Thứ ba, hầu như chưa có nghiên cứu nào được thực hiện một cách có hệ thống tại Việt Nam đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng mà sử dụng nhóm đối chứng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN LONG GIANG
ẢNH HƯỞNG CỦA TIẾP CẬN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN LONG GIANG
ẢNH HƯỞNG CỦA TIẾP CẬN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 9340201
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.T
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2019
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu 5
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4.2 Dữ liệu nghiên cứu 5
1.4.3 Đóng góp của luận án 6
1.5 Kết cấu của luận án 6
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 8
2.1 Cơ sở lý thuyết 8
2.1.1 Cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng 8
2.1.2 Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng đến thu nhập 11
2.2 Lược khảo các nghiên cứu trước 19
2.2.1 Các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng……… 19
2.2.2 Các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng đến thu nhập 24
2.3 Thực trạng tiếp cận tín dụng ngân hàng trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 30
Kết luận Chương 2 41
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
Trang 43.1 Quy trình nghiên cứu 44
3.2 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu 46
3.2.1 Ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của hộ gia đình nông thông Việt Nam 46
3.2.2 Ước lượng ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng đến thu nhập 48
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 54
Kết luận Chương 3 55
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 57
4.1 Kết quả nghiên cứu và thảo luận các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng ngân hàng của hộ gia đình nông thôn ở Việt Nam 57
4.1.1 Kết quả thống kê mô tả 57
4.1.2 Kết quả hồi quy 72
4.2 Kết quả nghiên cứu và thảo luận về ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn ở Việt Nam 85
4.2.1 Kết quả thống kê mô tả 85
4.2.2 Kết quả hồi quy 91
Kết luận Chương 4 95
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
5.1 Kết luận 99
5.2 Các kiến nghị 104
5.2.1 Đối với các ngân hàng 104
5.2.2 Đối với các hộ gia đình nông thôn 106
3.2.3 Đối với Chính phủ, Nhà nước 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 5DANH MỤC BẢNG
4.2 Thực trạng tham gia hiệp hội của hộ gia đình theo loại tín dụng 72
4.3 Ma trận tương quan mô hình khả năng tiếp cận tín dụng ngân
4.4 Ma trận tương quan mô hình khả năng tiếp cận tín dụng ngân
4.5 Ma trận tương quan mô hình khả năng tiếp cận tín dụng ngân
4.6 Ma trận tương quan mô hình khả năng tiếp cận tín dụng ngân
4.7
Kết quả phân tích mô hình Heckman bước thứ nhất về khả năng
tiếp cận tín dụng ngân hàng của hộ gia đình nông thôn Việt
Nam
80
4.8
Kết quả phân tích mô hình Heckman bước thứ hai về khả năng
tiếp cận tín dụng ngân hàng của hộ gia đình nông thôn Việt
Nam
83
4.10 Ma trận tương quan mô hình ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng
ngân hàng đến thu nhập năm 2014 và năm 2016 90 4.11 Kết quả ước lượng mô hình DID cơ bản 91 4.12 Kết quả ước lượng mô hình DID mở rộng 92
Trang 6DANH MỤC HÌNH
2.1 Mối quan hệ giữa tài chính, thu nhập và các mục tiêu thiên niên
2.3 Quy luật lợi nhuận cận biên giảm dần theo vốn 16 2.4 Lợi nhuận cận biên theo vốn với các đầu vào bổ sung 17
2.5 Lợi nhuận cận biên theo vốn với hàm sản xuất cho phép lợi ích
2.7 Khoảng cách giới tính trong tiếp cận tài chính thông qua tỷ lệ
2.8 Quy mô khoản vay và khoảng cách giới tính ở Brazil (2015 –
2.9 Tiếp cận tín dụng ở các nước phát triển và đang phát triển 32
2.10 Cơ cấu nguồn tín dụng ở các nền kinh tế thu nhập cao và các
2.11 Bản đồ vay chính thức trên thế giới 34
4.1 Thực trạng tiếp cận tín dụng ở nông thôn Việt Nam
4.2 Tiếp cận tín dụng theo giới tính của chủ hộ 62
4.4 Tiếp cận tín dụng theo tình trạng hôn nhân của chủ hộ 64
Trang 74.5 Tiếp cận tín dụng theo giáo dục của chủ hộ 65 4.6 Tiếp cận tín dụng theo tài trợ cá nhân 66 4.7 Tiếp cận tín dụng theo sổ tiết kiệm 67 4.8 Tiếp cận tín dụng theo mục đích vay theo hồ sơ xin vay 68
4.12 Đồ thị phân phối của biến thu nhập năm 2014 87 4.13 Đồ thị phân phối của biến thu nhập năm 2016 88 4.14 Đồ thị phân phối của biến thu nhập năm 2014 và 2016 89
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Diễn giải tiếng Việt Diễn giải tiếng Anh
CIEM Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế
Trung ương
Central Institute for Economic Management
CP Chính phủ
DID Phương pháp khác biệt trong sự
khác biệt difference in difference FAS Khảo sát tiếp cận tài chính Survey on access to finance
GFD Cơ sở dữ liệu Tài chính toàn cầu Global Finance Database
NĐ Nghị định
NHNN Ngân hàng Nhà nước
OLS Hồi quy bình quân tối thiểu
Pooled-OLS Hồi quy dữ liệu gộp
World Development Economic Research Institute of United Nations University
VARHS Điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia
đình nông thôn Việt Nam
Survey on access to rural household resources in Vietnam
VHLSS Bộ dữ liệu Điều tra mức sống hộ
gia đình Việt Nam
Vietnam Household Living Standards Survey dataset
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2016, tỷ lệ người dân sống ở khu vực nông thôn của Việt Nam chiếm khoảng 68%, tương đương 61,2 triệu người Do vậy, nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực được Chính phủ đặc biệt quan tâm trong những năm gần đây Trong đó, điều tiết thị trường tín dụng ngân hàng được xem là chính sách quan trọng của Chính phủ giúp xóa đói, giảm nghèo ở vùng nông thôn
mà hoạt động sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp là chủ yếu Cụ thể, Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn hayQuyết định số 813/QĐ-NHNN ngày 24/4/2017 về chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch đã được thực thi Tuy nhiên, các hộ gia đình ở nông thôn lại gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng nói chung và tiếp cận tín dụng ngân hàng nói riêng Theo Báo cáo mới nhất của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) phối hợp cùng Viện Nghiên cứu kinh tế phát triển thế giới của Trường Đại học Liên hợp quốc (UNU-WIDER), Viện Khoa học Lao động và xã hội (ILSSA) dựa trên số liệu Điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam (VARHS) năm 2016, chỉ có khoảng 28% hộ gia đình có ít nhất một khoản vay, trong khi có tới hơn 71% hộ không có khoản vay nào Do đó, thực tiễn đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam nhằm tìm kiếm các giải pháp phù hợp
để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng (tiếp cận tín dụng) ngân hàng, từ đó cải thiện thu nhập cho các hộ gia đình nông thôn Việt Nam
Về mặt lý thuyết và nghiên cứu trước trên thế giới và tại Việt Nam có liên quan ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng ngân hàng lên thu nhập của hộ gia đình cho thấy còn tồn tại nhiều kết quả trái ngược Một số nghiên cứu cho thấy tiếp cận tín dụng có ảnh hưởng tích cực lên thu nhập của hộ gia đình (Đinh Phi Hổ và Đông
Trang 10Đức, 2015; Li và cộng sự, 2013) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại cho rằng tiếp cận tín dụng không cải thiện thu nhập của hộ (Phan Thị Nữ, 2013; Takahashi và cộng sự, 2010) Trong nghiên cứu này, tác giả lấp đầy các khe hở nghiên cứu sau:
Thứ nhất, tác giả lựa chọn thời điểm nghiên cứu là năm 2014 và 2016 để loại
bỏ cú sốc về khủng khoảng kinh tế năm 2008 làm ảnh hưởng lên tính bền vững của các hệ số ước lượng Đây là điểm mới về phạm vi thời gian nghiên cứu mà các nghiên cứu trước chưa cập nhật
Thứ hai, nghiên cứu sử dụng phương pháp khác biệt trong sự khác biệt (DID) kết hợp hồi quy dữ liệu gộp (Pooled-OLS) để đánh giá hiệu quả ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình mà ít sử dụng phổ biến tại Việt Nam (Đinh Phi Hổ và Đông Đức, 2015)
Thứ ba, hầu như chưa có nghiên cứu nào được thực hiện một cách có hệ thống tại Việt Nam đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng mà sử dụng nhóm đối chứng là các hộ gia đình chỉ tiếp cận được tín dụng phi ngân hàng nhằm đánh giá một cách toàn diện các yếu tố kiểm soát khác như đặc điểm tài chính và tín dụng của hộ gia đình
Thứ tư, một khe hở nghiên cứu khác mà nghiên cứu sẽ lấp đầy đó chính là phạm vi mẫu rộng với 598 hộ gia đình trong 61 tỉnh/thành phố từ bộ Bộ dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) của năm 2014 và năm 2016 được nghiên cứu lặp lại Do đó, kết quả ước lượng sẽ mang tính tin cậy hơn với mẫu nhỏ hơn mà các nghiên cứu sử dụng
Cuối cùng, trong nghiên cứu này, đặc điểm tín dụng của hộ được khai thác
đa dạng hơn với nhiều khía cạnh như khoản thời gian đã vay các khoản vay chưa trả, chi phí chi trả để có được khoản vay
Trang 11Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng ngân hàng và ảnh hưởng của tín dụng ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và lý luận, mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng ngân hàng và ảnh hưởng của tín dụng ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam
Từ đó, hai mục tiêu cụ thể được đặt ra như sau:
(i) Nhận diện và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của hộ gia đình nông thôn Việt Nam
(ii) Đo lường ảnh hưởng của tín dụng ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Dựa trên mục tiêu nghiên cứu, ba câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:
(i) Thực trạng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam trong năm 2014 và năm 2016 như thế nào?
