhiều lợi ích nhưng ở các nước đang phát triển thì hệ thống này vẫn còn trong giai đoạn trứng nước Ngoài ra, việc chia sẻ thông tin giữa những người cho vay vẫn còn yếu vì họ lo sợ thông tin rò rỉ sang phía khách hàng Kinh nghiệm ở nhiều nước trên thế giới cho thấy mức độ bao phủ hệ thống thông tin tín dụng tỷ lệ thuận với khả năng tiếp cận tín dụng

(ii) Đối với các hộ gia đình

Thứ nhất, các hộ gia đình cần đầu tư cho giáo dục và tự nâng cao kỹ năng nghề nghiệp để sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng ngân hàng nhằm nâng cao thu nhập của hộ gia đình

Thứ hai, chủ động tiếp cận thông tin về thị trường tín dụng để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng

Thứ ba, chủ động tham gia các tổ chức đoàn thể để chia sẻ thông tin và nhận được sự trợ giúp của cộng đồng trong tiếp cận tín dụng ngân hàng

Thứ tư, hợp thức hóa tài sản đảm bảo nhằm nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng

Thứ năm, nâng cao năng lực quản lý trong hoạt động sản xuất

Thứ sáu, sử dụng tín dụng ngân hàng đúng mục đích

(iii) Đối với chính phủ, nhà nước

Thứ nhất, thúc đẩy cơ sở hạ tầng tài chính: Hệ thống tài chính ngân hàng ngày

càng phát triển, đặc biệt ở các đang phát triển Do đó, cơ sở hạ tầng tài chính cần được nâng cấp nhằm bắt kịp với sự phát triển của thị trường Điển hình như việc áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong tín dụng sẽ nâng cao hơn khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng

Thứ hai, thúc đẩy bảo vệ người tiêu dùng: Khi nhiều nhà cung cấp dịch vụ tài

chính gia nhập thị trường, cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt ngay cả ở khu vực nông thôn Với dịch vụ tài chính ngày càng đa dạng và phức tạp thì hoạt động bảo vệ người tiêu dùng ngày cấp thiết, đặc biệt ở khu vực nông thôn khi trình độ giáo dục thấp hơn đáng kể so với khu vực đô thị

Thứ ba, các nỗ lực phối hợp: Cần sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa ngân hàng

trung ương, các ngân hàng và tổ chức đoàn thể địa phương để mang lại nhiều cơ hội tiếp cận tín dụng cho các hộ gia đình ở nông thôn

Trang 10

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu cơ bản bao gồm 5 bước:

Bước 1: Khảo lý thuyết và các nghiên cứu trước liên quan đến các nhân tố ảnh

hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng và ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng đến thu nhập

Bước 2: Xây dựng mô hình và phương pháp nghiên cứu

Bước 3: Thu thập và xử lý dữ liệu

Bước 4: Kết quả và thảo luận

Bước 5: Kết luận và kiến nghị

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của hộ gia đình nông thông Việt Nam

Để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam, nghiên cứu sử dụng phương pháp Heckman hai bước (Heckman, 1979) Ưu điểm nổi bậc của phương pháp này là các

hệ số ước lượng trong mô hình hồi quy đáng tin cậy vì sử dụng thông tin từ nhóm đối chứng làcác hộ gia đình không tiếp cận được tín dụng ngân hàng (Gujarati, 1995) Ngoài ra, phương pháp Heckman hai bước không chỉ đánh giá khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng mà còn cho biết vì sao một số hộ gia đình vay được nhiều trong khi số khác lại vay ít hơn

3.2.2 Ước lượng ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng đến thu nhập

