Hoạt động thi hành án là khâu cuối cùng khi quyết định, bản án có hiệu lực của tòa án. Đối với hoạt động hoạt dộng thi hành án dân sự nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với toàn bộ quá trình giải quyết vụ án vì bản án, quyết định chỉ có ý nghĩa khi bản án, quyết định đó được thi hành trên thực tiễn, khi đó quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự vì thế cũng được bảo vệ một cách trọn vẹn.Với tình hình xã hội hiện nay, thi hành án dân sự đối với quyết định, bản án của tòa án không lúc nào cũng thuận lợi mà gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy em xin chọn đề tài: “Trình bày hoạt động của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án”. Từ đó em có cái nhìn rõ hơn về vai trò cũng như những kĩ năng kiểm sát trong hoạt động áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án này.
Trang 1LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hoạt động thi hành án là khâu cuối cùng khi quyết định, bản án có hiệu lực của tòa án Đối với hoạt động hoạt dộng thi hành án dân sự nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với toàn bộ quá trình giải quyết vụ án vì bản án, quyết định chỉ có ý nghĩa khi bản án, quyết định đó được thi hành trên thực tiễn, khi đó quyền
và lợi ích hợp pháp của các đương sự vì thế cũng được bảo vệ một cách trọn vẹn Với tình hình xã hội hiện nay, thi hành án dân sự đối với quyết định, bản án của tòa án không lúc nào cũng thuận lợi mà gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy em xin
chọn đề tài: “Trình bày hoạt động của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án” Từ đó em có cái nhìn rõ hơn về vai trò cũng
như những kĩ năng kiểm sát trong hoạt động áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành
án này Đề tài của em được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung
Chương 2: Hoạt động của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án
Trang 2NỘI DUNG Chương 1: Khái quát chung
1 Khái niệm về biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của
họ, do chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án
2 Điều kiện để áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Theo pháp luật quy định có 2 điều kiện để áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành dân sự:
Thứ nhất, người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc phải thực hiện hành vi theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Trọng tài, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh
Thứ hai, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án
3 Nguyên tắc khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là việc áp dụng quyền lực của nhà nước lên người bị thi hành án buộc người bị thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ của mình Vì vậy việc áp dụng biện pháp này phải đúng theo trình tự pháp luật quy định để đảm bảo quyền và lợi ích của những người có liên quan Vì vậy, Kiểm sát viên khi tiến hành công tác kiểm sát cần nắm rõ các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự trong trường hợp luật định Việc áp dụng phải đúng với quy định pháp luật không được thực hiện các trường hợp mà pháp luật không quy định Theo điều 71 Luật thi hành
án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung 2014 quy định những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự như sau:
Trang 3Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
Thứ hai, chủ thể của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành dân sự Theo pháp luật quy định việc áp dụng các biện pháp này chỉ được thực hiện bởi các chấp hành viên Việc tiến hành cưỡng chế thi hành án nhằm bảo vệ quyền lợi và nghĩa
vụ của người thi hành án và người được thi hành án Ngoài chấp hành viên thì các chủ thể khác áp dụng sức mạnh cưỡng chế thi hành án dân sự được coi là trái pháp luật Chỉ có trường hợp hỗ trợ chấp hành viên khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự như công an phường, đội dân phòng,…
Thứ ba, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải căn cứ vào bản án, quyết định
và từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Đối với nguyên tắc này đòi hỏi rất cao về hiểu biết tình hình xã hội của Chấp hành viên Vì việc tổ chức cưỡng chế thi hành án có thuận lợi hay không, an toàn hay không và có ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bản xảy ra việc cưỡng chế hay không tùy thuộc vào Chấp hành viên áp dụng