(ii) Các nhân tố nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của
hộ gia đình nông thôn Việt Nam?
(iii) Tín dụng ngân hàng có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam như thế nào?
Trang 121.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng dưới hai khía cạnh (i) khả năng nhận được các khoản vay ngân hàng so với nhóm đối chứng là các hộ gia đình chỉ tiếp cận tín dụng phi ngân hàng; (ii) tổng số tiền được vay của các hộ gia đình nông thôn Thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam cũng là một đối tượng nghiên cứu chính của đề tài Trong nghiên cứu này, tiếp cận tín dụng ngân hàng là khả năng nhận được các khoản vay
từ các tổ chức tín dụng ngân hàng bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã Nếu khả năng nhận được các khoản vay không đến từ các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã thì được xem là tiếp cận tín dụng phi ngân hàng Bên cạnh đó, theo Điều 10 của Bộ Luật dân sự 2005, hộ gia đình được định nghĩa là “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” Do đó, hộ gia đình nông thôn hay nông hộ là những hộ gia đình chủ yếu hoạt động nông nghiệp, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn nhưng khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nông nghiệp và không có liên quan với công nghiệp Hay nói cách khác, nông hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất và sử dụng chủ yếu lao động gia đình và sản xuất; luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về cơ bản được đặc trưng tham gia một phần vào thị trường với mức độ chưa hoàn chỉnh Hộ gia đình nghèo là những hộ gia đình có thể sinh sống ở khu vực nông thôn hay thành thị mà qua điều tra, rà soát hằng năm ở cơ
sở đáp ứng các tiêu chí về xác định hộ nghèo của Chính phủ Việt Nam, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận thuộc danh sách hộ nghèo
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung vào các hộ gia đình nông thôn Việt Nam trong thời điểm là năm 2014 và năm 2016 tại 61 tỉnh/thành Ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất lên thu nhập của hộ gia đình
Trang 131.4 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu
Để nhận diện và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam, nghiên cứu sử dụng phương pháp Heckman hai bước (Heckman, 1979) Ưu điểm nổi bậc của phương pháp này là các hệ số ước lượng trong mô hình hồi quy đáng tin cậy vì sử dụng thông tin từ những hộ gia đình không tiếp cận được tín dụng ngân hàng mà trong nghiên cứu này đó chính là các hộ gia đình chỉ tiếp cận được tín dụng phi ngân hàng (Gujarati, 1995) Ngoài ra, phương pháp Heckman hai bước không chỉ đánh giá khả tiếp cận tín dụng ngân hàng mà còn cho biết vì sao một số hộ gia đình vay được nhiều trong khi số khác lại vay ít hơn
Phương pháp khác biệt trong khác biệt hay khác biệt kép (DID) được dùng
để đo lường ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam Đây là phương pháp được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu đánh giá hiệu quả ảnh hưởng của một chương trình hay chính sách (Khandker và cộng sự, 2009) Phương pháp DID cho phép so sánh sự khác biệt giữa kết quả của đối tượng tham gia (nhóm can thiệp) và đối tượng không tham gia (nhóm đối chứng) chương trình hoặc chính sách
1.4.2 Dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu nàysử dụng dữ liệu thứ cấp từ Bộ dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) của năm 2014 và năm 2016 Phạm vi khảo sát của bộ
dữ liệu này là 61 tỉnh thành do Tổng cục Thống kê thực hiện dựa trên mẫu cơ bản
để lựa chọn (Phụ lục 1) Đối tượng khảo sát là các hộ gia đình, thành viên các hộ và các xã/phường ở nông thôn Việt Nam
Trang 141.4.3 Đóng góp của luận án
Nghiên cứu này có một số đóng góp như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu tổng quan được thực trạng và so sánh tiếp cận tín dụng
và thu nhập của các hộ gia đình nông thôn tại Việt Nam tại hai thời điểm là năm
2014 và năm 2016
Thứ hai, nghiên cứu cung cấp bằng chứng mới về ảnh hưởng của khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn ở Việt Nam tại hai thời điểm là năm 2014 và năm 2016
Thứ ba, các kết quả nghiên cứu bổ sung vào luận chứng khoa học cho các nghiên cứu khác có liên quan dưới hai khía cạnh của vấn đề: (i) Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các hộ gia đình nông thôn tại Việt Nam với nhóm đối chứng là các hộ gia đình chỉ tiếp cận tín dụng phi ngân hàng; (ii) Ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng ngân hàng đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn tại Việt Nam
Thứ tư, các kết quả nhiên cứu kỳ vọng khuyến nghị một số chính sách phù hợp cho các tổ chức có liên quan nhằm cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng, sử dụng hiệu quả nguồn vốn, và nâng cao thu nhập của các hộ gia đình nông thôn tại Việt Nam
1.5 Kết cấu của luận án
Luận án có kết cấu bao gồm sáu chương:
Chương 1 “Giới thiệu” Trong chương này, tác giả trình bày những nội dung quan trọng của đề tài bao gồm đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu và kết cấu của đề tài
Trang 15Chương 2 “Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước” Trong phần này, tác giả lược khảo các lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng và ảnh hưởng của tín dụng ngân hàng đến thu nhập Do đó, thông tin bất cân xứng trong thị trường tài chính, lý thuyết kinh tế phát triển, lý thuyết sinh kế bền vững, cơ sở kinh tế học của tài chính
vi mô được xem là các lý thuyết nền tảng
Chương 3 “Phương pháp nghiên cứu” Quy trình nghiên cứu, mô hình thực nghiệm và các phương pháp được lựa chọn tương ứng với từng mục tiêu sẽ được trình bày cụ thể trong chương này
Chương 4 “Kết quả nghiên cứu và thảo luận” Chương này sẽ trình bày kết quả thống kê mô tả, phân tích định lượng và thảo luận các kết quả nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu đầu tiên Chương này cũng sẽ trình bày kết quả thống kê
mô tả, phân tích định lượng và thảo luận các kết quả nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ hai
Chương 5 “Kết luận và kiến nghị” Cuối cùng, Chương 5 sẽ tổng kết các kết quả nghiên cứu chính Từ đó, một số hàm ý chính sách phù hợp cũng được khuyến nghị nhằm cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn của hộ gia đình nông thôn trong mối tương quan với thu nhập
Trang 16CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng
(i) Thông tin bất cân xứng
Thông tin bất cân xứng (asymmetric information) hay thông tin không hoàn hảo (imperfect information) được giới thiệu lần đầu tiên bởi Akerlof (1970) mà dẫn đến các vấn đề lựa chọn nghịch (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard) được xem là các lý thuyết nền tảng giải thích cho sự hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình, đặc biệt là các hộ gia đình nghèo với mức thu nhập thấp (Stiglitz và Weiss, 1981; Williamson, 1987) Akerlof (1970) phát triển lý thuyết thông tin bất cân xứng thông qua “thị trường quả chanh” Lập luận cơ bản của Akerlof trong nhiều thị trường đó là người mua sử dụng thống kê thị trường để đo lường giá trị của một nhóm hàng hóa nào đó Do vậy, người mua chỉ nắm bắt được giá trị trung bình của toàn bộ thị trường, trong khi người bán có thông tin đầy đủ và tốt hơn của từng loại mặt hàng cụ thể Trong trường hợp này xuất hiện thông tin bất cân xứng, tức là tình trạng trong một giao dịch một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn bên còn lại Theo đó, khi người bán sản phẩm có thông tin tốt hơn về chất lượng sản phẩm hơn người mua, “thị trường quả chanh” phát triển khi sản phẩn chất lượng thấp đẩy sản phẩm chất lượng cao ra ngoài thị trường
Tín dụng là nguồn lực khan hiếm và bên đi vay có tiếp cận được nguồn lực này hay không còn phụ thuộc vào đánh giá rủi ro của bên cho vay Theo lý thuyết
cơ bản nhất của kinh tế là cân bằng thị trường, đó là nếu cầu vượt quá cung thì mức giá (lãi suất) sẽ tăng và ngược lại Giảm nhu vầu và/hoặc tăng cung cho đến khi cung cầu tương đương với mức giá (lãi suất) cân bằng mới Do đó, quyết định cung cầu tín dụng phụ thuộc vào lãi suất Tuy nhiên, theo Stiglitz và Weiss (1981), lý
Trang 17thuyết cung cầu tín dụng dựa trên lãi suất không thể giải thích được hành vi của người cho vay và người đi vay bởi người đi vay không chỉ dựa trên mức lãi suất trên thị trường trong khi người cho vay phải dựa trên thông tin của người đi vay để
ra quyết định cho vay
Theo Stiglitz và Weiss (1981), đối với thị trường tín dụng, lựa chọn nghịch cũng là hệ quả của thông tin bất cân xứng nghĩa là người đi vay tiềm năng có nhiều rủi ro hơn thì thường tìm kiếm các khoản vay và được lựa chọn, trong đó việc phân biệt giữa người đi vay ít rủi ro và nhiều rủi ro được phản ánh trong lãi suất Tuy nhiên, tăng lãi suất để bù đắp cho chi phí rủi ro tín dụng cao có thể đẩy người đi vay
ít rủi ro ra khỏi thị trường Kết quả là, người cho vay chỉ cho vay những dự án có rủi ro cao Thông tin bất cân xứng cũng dẫn đến vấn đề rủi ro đạo đức hay tâm lý ỷ lại, đó là tình trạng người đi vay không còn động cơ để cố gắng hay hành động một cách hợp lý như trước khi giao dịch xảy ra do người cho vay phải gánh chịu một phần của rủi ro Hậu quả là người đi vay không trả được nợ Nói chung, quyết định cấp tín dụng và cấp bao nhiêu phụ thuộc vào thông tin mà người cho vay có được từ người đi vay Do đó, không phải tất cả người có nhu cầu vay mượn tiếp cận được tín dụng
Một số nghiên cứu cho rằng vấn đề thông tin bất cân xứng trong thị trường tài chính cho các hộ gia đình nghèo và thu nhập thấp dường như nghiêm trọng hơn đối với các hộ gia đình giàu và có mức thu nhập cao Các nguyên nhân được chỉ ra
là do chi phí sàng lọc và giám sát rất cao (Beck, Demirguc-Kunt và Levine, 2004; Yaron và cộng sự, 1997; Mayo và Mullineux, 2001), trình độ giáo dục của người nghèo thấp và không thể cung cấp tài sản thế chấp cho các định chế tài chính (Binswanger và McIntire, 1987) Kết quả là họ bị loại ra khỏi thị trường tài chính và trong nhiều trường hợp phải dựa vào khu vực kinh tế phi ngân hàng với chi phí rất cao (Meyer và Nagarajan, 2000)
Trang 18(ii) Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng
Mặc dù phát triển tài chính có ảnh hưởng rộng lớn đến nền kinh tế nhưng khả năng tiếp cận tín dụng ở các hộ gia đình là cần thiết để nghiên cứu một cách đầy đủ tiếp cận tín dụng ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng đang được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều yếu tố cản trở các hộ gia đình sử dụng hệ thống tài chính một cách toàn diện Thật vậy, ở các nước với hệ thống tài chính kém phát triển, các hộ gia đình nghèo tiếp cận tín dụng bị hạn chế hơn những những hộ gia đình giàu có
Theo Claessens & Feijen (2007), có ba nhóm nguyên nhân chính cản trở khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình nghèo:
Thứ nhất, môi trường thể chế và kinh tế nói chung bất ổn Sự bất ổn của nền
kinh tế vĩ mô, môi trường thể chế yếu kém, sự can thiệp chính phủ quá lớn cũng như thiếu sự cạnh tranh được xem là các nhân tố cản trở khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính nói chung và tiếp cận tín dụng nói riêng Ngay cả khi có thể tiếp cận được dịch vụ tài chính thì với chi phí đắt đỏ hơn hoặc không thể cung cấp với cách thức
có thể thực hiện được
Thứ hai, cung và cầu không phù hợp Tiếp cận dịch vụ tài chính nói chung và
tiếp cận tín dụng nói riêng có thể vẫn còn hạn chế ngay cả khi loại bỏ được sự yếu kém của môi trường thể chế và điều này cũng đúng với cả thị trường tài chính phát triển nhất Có nhiều nguyên nhân về sự không phù hợp giữa cung và cầu Về phía cung, khách hàng là các hộ gia đình nghèo thường không phải là mục tiêu hướng đến của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính bởi các vấn đề thông tin, chi phí giao dịch cao, thực hiện hợp đồng kém, Về phía cầu, các hộ gia đình thường ít nhạy cảm về tài chính, tỷ lệ không biết chữ cao, không tin tưởng vào các định chế tài chính,…dẫn đến tự hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính
Thứ ba, sự ảnh hưởng của các lợi ích đặt biệt Theo Rajan và Zingales
(2003), sự phát triển tài chính nói chung và khả năng tiếp cận tín dụng nói riêng bị
Trang 19khống chế bởi các nhóm lợi ích đặt biệt Các nhóm này chống lại sự phát triển tài chính bởi nó tạo ra sân chơi bình đẳng và cạnh tranh hơn, làm giảm quyền lực và lợi ích nhóm của họ
Gần đây, tiếp cận dịch vụ tài chính được công nhận là khía cạnh quan trọng của phát triển Tăng cường tiếp cận tài chính đòi hỏi sự nỗ lực của chính phủ và các định chế tài chính Dựa trên cơ sở đó, Claessens & Feijen (2007) đề xuất chín khuyến nghị chính sách, tương ứng với bốn mục tiêu:
Mục tiêu thứ nhất, để tăng quy mô và sự thuận tiện để tiếp cận hệ thống tài chính: (i) Tăng quy mô các định chế tài chính và hệ thống tài chính nói chung để hưởng lợi từ kinh tế nhờ quy mô; (ii) Sử dụng mạng lưới hiện có để mở rộng phạm
vi tiếp cận; (iii) Cải thiện cơ sở hạ tầng tín dụng
Mục tiêu thứ hai, để ổn định môi trường kinh tế nói chung: (i) Cắt giảm tối thiểu sự điều tiết của chính phủ có thể; (ii) Nâng cao sự cạnh tranh trong hệ thống tài chính
Mục tiêu thứ ba, để giải quyết cung và cầu không phù hợp: (i) Đẩy mạnh tiếp cận toàn diện dịch vụ tài chính; (ii) Giới thiệu sản phẩm một cách sáng tạo và thực tiễn tốt nhất để giải quyết nhu cầu của khách hàng
Mục tiêu thứ tư, để cải thiện dữ liệu và mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển: (i) Thu thập dữ liệu và mở rộng phạm vi; (ii) Tiến hành nghiên cứu và phân tích thêm về tiếp cận tài chính
2.1.2 Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng đến thu nhập
(i) Lý thuyết Kinh tế phát triển
Một trong những phương pháp phổ biến dùng để đánh giá đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng GDP là sử dụng hàm sản xuất với hai yếu tố đầu vào cơ bản là vốn và lao động Sự gia tăng sản lượng trong nền kinh tế là do hai thành phần
Trang 20chính: (i) sự gia tăng của các yếu tố đầu vào; (ii) sự gia tăng của năng suất được đo lường bằng hệ số năng suất tổng hợp các yếu tố (Total Factor Productivity – TFP)
Cụ thể, các đóng góp của vốn, lao động và năng suất tổng hợp các yếu tố vào tăng trưởng GDP được đánh giá thông qua hàm sản xuất tổng thể như sau:
GDP = f(K, L,t)
Trong đó: GDP là tổng sản phẩm trong nước; K và L lần lượt là nhập lượng
của vốn và lao động; t là thời gian
Một giả định đơn giản nhất về ảnh hưởng của thời gian là sự tiến bộ về hiệu quả kinh tế như công nghệ và phương pháp quản lý Trong đó, các ảnh hưởng này làm tăng khối lượng sản phẩm sản xuất ra từ một sự kết hợp nhất định của hai nhân
tố sản xuất là vốn và lao động Tuy nhiên, điều này không thể ảnh hưởng đến các sản phẩm biên tương đối của các nhân tố sản xuất riêng rẽ Dựa trên giả định này, hàm sản xuất có thể được viết như sau:
GDP t = A t , f (K t , L t )
Trong đó, A là tiến bộ về hiệu quả kinh tế như công nghệ, phương pháp quản
lý, điều hành,… (được gọi chung là năng suất tổng hợp các nhân tố sản xuất)
Vậy, ba nguồn gốc của tăng trưởng tổng sản phẩm là sự gia tăng tổng năng
suất các nhân tố sản xuất (A), vốn (K) và lao động (L) theo thời gian t Trong đó,
khả năng tiếp cận tín dụng càng cao thì nhập lượng của vốn càng lớn
Ngoài ra, Claessens và Feijen (2007) chỉ ra tiếp cận dịch vụ tài chính là thước đo cho sự phát triển của lĩnh vực tài chính Theo khung phân tích về mối quan hệ giữa tài chính, thu nhập và các mục tiêu thiên niên kỷ của nghiên cứu này cho thấy tiếp cận dịch vụ tài chính có ảnh hưởng tích cực lên thu nhập Thu nhập có ảnh hưởng lên sức khỏe, giáo dục và bình đẳng giới và ngược lại Ngoài ra, thu nhập càng cao càng cắt giảm nghèo đói (Hình 2.1)
Trang 21Hình 2.1 Mối quan hệ giữa tài chính, thu nhập và các mục tiêu thiên niên kỷ
Nguồn: Claessens và Feijen (2007).
Đối với các hộ gia đình nghèo, nguồn vốn đóng vai trò rất quan trọng để tăng thu nhập Thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, kéo theo thu nhập của hộ gia đình thấp Tiếp đến, thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp Tiết kiệm thấp lại là nguyên nhân của sự thiếu hụt vốn đầu tư, và lại dẫn đến thu nhập thấp Đây chính là vòng lẩn quẩn của nghèo đói (Nguyễn Trọng Hoài, 2010)
(ii) Lý thuyết Sinh kế bền vững
Ngày nay, cách tiếp cận sinh kế đã được sử dụng phổ biến khi nghiên cứu về đặc điểm kinh tế - xã hội của các hộ gia đình ở các nước đang phát triển Sinh kế (livelihood) được Chambers & Conway (1992) định nghĩa như sau: “Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần
có để bảo đảm phương tiện sinh sống: sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu với và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn.” (Chambers & Conway, 1992, p.6)
Dựa vào lý thuyết Sinh kế của Chambers & Conway (1992), khung phân tích sinh kế bền vững của Solesbury (2003) dựa trên Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development) xây dựng một cách toàn diện về phát
Phát triển lĩnh vực tài
chính
Tiếp cận dịch vụ tài chính
Thu nhập (tăng trưởng)
Sức khỏe, giáo dục và bình đẳng giới
Nghèo đói (nghèo đói về thu nhập
và suy dinh dưỡng)
Trang 22triển sinh kế của con người và đói nghèo, do đó được ủng hộ và áp dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là các nước nghèo và đang phát triển Khung phân tích này xác định năm nhóm tài sản, hay còn được hiểu là “vốn” mà sinh kế dựa vào bao gồm:
(i) Vốn con người thể hiện kỹ năng, sự hiểu biết, kiến thức, khả năng và tình trạng sức khỏe của con người;
(ii) Vốn tự nhiên cho thấy các nguồn lực tự nhiên mà con người có thể sử dụng cho cuộc sống;
(iii) Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và các tài sản vật chất cần thiết cho sinh kế;
(iv) Vốn tài chính thể hiện các nguồn lực tài chính mà hộ gia đình có thể tiếp cận và sử dụng để đạt được mục đích sinh kế của họ;
Vốn xã hội là các quan hệ hay sự kết nối giữa cá nhân hay hộgia đình và các
tổ chức, các mạng lưới xã hội Để hỗ trợ cho sinh kế và giảm nghèo, khả năng tiếp cận đến các tài sản sinh kế này bằng cách sở hữu hay sử dụng cần được đẩy mạnh
(Hình 2.2)
Trang 23Hình 2.2 Khung phân tích sinh kế bền vững
Nguồn: Department for International Development (2003)
Tóm lại, tín dụng trong khu vực nông thôn có ảnh hưởng tích cực đến xóa đói giảm nghèo bởi nó cung cấp nguồn lực tài chính trực tiếp vào tay của người nghèo, cung ứng vốn tài chính cần thiết theo mức cho phép để người nghèo sử vốn con người và vốn xã hội mà họ đang sở hữu hiệu quả hơn
(iii) Cơ sở kinh tế học của tài chính vi mô
Một trong những quy luật đầu tiên của kinh tế học là quy luật lợi nhuận cận biên giảm dần theo vốn (diminishing marginal returns to capital) Theo đó, các hộ
cơ cấu
- Ở các cấp khác nhau của Chính phủ, luật pháp, chính sách công, các động lực, các qui tắc;
- Chính sách
và thái độ đối với khu vực
tư nhân;
- Các thiết chế công dân, chính trị và kinh tế (thị trường, văn hoá)
Các chiến lược sinh
kế
- Các tác nhân xã hội (nam,
nữ, hộ gia đình, cộng đồng, …);
- Các cơ
sở tài nguyên thiên nhiên;
- Cơ sở thị trường;
- Đa dạng;
- Sinh tồn hoặc tính bền vững
Các kết quả sinh kế
- Thu nhập nhiều hơn;
- Cuộc sống đầy
đủ hơn;
- Giảm khả năng tổn thương;
- An ninh lương thực được cải thiện;
- Công bằng xã hội được cải thiện;
- Tăng tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên;
- Giá trị không
Trang 24gia đình có ít vốn có khả năng kiếm được lợi nhuận cao hơn từ đầu tư so với các hộ gia đình có nhiều vốn hơn Kết quả là các hộ gia đình nghèo hơn có khả năng trả lãi suất cao hơn cho các ngân hàng so với hộ gia đình giàu có hơn (Hình 2.3) Quy luật lợi nhuận biên được rút ra từ giả định tính lõm của hàm sản xuất
Hình 2.3 Quy luật lợi nhuận cận biên giảm dần theo vốn
Liệu tất cả những hộ gia đình đi vay nghèo hơn thật sự khi chi trả lãi suất cao hơn so với các hộ gia đình giàu hơn? Giả định trong Hình 2.3 là tất cả mọi thứ trừ vốn là như nhau Do đó, các hộ gia đình giàu và nghèo có trình độ giáo dục, sự hiểu biết về kinh doanh, các hợp đồng thương mại, tiếp cận với các đầu vào khác,… là như nhau Tuy nhiên, giả định này có lẽ không đúng với thực tế Nếu giả định này không đúng, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng các hộ gia đình với ít vốn có thể có lợi nhuận cận biên thấp hơn các hộ gia đình nghèo (Hình 2.4) Do đó, các hộ gia đình nghèo thật khó có thể trả với mức lãi suất cao
Lợi nhuận biên cho hộ gia đình nghèo hơn
Lợi nhuận biên cho hộ gia đình giàu hơn
Sản
lượng
Vốn
Trang 25Hình 2.4 Lợi nhuận cận biên theo vốn với các đầu vào bổ sung
Ngay cả khi chúng ta giả định các yếu tố khác ngoài vốn giống nhau cho cả
hộ gia đình giàu và nghèo thì quy luật lợi nhuận cận biên theo vốn cũng khó được chấp nhận Nguyên nhân bởi hàm sản xuất có thể không lõm Điều này cho thấy kịch bản mà ở đó công nghệ sản xuất làm tăng lợi nhuận theo quy mô, có nghĩa lợi nhuận lớn hơn cho mỗi đồng đô la được đầu tư bởi các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn so với lợi nhuận đạt được bởi các doanh nghiệp có ít vốn hơn Lợi nhuận cận biên theo vốn với hàm sản xuất cho phép lợi ích kinh tế theo quy mô (khi mọi thứ khác là như nhau) Các hộ gia đình nghèo có lợi nhuận cận biên thấp hơn so với các
hộ gia đình giàu bất kể có ít vốn hơn (Hình 2.5) Do đó, các hộ gia đình nghèo không thể chi trả lãi suất cao cho các khoản vay
Lợi nhuận biên cho hộ gia đình giàu hơn
Lợi nhuận biên cho hộ gia đình nghèo hơn
Sản
lượng
Vốn
Trang 26Hình 2.5 Lợi nhuận cận biên theo vốn với hàm sản xuất cho phép lợi ích kinh
tế theo quy mô
Do sự vắng mặt của thị trường tài chính đối với người nghèo, các nhà hoạch định chính sách tập trung vào tranh luận về trợ cấp hay không trợ cấp cho các tổ chức tài chính trong việc cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo (Rhyne, 1998; Robinson, 2001; Gonzalez Vega, 2003) Cuộc tranh luận này dẫn đến hai phương pháp tiếp cận trong tài chính vi mô: cách tiếp cận giảm nghèo (Robinson, 2001; Rhyne, 1998)và cách tiếp cận hệ thống tài chính Cách tiếp cận giảm nghèo nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính giá rẻ cho người nghèo, đặc biệt là người rất nghèo, thông qua các khoản trợ cấp của chính phủ với mong muốn chính là các dịch vụ tài chính có thể góp phần giảm nghèo Trong khi đó, cách tiếp cận hệ thống tài chính nhằm mục đích áp dụng các nguyên tắc tài chính thương mại và xây dựng một hệ thống trung gian tài chính cho người nghèo mà không cần trợ cấp Cách tiếp cận giảm nghèo đối với tài chính vi mô với trợ cấp chính từ chính phủ đã làm tăng khả năng tiếp cận của các hộ gia đình nông thôn với các dịch vụ tài chính (McCarty, 2001)
Lợi nhuận biên cho hộ gia đình nghèo hơn
Trang 27Ngoài ra, Atieno (1997) cho rằng, tín dụng nông thôn đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, từ đó tăng thu nhập, chuyển đổi sản xuất
và áp dụng những tiến bộ mới trong nông nghiệp Sau đó, Diagna và cộng sự (2000)
đã bổ sung hai kênh ảnh hưởng của tín dụng đến thu nhập của hộ gia đình: (i) Tín dụng làm giảm bớt những giới hạn về vốn của các hộ gia đình, từ đó tiếp cận được vật tư nông nghiệp Đây là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo năng suất và thu nhập
vụ mùa của hộ nông dân; (ii) tiếp cận tín dụng làm giảm chi phí cơ hội của các tài sản vốn so với lao động gia đình, do đó khuyến khích áp dụng công nghệ mới nhằm tiết kiệm sức lao động và năng cao năng suất lao động – yếu tố cốt lõi cho sự phát triển nông nghiệp ở các quốc gia đang phát triển
2.2 Lược khảo các nghiên cứu trước
2.2.1 Các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng
Có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng với nhiều phương pháp, giai đoạn nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cũng chưa có sự đồng thuận cao
Tại Việt Nam, Nguyen (2007) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng và hành vi vay mượn trong thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam trong giai đoạn 1993 – 1998 Sử dụng mô hình Tobit, Probit và Heckman, nghiên cứu cũng cho thấy khả năng tiếp cận tín dụng nông thôn thấp Các bằng chứng chỉ ra các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ gia đình bao gồm giáo dục, điều kiện sức khỏe, tài sản cố định nắm giữ và khoảng cách từ nơi hộ gia đình sinh sống đến chi nhánh ngân hàng Trong đó, mức độ giáo dục của hộ gia đình ảnh hưởng lên khả năng tiếp cận tín dụng theo hình chữ U Nghĩa là, hộ gia đình có trình độ giáo dục thấp nhất và cao nhất thì lại vay mượn ít nhất
Trang 28Sử dụng mô hình hồi quy hai bước của Heckman (1979) và số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân ở ngoại thành Hà Nội vào tháng 8 năm 2008, Nguyễn Quốc Oánh và Phạm Thị Mỹ Dung (2010) điều tra các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ nông dân ở cận ngoại thành Hà Nội Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng độ tuổi và địa vị xã hội của chủ hộ, tín dụng không chính thức và thủ tục vay vốn là các nhân tố quan trọng ảnh hưởng lên khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ nông dân nơi đây Mặc khác, lượng vốn tín dụng vay được của các hộ nông dân ngoại thành Hà Nội chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố bao gồm trình độ học vấn của chủ hộ, thu nhập của hộ, mục đích vay vốn, diện tích đất và tài sản thế chấp
Để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ở nông thôn Việt Nam, nhóm Nghiên cứu Kinh tế phát triển (DERG) sử dụng mô hình lựa chọn mẫu của Heckman và uớc lượng các biến công cụ (IVE) dựa trên bộ số liệu Điều tra Tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình Việt Nam (VARHS) trong các năm 2006, 2008
và 2010 Nghiên cứu này cho thấy khả năng tiếp cận tín dụng ở nông thôn Việt Nam không bị nhiều rào cản tín dụng Bằng chứng là sự khác biệt giữa đặc điểm của các
hộ gia đình không có các khoản tín dụng và có các khoản tín dụng là không đáng kể dưới các khía cạnh như thu nhập, giáo dục, tình trạng hôn nhân, dân tộc và sở hữu đất đai Bên cạnh đó, các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân và Hội Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ nông dân Việt Nam liên quan đến khoản vay nông nghiệp, phi nông nghiệp và đầu tư
Duy và cộng sự (2012) điều tra các yếu tố ảnh hưởng đếnkhả năng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long dựa trên bảng khảo sát từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2009 của 325 hộ ở Cần Thơ, Sóc Trăng và Trà Vinh Sử dụng mô hình DHM (Double hurdle model) được phát triển bởi Cragg (1971) và mô hình hồi quy hai bước của Heckman, nghiên cứu cho thấy nguồn vốn của hộ gia đình và khoản vay là hai yếu tố có ảnh hưởng đáng kể nhất đến cầu tín dụng chính thức Các yếu tố khác như tình trạng hôn nhân, quy mô hộ
Trang 29gia đình, khoảng cách địa lý giữa hộ gia đình và trung tâm thị trường và biến giả cho các tỉnh nghiên cứu cũng ảnh hưởng đáng kể đến xác suất vay nợ của các hộ gia đình nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long
Dựa trên số liệu sơ cấp được thu thập từ 919 hộ gia đình thông qua phỏng vấn, Phan Đình Khôi (2013) phân tích các yếu tố ảnh hưởng lên khả năng tiếp cận tín dụng chính thức và phi ngân hàng của nông hộ trong 13 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long Sử dụng phương pháp kết hợp có điều kiện (CMP) do Roodman (2009) phát triển, ước lượng Probit, ước lượng Tobit và mô hình hồi quy hai bước của Heckman, các bằng chứng cho thấy 3 yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến khoản vay phi ngân hàng bao gồm sở hữu đất đai, lãi suất chính thức và thời hạn cho vay Đối với khả năng tiếp cận tín dụng vi mô, nghiên cứu chỉ ra 6 yếu tố có ảnh hưởng đáng kể: (i) làm việc cho chính quyền địa phương; (ii) thành viên tổ vay vốn; (iii) sổ hộ nghèo; (iv) trình độ học vấn; (v) lao động có tay nghề; và (vi) đường giao thông liên xã Ngoài ra, nghiên cứu cũng đưa ra được bằng chứng về sự tương tác giữa các thị trường tín dụng, cụ thể là số tiền vay tín dụng phi ngân hàng ảnh hưởng tích cực lên khả năng tiếp cận chương trình tín dụng vi mô
Sử dụng mô hình hồi quy Logit và ước lượng bình phương tối thiểu (OLS), Trần Ái Kết và Huỳnh Trung Thời (2013) phân tích các yếu tố ảnh hưởng tớikhả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ trên địa bàn tỉnh An Giang Nghiên cứu sử dụng dữ liệu sơ cấp thông qua điều tra, phỏng vấn ngẫu nhiên 150 nông hộ vào tháng 12 năm 2010 tại 3 huyện của An Giang bao gồm Châu Phú, Phú Tân và Chợ Mới Các kết quả cho thấy tỷ lệ nông hộ được vay nhỏ hơn nhu cầu hay giới hạn tín dụng là 24% Dựa trên phân tích ước lượng mô hình Logit, xác suất bị giới hạn tín dụng của nông hộ chịu ảnh hưởng bởi một số yếu tố bao gồm: (i) trình độ học vấn; (ii) nghề nghiệp của chủ hộ; (iii) diện tích đất thổ cư; (iv) giá trị tài sản của hộ; (v) sử dụng tín dụng thương mại Bên cạnh đó, kết quả phân tích hồi quy đa biến (OLS) chỉ ra lượng vốn tín dụng chính thức bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: (i)
Trang 30quan hệ xã hội của chủ hộ; (ii) mục đích vay vốn; (iii) giá trị tài sản; (iv) thu nhập của hộ
Bùi Văn Trịnh và Trương Thị Phương Thảo (2014) điều tra khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của nông hộ nuôi tôm dựa trên dữ liệu sơ cấp được thu thập từ 242 nông hộ thông qua phỏng vấn ở 10 xã thuộc 3 huyện có diện tích nuôi tôm lớn ở Trà Vinh Các bằng chứng chỉ ra rằng 5 yếu tố ảnh hưởng tích cực lên khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của nông hộ nuôi tôm bao gồm: (i) thu nhập của hộ; (ii) thời gian làm nghề (kinh nghiệm sản xuất); (iii) lãi suất vay của hộ; (iv) số lần giao dịch vay vốn với các tổ chức tín dụng của hộ; (v) số
tổ chức tín dụng tại địa phương Mặc khác, khoảng cách từ nơi hộ sinh sống đến trung tâm huyện được cho là yếu tố ảnh hưởng tiêu cực lên khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của nông hộ nuôi tôm tại tỉnh Trà Vinh
Để nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ chăn nuôi heo ở quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung (2015) sử dụng mô hình hồi quy Probit dựa trên số liệu
sơ cấp thông qua phỏng vấn trực tiếp của 223 nông hộ có chăn nuôi heo trên địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố có ảnh hưởng đáng kể lên khả năng tiếp cận tín dụng chính thức bao gồm: (i) giới tính của chủ hộ; (ii) trình độ học vấn của chủ hộ; (iii) độ tuổi của chủ hộ; (iv) vị trí xã hội của nông hộ; (v) thu nhập của nông
hộ
Nguyễn Văn Vũ An và cộng sự (2016) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng lên khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nuôi tôm sú tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh Qua phân tích thống kê mô tả, nhóm nghiên cứu này chỉ ra mục đích vay vốn tín dụng chính thức của nông hộ nuôi tôm sú tại địa bàn nghiên cứu là mở rộng quy mô sản xuất Sử dụng mô hình Tobit dựa trên số liệu sơ cấp được thu thập vào tháng 9 năm 2015 từ 245 nông hộ có hay không có vay vốn tín dụng chính thức, các bằng chứng cho thấy diện tích nuôi tôm, tiền lãi, thủ tục vay, vị trí xã hội của hộ và nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất là các yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến số tiền
Trang 31vay của nông hộ nuôi tôm sú tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh Trong đó, diện tích nuôi tôm là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến số tiền vay của nông hộ nuôi tôm
sú
Trên thế giới, Diagne (1999) sử dụng khái niệm giới hạn tín dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận thị trường tín dụng chính thức và phi ngân hàng của các hộ gia đình ở Malawi Dựa trên nguồn dữ liệu của 404 hộ gia đình trong 45 làng xã của 5 quận ở Malawi trong giai đoạn từ tháng 02 đến tháng 12 năm
1995 - nơi có 4 chương tình tín dụng vi mô được áp dụng, các kết quả cho thấy thành phần tài sản hộ gia đình đóng vai trò quyết định đến khả năng tiếp cận thị trường tín dụng chính thức hơn tổng giá trị tài sản hay quy mô đất đai mà hộ gia đình nắm giữ Trong đó, tỷ lệ đất đai và gia súc trên tổng giá trị tài sản của hộ gia đình có tương quan nghịch với khả năng tiếp cận tín dụng chính thức nhưng quy mô đất đai nắm giữ lại là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lên khả năng tiếp cận tín dụng phi ngân hàng
Mwangi và Sichei (2011) sử dụng mô hình Probit đa thức để tìm kiếm các yếu tố ảnh hưởng lênkhả năng tiếp cận tín dụng của các cá nhân ở Kenya dựa trên
bộ khảo sát tiếp cận tài chính quốc gia của Kenya (Kenya’s National FinAccess Survey) năm 2006 và năm 2009 Các kết quả cho thấy yếu tố quy mô hộ gia đình làm giảm khả năng tiếp cận các khoản vay từ ngân hàng và Hiệp hội tín dụng và tiết kiệm tích lũy (ASCAs) nhưng lại thúc đẩy vay nợ từ người mua nông sản Khoảng cách địa lý giữa hộ gia đình và các nhà cung ứng tín dụng có ảnh hưởng tiêu cực lên khả năng tiếp cận tín dụng Ngược lại, tuổi tác, giáo dục và thu nhập là các nhân tố nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng Trong đó, tuổi tác ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng theo hình chữ U ngược, nghĩa là mức độ gia tăng khả năng tiếp cận càng giảm khi gần đến tuổi nghỉ hưu
Ololade và Olagunju (2013) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của các nông hộ tại bang Oyo ở Nigeria sử dụng dữ liệu sơ cấp thông qua bảng hỏi được thu thập từ 210 quan sát Dựa trên kết quả thống kê mô tả
Trang 32và mô hình Logit, nghiên cứu cho thấy giới tính, tình trạng hôn nhân, sự bảo lãnh và lãi suất cao là các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của các nông hộ
Kiplimo và cộng sự (2015) nhận diện các yếu tố ảnh hưởng lên khả năng tiếp cận tín dụng của các nông hộ ở Kenya dựa trên 613 quan sát Kết quả hồi quy Logistic chỉ ra rằng các yếu tố bao gồm giáo dục, nghề nghiệp và tiếp cận dịch vụ khuyến nông có ảnh hưởng tích cực và ý nghĩa thống kê lên khả năng tiếp cận tín dụng Tuy nhiên, tổng thu nhập của hộ gia đình và khoảng cách địa lý giữa hộ gia đình và nhà cung cấp tín dụng có ảnh hưởng tiêu cực lên khả năng tiếp cận tín dụng
Assogba và cộng sự (2017) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ trong vùng Đông Bắc, Benin dựa trên dữ liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn của 120 nông hộ Sử dụng mô hình Logit, nghiên cứu cho thấy
số năm đi học, biết chữ, số thành viên của hộ, sự bảo lãnh, tài sản đảm bảo và lãi suất là các nhân tố có ảnh hưởng đáng kể lên khả năng tiếp cận tín dụng của nông
hộ trong vùng Đông Bắc, Benin Cụ thể, các yếu tố bao gồm giáo dục, biết ngôn ngữ địa phương, thuộc hiệp hội hoặc có sự bảo lãnh làm tăng xác suất tiếp cận tín dụng, trong khi có tài sản đảm bảo hoặc mức lãi suất cao làm cắt giảm khả năng tiếp cận tín dụng
2.2.2 Các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng đến thu nhập
Tại Việt Nam, Nhóm hành động chống đói nghèo (2004) cho thấy các dịch
vụ tài chính nông thông đã đóng góp vào sự phát triển kinh tế trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, theo kết quả từ Bộ dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS), báo cáo chỉ ra tỷ lệ hộ gia đình tại khu vực này được vay vốn là 25%, trong khi đó cả nước là 32% Phần lớn người nghèo được vay từ các quỹ chính thức và thường được trợ cấp bởi chính phủ Tỷ lệ hộ nghèo vay vốn bên ngoài và phải vay từ họ hàng hay bạn bè thân thuộc lần lượt là 6% và 3%
Trang 33Theo Claessens và Feijen (2007), tiếp cận dịch vụ tài chính nói chung và tiếp cận tín dụng nói riêng có đóng góp quan trọng vào thu nhập, đặc biệt là các hộ gia đình nghèo Có nhiều nghiên cứu được hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng và các yếu tố khác lên thu nhập của các hộ gia đình ở nhiều nước trên thế giới dưới góc độ quốc tế, quốc gia và từng địa phương
Nghiên cứu Kinh tế Phát triển (2010) sử dụng mô hình lựa chọn mẫu của Heckman và uớc lượng các biến công cụ (IVE) dựa trên bộ số liệu Điều tra Tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình Việt Nam (VARHS) trong các năm 2006, 2008 và 2010
để đánh giá hiệu quả của các khoản tín dụng đạt được từ các nguồn khác nhau đến phúc lợi và sinh kế của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ dương giữa tín dụng được tiếp cận năm 2006 với thu nhập các năm sau, đặc biệt đối với trường hợp thu nhập nông nghiệp Điều này chỉ ra rằng tín dụng có thể là giải pháp hiệu quả để giảm đói nghèo Việc tín dụng làm tăng thu nhập thông qua cải thiện năng suất lao động cho thấy rằng, cung cấp tín dụng có tiềm năng nâng cao phúc lợi cho nông dân trong dài hạn
Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2011) sử dụng số liệu sơ cấp từ 971 khách hàng tài chính vi mô tại 2 tỉnh Tiền Giang và Hải Dương để đánh giá ảnh hưởng của tài chính vi mô đến giảm nghèo tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy có 89,75% khách hàng đánh giá thu nhập đã tăng lên sau khi vay vốn Tuy vậy, tài chính vi mô có ảnh hưởng giúp thay đổi tổng mức thu nhập nhưng không làm thay đổi cơ cấu đóng góp của các hoạt động vào tổng thu nhập So sánh giữa quy mô vốn vay và mức độ tăng lên của thu nhập, một đồng vốn cho vay trung bình của tổ chức tài chính vi mô có ảnh hưởng đến tăng thu nhập cao hơn các tổ chức khác Tài chính
vi mô góp phần hỗ trợ cho khách hàng có việc làm tốt hơn, hoặc công việc hiện tại tốt hơn
Sử dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) và dựa trên Bộ dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) trong năm 2004 và 2006, Phan Thị Nữ (2013) điều tra ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng đến giảm nghèo ở nông
Trang 34thôn Việt Nam Các bằng chứng cho thấy phúc lợi của các hộ nghèo có mối quan hệ cùng chiều với khả năng tiếp cận tiếp dụng thông qua tăng chi tiêu của hộ Tuy nhiên, tín dụng không có ảnh hưởng lên việc cải thiện thu nhập của các hộ nghèo
Do đó, công tác giảm nghèo thông qua tín dụng vẫn chưa bền vững ở các hộ gia đình nông thôn Việt Nam
Áp dụng mô hình probit, Li và cộng sự (2013) ước lượng mức độ phân bổ tín dụng trong các hộ nông thôn của Trung Quốc và ảnh hưởng của nó trên thu nhập và tiêu dùng của hộ gia đình giai đoạn 2003 - 2009 Kết quả cho thấy, phân bổ tín dụng
có ảnh hưởng tiêu cực và đáng kể đến thu nhập và tiêu dùng Việc xây dựng một thị trường tín dụng nông thôn mới với nhiều quyền sở hữu tư nhân, cải thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, mở rộng cho vay giáo dục cho học sinh nghèo, cung cấp nhiều vốn hơn cho thị trường tín dụng nông thôn và khuyến khích các cơ quan tài chính chính thức cung cấp tín dụng cho các hộ nông thôn với các mô hình cho vay sáng tạo và công cụ tài chính là những giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu mức độ phân bổ tín dụng, do đó cải thiện thu nhập của hộ nông thôn
Đinh Phi Hổ và Đông Đức (2015) sử dụng dữ liệu bảng được rút ra từ Bộ dữ liệu khảo sát nguồn lực hộ gia đình Việt Nam (VARHS) từ năm 2006 đến 2012 và phương pháp khác biệt trong sự khác biệt (DID) kết hợp với mô hình hồi quy gộp (Pool – OLS) để đánh giá ảnh hưởng của tín dụng chính thức đến thu nhập của nông
hộ Cụ thể, tham gia tín dụng giúp cải thiện thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của nông hộ lên mức 9,5% Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng có ảnh hưởng lên thu nhập của nông hộ bao gồm: dân tộc Kinh, trình độ giáo dục trung bình của
hộ, quy mô hộ, tỷ lệ trẻ em trong gia đình, cú sốc trong nông nghiệp, tỷ lệ lao động tham gia hoạt động phi nông nghiệp, tỷ lệ lao động tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp, diện tích đất canh tác và tham gia gửi tiết kiệm
Trên thế giới, dựa vào dữ liệu của 4,380 hộ gia đình trong 217 ngôi làng của Pakistan giai đoạn 1991 – 1996, Khandker và Faruqee (2003) cho rằng các tổ chức cho vay chính thức cung cấp nhiều khoản vay hơn các tổ chức cho vay không chính
Trang 35thức và chi phí các khoản vay cũng cao hơn Những hộ gia đình sở hữu nhiều đất đai có khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng cao hơn những hộ sở hữu ít đất đai Ngoài ra, tài sản thế chấp cũng là yếu tố quan trọng cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng của Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Pakistan Nghiên cứu cũng cho thấy nguồn vốn tín dụng chính thức cho nông nghiệp từ Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Pakistan được sử dụng không hiệu quả Ngoài ra, các kết quả chỉ ra tín dụng
từ Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Pakistan đã đóng góp vào thu nhập của hộ gia đình và thu nhập mang lại cho hộ nhỏ cao hơn so với hộ lớn nhưng hộ lớn lại nhận phần lớn nguồn tín dụng
Sử dụng phương pháp điểm xu hướng (PSM) kết hợp phương pháp khác biệt trong sự khác biệt (DID), Takahashi và cộng sự (2010) nghiên cứu ảnh hưởng của tín dụng vi mô lên nghèo đói trong ngắn hạn ở Indonesia trong năm 2007 và năm
2008 Kết quả cho thấy rằng quyền sở hữu tài sản thế chấp không phải là yếu tố quan trọng quyết định sự tham gia chương trình Ngoài ra, các bằng chứng cho thấy tín dụng vi mô không có ảnh hưởng trực tiếp đến giảm nghèo
Khung phân tích và các giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu lý thuyết liên quan và lược khảo các nghiên cứu trước, nghiên cứu này đề xuất khung phân tích như Hình 2.6 Từ đó, các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
(H1): Các đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng đáng kể lên khả năng nhận được tín dụng ngân hàng
(H3): Các đặc điểm nhân khẩu học có ảnh hưởng đáng kể lên khả năng nhận được tín dụng ngân hàng
(H5): Các đặc điểm tài chính của hộ gia đình có ảnh hưởng đáng kể lên khả năng nhận được tín dụng ngân hàng
(H7): Là thành viên của các hiệp hội có ảnh hưởng tích cực lên khả năng nhận được tín dụng ngân hàng
Trang 36(H9): Cú sốc thiên nhiên có ảnh hưởng tiêu cực lên khả năng nhận được tín dụng ngân hàng
(H2): Các đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng đáng kể lên giá trị khoản vay (H4): Các đặc điểm nhân khẩu học có ảnh hưởng đáng kể lên giá trị khoản vay
(H6): Các đặc điểm tài chính của hộ gia đình có ảnh hưởng đáng kể lên giá trị khoản vay
(H8): Là thành viên của các hiệp hội có ảnh hưởng tích cực lên giá trị khoản vay
(H10): Cú sốc thiên nhiên có ảnh hưởng tiêu cực lên giá trị khoản vay
(H11): Các đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng đáng kể lên thu nhập của hộ gia đình nông thôn
(H12): Các đặc điểm nhân khẩu học có ảnh hưởng đáng kể lên thu nhập của
hộ gia đình nông thôn
(H13): Các đặc điểm tài chính của hộ gia đình có ảnh hưởng đáng kể lên thu nhập của hộ gia đình nông thôn
(H14): Các đặc điểm của tín dụng có ảnh hưởng đáng kể lên thu nhập của hộ gia đình nông thôn
(H15): Là thành viên của các hiệp hội có ảnh hưởng tích cực lên thu nhập của hộ gia đình nông thôn
(H16): Cú sốc thiên nhiên có ảnh hưởng tiêu cực lên thu nhập của hộ gia đình nông thôn
Trang 37Hình 2.6 Khung phân tích
Ghi chú: (1), (2), (3) lần lượt ký hiệu kênh tác động tương ứng; (*3) chỉ bao gồm trong kênh tác động 3
Trang 382.3 Thực trạng tiếp cận tín dụng ngân hàng trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Dựa trên Khảo sát tiếp cận tài chính (FAS) của IMF (2017), kết quả cho thấy tính không cân xứng hay bất cân bằng về giới tính trong tiếp cận tài chính nói chung
và tiếp cận tín dụng nói riêng, đặc biệt trong dịch vụ tài chính chính thức Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của hộ gia đình và cơ hội đầu tư cho tất cả mọi người, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng và tiềm năng phát triển kinh tế của một quốc gia Số liệu khảo sát FAS năm 2016 cung cấp thông tin tiếp cận tài chính theo giới tính từ các ngân hàng thương mại của 5 nước bao gồm Cabo Verde, Chile, Costa Rica, Malaysia và Poland trong giai đoạn 2010 - 2016 cho thấy, tỷ lệ vay mượn của nữ giới đều chiếm dưới 50% Trong đó, tỷ lệ này trung bình thấp nhất là Costa Rica và cao nhất là Poland
Hình 2.7 Khoảng cách giới tính trong tiếp cận tài chính thông qua tỷ lệ
vay mượn là nữ giới (2010–2016)
Nguồn: FAS (2017)
Trang 39Hình 2.8 Quy mô khoản vay và khoảng cách giới tính ở Brazil (2015 –
2016)
Nguồn: FAS (2017)
Một trường hợp điển hình khác là Brazil trong năm 2016 cho thấy dường như không có khoảng cách giới tính trong tiếp cận tín dụng ở thị trường chi vay nhỏ Tuy nhiên, ở thị trường cho vay lớn, tỷ lệ phụ nữ nhận được khoản vay thấp hơn nam giới (Hình 2.8) Thông tin hàm ý rằng các yêu cầu về hồ sơ cho vay có sự khác biệt về giới tính đối với quy mô các khoản vay khác nhau
Theo Cơ sở dữ liệu Tài chính toàn cầu (GFD) của Ngân hàng thế giới (World Bank) năm 2017, một nửa người lớn trên toàn thế giới báo cáo có vay tiền trong năm qua Tỷ lệ này cao hơn ở những nước phát triển mà hầu hết tiếp cận tín dụng chính thức được cung cấp bởi các định chế tài chính hoặc thẻ tín dụng Ngược lại, ở các nước đang phát triển, việc vay mượn ở thị trường phi ngân hàng (thông qua gia đình và bạn bè) chiếm đáng kể
Trang 40Hình 2.9 Tiếp cận tín dụng ở các nước phát triển và đang phát triển
Ghi chú: Vay mượn chính thức bao gồm tất cả người trưởng thành vay tiền từ một
tổ chức tài chính hoặc thông qua việc sử dụng thẻ tín dụng; Vay mượn bán chính thức bao gồm tất cả người trưởng thành vay tiền bán chính thức (từ các tổ chức tiết kiệm) nhưng không chính thức; Mượn từ gia đình hoặc bạn bè không bao gồm người trưởng thành vay chính thức và bán chính thức
Nguồn: GFD (2017)
Mục đích vay mượn chủ yếu là mua đất hoặc nhà, hay đầu tư tài chính trong cuộc đời của họ Năm 2017, 27% người trưởng thành ở các nền kinh tế có thu nhập cao cho biết khoản vay mua nhà chiếm áp đảo trong các ngân hàng hoặc các định chế tài chính Ngược lại, ở các nước đang phát triển, tỷ lệ này chiếm ít hơn 10%