Để đo lường ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam, nghiên cứu sử dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt hay khác biệt kép (DID) Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu đánh giá hiệu quả ảnh hưởng của một chương trình hay chính sách (Khandker và cộng sự, 2009) Phương pháp DID cho phép so sánh sự khác biệt giữa kết quả của đối tượng tham gia (nhóm can thiệp) và đối tượng không tham gia (nhóm đối chứng) chương trình hoặc chính sách Để thực hiện phương pháp này, cần xác định nhóm can thiệp và nhóm đối chứng và điều tra ban đầu, sau đó tiếp tục điều tra tiếp theo cho cả hai nhóm này sau khi triển khai chương trình hoặc chính sách Dựa vào đó, phương pháp DID tính toán được sai biệt kết quả trung bình giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng trước và sau chịu sự ảnh hưởng của chương trình hoặc chính sách

Nghiên cứu này, sử dụng phương pháp DID kết hồi quy dữ liệu gộp (Pooled – OLS) để đánh giá hiệu quả ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình Mô hình hồi quy có dạng như sau:

Y T t X (4)

Trang 11

Trong đó: Y là thu nhập của hộ gia đình; T là biến can thiệp, trong đó T bằng

1 nếu nhóm can thiệp (tiếp cận được tín dụng ngân hàng), bằng 0 nếu là nhóm đối chứng (không tiếp cận được tín dụng ngân hàng mà chỉ tiếp cận được tín dụng phi ngân hàng); t là biến giả thời gian, bằng 0 nếu là thời điểm trước tham gia tín dụng ngân hàng và bằng 1 nếu là thời điểm sau ảnh hưởng của chương trình tín dụng ngân hàng; X là các biến kiểm soát có thể ảnh hưởng lên thu nhập của hộ gia đình bao gồm các đặc điểm cá nhân (tuổi, giới tính, dân tộc, tình trạng hôn nhân, tình trạng giáo dục của chủ hộ), đặc điểm nhân khẩu học (quy mô hộ, tỷ lệ người phụ thuộc), đặc điểm tài chính của hộ gia đình (tài trợ cá nhân, tiết kiệm, giá trị khoản vay chưa trả, thời gian vay của các khoản vay chưa trả) đặc điểm của tín dụng (lãi suất vay chính thức, thời hạn vay, tổng giá trị tài sản thế chấp, có người bảo lãnh, số tiền phải trả để có khoản vay, mục đích khoản vay theo đơn xin vay, mục đích thực tế của sử dụng khoản vay, thế chấp tài sản), thành viên của các hiệp hội (Hội Nông dân, Hội phụ nữ, chủ hộ là Đảng viên, Hội cựu chiến binh), cú sốc thiên nhiên; là nhiễu

Ký hiệu, đo lường và cơ sở lựa chọn các biến được mô tả cụ thể trong Bảng 3.1

3.3 Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu nàysử dụng dữ liệu thứ cấp từ Bộ dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) của năm 2014 và năm 2016 Phạm vi khảo sát của bộ

dữ liệu này là 64 tỉnh thành do Tổng cục Thống kê thực hiện dựa trên mẫu cơ bản để lựa chọn Đối tượng khảo sát là các hộ gia đình, thành viên các hộ và các xã/phường

Cuộc khảo sát áp dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua phiếu hỏi bằng việc điều tra viên đến gặp chủ hộ và những thành viên trong hộ có liên quan

Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ chọn hai năm nghiên cứu là 2014 và 2016

để loại bỏ cú sốc do khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008-2009làm ước lượng không bền vững Tổng mẫu được sử dụng trong nghiên cứu này là 598 hộ được lặp lại ở 61 tỉnh, thành Để đánh giá được ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng lên thu nhập của hộ gia đình, nghiên cứu phân tín dụng thành hai loại: (i) tín dụng ngân hàng bao gồm Ngân hàng Chính sách Xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các ngân hàng thương mại khác; (ii) tín dụng phi ngân hàng từ Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, từ thương nhân, từ bạn bè, họ hàng,…Mục đích lựa chọn hai nhóm hộ gia đình được tiếp cận tín dụng để đánh giá một cách toàn diện các yếu tố kiểm soát khác có thể ảnh hưởng lên thu nhập của hộ gia đình, đặc biệt là các đặc điểm tín dụng mà thông tin này không được thu thập trong nhóm hộ gia đình không tiếp cận được tín dụng

Bảng 3.1 Mô tả các biến trong nghiên cứu

tiếp cận tín

dụng ngân

hàng

Foac (m8c7) Bằng 1 nếu vay từ Ngân hàng Chính sách Xã

hội và Ngân hành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các ngân hàng thương mại khác; 0 trường hợp còn lại

Đặc điểm cá nhân

Tuổi chủ hộ Age (m1ac5) Tuổi của chủ hộ tính theo năm Mwangi và Sichei (2011),

Nghiên cứu Kinh tế Phát triển (2010), Đinh Phi Hổ và

Trang 12

Đông Đức (2015), Nguyễn Quốc Oánh và Phạm Thị Mỹ Dung (2010), Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung (2015)

Dân tộc Eth (dantoc) Biến giả dân tộc, nhận giá trị bằng 1 nếu là dân

tộc Kinh và bằng 0 nếu là dân tộc khác

Nghiên cứu Kinh tế Phát triển (2010), Đinh Phi Hổ và Đông Đức (2015)

Tình trạng

hôn nhân

Sta (m1ac8) Biến giả hôn nhân, nhận giá trị bằng 1 nếu chủ

hộ đang có vợ chồng và bằng 0 nếu các trường hợp khác

Ololade và Olagunju (2013), Nghiên cứu Kinh tế Phát triển (2010)

Tình trạng

giáo dục

của chủ hộ

Edu (m2ac2a) Biến giả giáo dục, nhận giá trị lần lượt bằng: 1

nếu “Không có bằng cấp”; 2 nếu “Tiểu học”; 3 nếu “Trung học cơ sở”; 4 nếu “Trung học phổ thông”; 5 nếu “Cao đẳng”; 6 nếu “Đại học”; 7 nếu “Khác”

Assogba và cộng sự (2017), Nguyen (2007), Nghiên cứu Kinh tế Phát triển (2010), Đinh Phi Hổ và Đông Đức (2015)

Đặc điểm nhân khẩu hộ

Quy mô hộ Size (tsnguoi) Tổng số thành viên của hộ Assogba và cộng sự (2017),

Nghiên cứu Kinh tế Phát triển (2010), Đinh Phi Hổ và Đông Đức (2015)

Tỷ lệ người

phụ thuộc

Dep Tỷ lệ của trẻ em dưới 16 tuổi và người già trên

60 tuổi trên tổng số thành viên của hộ

Đinh Phi Hổ và Đông Đức (2015)

Tài trợ cá

nhân

InF

(m4dc2_01/m4dc2_06)

Biến giả tài trợ cá nhân, nhận giá trị bằng 1 nếu

hộ có nhận được tiền tài trợ từ người thân, bằng

0 nếu không có

Nghiên cứu Kinh tế Phát triển (2010), Đinh Phi Hổ và Đông Đức (2015)

Tiết kiệm Sav (m8c3b) Biến giả về tiết kiệm, nhận giá trị bằng 1 nếu

hộ có gửi tiết kiệm và bằng 0 nếu hộ không gửi

Đinh Phi Hổ và Đông Đức (2015)

khoản vay

theo đơn

xin vay

Tar0 (m8c13) Biến giả mục đích vay theo đơn xin vay, nhận

giá trị bằng 1 nếu khoản vay phục vụ cho hoạt động nông nghiệp bao gồm “Các loại cây khác”, “Chăn nuôi”, “Lâm nghiệp”, “Ngư nghiệp”, “Trồng lúa”; bằng 0 nếu khoản vay phục vụ cho hoạt động phi nông nghiệp bao gồm “Chi giáo dục đào tạo”, “Chi khám chữa bệnh ”, “Hoạt động phi nông nghiệp”, “Mua đất”, “Mua tài sản khác”, “Trả nợ khoản vay khác”, “Xây/mua nhà”, “Chi phí hoạt động

Trần Ái Kết và Huỳnh Trung Thời (2013)

Ngày đăng: 22/10/2019, 16:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w