Thứ tư, tổ chức cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết khác Theo quy định tại điểm 2, khoản 1, Điều 8
Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ: “Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia sẽ làm giảm
Trang 4đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án” Vì vậy việc căn cứ các điều kiện, cũng như tổ
chức thi hành án Chấp hành viên phải tùy vào điều kiện hoàn cảnh người bị chấp hành án mà thi hành
Cuối cùng, thời hạn áp dụng biện pháp cưỡng chế Chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án Không được cưỡng chế thi hành án trong khoảng thời gian từ 22h đến 6h sáng ngày hôm sau Ngoài ra, cơ quan thi hành án dân sự không không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án
Chương 2: Hoạt động của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc áp dụng các
biện pháp cưỡng chế thi hành án
Khi tham gia kiểm sát việc cưỡng chế, Kiểm sát viên nghiên cứu trước các tài liệu thi hành án có liên quan đến việc cưỡng chế, nếu phát hiện có vi phạm trong việc tổ chức cưỡng chế thể hiện trong tài liệu thi hành án thì báo cáo Lãnh đạo viện
để yêu cầu hoặc kiến nghị, kháng nghị khắc phục; nếu phát hiện vi phạm tại nơi tổ chức cưỡng chế thì có quan điểm yêu cầu Cơ quan thi hành án khắc phục, sau đó báo cáo Lãnh đạo viện Từ đó những hoạt động của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án:
Thứ nhất, kiểm sát căng cứ cưỡng chế thi hành án dân sự.
Quyết định cưỡng chế thi hành án theo biện pháp nào thì phải ban hành theo mẫu hiện hành của biện pháp cưỡng chế đó (Mẫu theo Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp ban hành thay thế Thông tư số 09/2011/TT-BTP ngày 30/5/2011 của Bộ Tư pháp)
Trang 5Căn cứ để ban hành quyết định cưỡng chế thi hành án phải đầy đủ, phù hợp với đúng nội dung quyết định cưỡng chế như: Khoản 5 Điều 20; Điều 71 Luật THADS; bản án, quyết định; quyết định thi hành án
Thứ hai, kiểm sát việc lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án.
Kế hoạch cưỡng chế thi hành án phải do người có thẩm quyền ký ban hành và đầy đủ các nội dung chính sau: Tên người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế; biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương án tiến hành cưỡng chế; yêu cầu về lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế; dự trù chi phí cưỡng chế
Kế hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án
Thứ ba, kiểm sát chi phí cưỡng chế thi hành án
Kiểm sát viên cần căn cứ Điều 44, Điều 73 Luật THADS năm 2014, Điều 43 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS, Thông tư liên tịch số 184/2011/ TTLT-BTC-BTP ngày 19/12/2011 (Thông tư liên tịch số 184) của Bộ Tài chính,
Bộ Tư pháp hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính về kinh phí tổ chức cưỡng chế THADS để kiểm sát các chi phí cưỡng chế thi hành án do từng đối tượng phải chi trả, mức chi cụ thể cho từng nội dung chi phí như:
a) Chi phí thông báo về cưỡng chế
Trang 6b) Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án
c) Chi phí cho việc định giá, giám định tài sản, định giá lại tài sản, bán đấu giá tài sản
d) Chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án
đ) Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ, tài liệu
Chi phí cưỡng chế do người được thi hành án phải chịu:
a) Chi phí định giá lại tài sản quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch này nếu người được thi hành án yêu cầu định giá lại, trừ trường hợp định giá lại do có vi phạm quy định về định giá
b) Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ Trường hợp người được thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án không đúng thì người đó phải thanh toán các khoản chi phí thực tế do việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án đó Ngân sách nhà nước bảo đảm các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án, bao gồm:
Trang 7a) Chi phí họp bàn cưỡng chế do Chấp hành viên tổ chức họp với các cơ quan liên quan trước khi tiến hành cưỡng chế
b) Chi phí cho việc bố trí phiên dịch, biên dịch trong trường hợp đương sự là người dân tộc thiểu số của Việt Nam mà không biết tiếng Việt và trường hợp đương sự là người nước ngoài
c) Chi phí định giá lại tài sản quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch này trong trường hợp có vi phạm quy định về định giá theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 99 Luật Thi hành án dân sự
d) Phí, chi phí bán đấu giá tài sản tài sản không thành theo quy định tại khoản
3 Điều 43 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ
đ) Chi phí xác minh điều kiện thi hành án quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Thông tư liên tịch này trong trường hợp chủ động thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự
e) Chi phí cưỡng chế thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án, người được thi hành án được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ g) Chi phí cưỡng chế trong trường hợp không thu được tiền của người phải thi hành án Bộ Tư pháp quy định cụ thể đối với các trường hợp này
h) Chi phí khi đang tiến hành tổ chức cưỡng chế nhưng phải ngừng, đình chỉ
vì các lý do sau:
Do sự kiện bất khả kháng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 2 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ;
Trang 8Trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định tại điểm a, điểm b, điểm d, điểm đ khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự
Đối với các trường hợp tạm ngừng, đình chỉ vì các lý do chủ quan của người được thi hành án hoặc người phải thi hành án thì chi phí cưỡng chế thi hành án đến thời điểm tạm ngừng, đình chỉ do đối tượng gây tạm ngừng, đình chỉ chịu
i) Các khoản chi cho việc áp dụng biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài liệu của người phải thi hành án trong trường hợp người thi hành án được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật hoặc trường hợp không thu được tiền của người phải thi hành án
k) Toàn bộ chi phí cưỡng chế và chi phí định giá, định giá lại tài sản đã thực hiện nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền huỷ toàn bộ quá trình cưỡng chế
l) Chi phí xác minh điều kiện thi hành án (khoản 1 Điều 44 Luật THADS năm
2008 quy định trường hợp người được thi hành án có đơn yêu cầu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án, người được thi hành án chịu các chi phí Luật THADS năm 2008 đã sửa đổi, bổ sung, chi phí xác minh do Cơ quan THADS chi trả)
Về mức chi cưỡng chế thi hành án được quy định cụ thể tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 184
Thứ tư, kiểm sát việc xử lý tài sản chung để thi hành án.
Hiện nay, việc xác định phân chia, xử lý tài sản chung của người phải thi hành án trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành án rất nhiều cơ quan THADS không thực hiện việc xác định, phân chia Đại đa số tài sản kê biên để thi hành án là
Trang 9quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất thuộc sở hữu chung, vi phạm phổ biến khi xử lý tài sản là của hộ gia đình, trong khi người phải thi hành án là hai vợ chồng hoặc tài sản chung trong hôn nhân của hai vợ chồng nhưng người phải thi hành án chỉ là vợ (hoặc chồng) Để khắc phục tình trạng trên, khi kiểm sát hồ sơ cưỡng chế tài sản thi hành án thuộc sở hữu chung Kiểm sát viên cần chú trọng các nội dung sau:
Căn cứ bản án, quyết định thi hành án để xác định người phải thi hành án là hai vợ chồng hay chỉ riêng vợ hoặc chồng hay nghĩa vụ liên đới thi hành án
Xác định xem tài sản tổ chức cưỡng chế kê biên thuộc sở hữu như thế nào, nếu của hộ gia đình thì Chấp hành viên đã xác minh tại thời điểm xác lập quyền sở hữu chung của tài sản thì hộ gia đình đó có những ai được quyền sở hữu chung với tài sản đó Trường hợp chỉ riêng vợ hoặc chồng hoặc một người có nghĩa vụ liên đới thì xác định tài sản cưỡng chế đó trong hay ngoài thời kỳ hôn nhân để xử lý Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự; hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự; hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo
mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên
Trang 10yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự; Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án
Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ
sở hữu chung được xử lý như sau:
Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án; Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ
Chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung; trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ
sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ; trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101 của Luật này.”
Việc kê biên, xử lý tài sản chung của người phải thi hành với người khác được thực hiện như sau: