1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quyền im lặng trong pháp luật hoa kỳ - 9 điểm

12 106 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 28,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói đến quyền im lặng ta có thể hiểu ngay đó là quyền cơ bản của mỗi người và họ có thể sử dụng quyền im lặng của chính mình để bảo vệ lợi ích hợp pháp của chính họ. Chính vì vậy, quyền im lặng đã có lịch sử từ rất lâu đời. Đặc biệt ở thế kỷ 16 tại Anh có thông điệp là The nemo brocard Latin tenetur se ipsum accusare (không có người đàn ông nào bị ràng buộc để buộc tội mình ) đã trở thành một lời kêu gọi cho bất đồng chính kiến tôn giáo và chính trị bị truy tố tại các tòa án. Chính vì tầm quan trọng của nó, quyền im lặng đã được ghi nhận và đảm bảo thực thi ở nhiều nước như Mỹ, Canada, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ… trong đó có cả Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa thừa nhận trực tiếp quyền im lặng trong các văn bản pháp luật. Mà chỉ thừa nhận gián tiếp thông qua các điều 41, 42, 43 của Luật tố tụng hình sự năm 2015. Vì vậy để hiểu rõ hơn về quyền im lặng em xin chọn đề tài: “Quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kỳ và những kinh nghiệm cho Việt Nam” để làm rõ hơn vai trò của quyền này

Trang 1

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nói đến quyền im lặng ta có thể hiểu ngay đó là quyền cơ bản của mỗi người

và họ có thể sử dụng quyền im lặng của chính mình để bảo vệ lợi ích hợp pháp của chính họ Chính vì vậy, quyền im lặng đã có lịch sử từ rất lâu đời Đặc biệt ở thế

kỷ 16 tại Anh có thông điệp là The nemo brocard Latin tenetur se ipsum accusare

('không có người đàn ông nào bị ràng buộc để buộc tội mình ") đã trở thành một lời kêu gọi cho bất đồng chính kiến tôn giáo và chính trị bị truy tố tại các tòa án Chính

vì tầm quan trọng của nó, quyền im lặng đã được ghi nhận và đảm bảo thực thi ở nhiều nước như Mỹ, Canada, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ… trong đó

có cả Việt Nam Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa thừa nhận trực tiếp quyền im lặng trong các văn bản pháp luật Mà chỉ thừa nhận gián tiếp thông qua các điều 41, 42,

43 của Luật tố tụng hình sự năm 2015 Vì vậy để hiểu rõ hơn về quyền im lặng em

xin chọn đề tài: “Quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kỳ và những kinh nghiệm cho Việt Nam” để làm rõ hơn vai trò của quyền này Bài của em được chia làm 3

chương:

Chương 1: Khái quát chung về quyền im lặng

Chương 2: Nội dung cơ bản của quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kỳ

Chương 3: Quyền im lặng và những kinh nghiệm để hoàn thiện chế định quyền im lặng trong pháp luật Việt Nam

Trang 2

NỘI DUNG Chương 1: Khái quát chung

1. Lịch sử về quyền im lặng:

Quyền im lặng không được ghi nhận rõ ràng trong các thế kỉ trước thế kỉ XVI Lúc đó, ở Anh tại thế kỉ XVI có quan điểm lịch sử cho rằng sự cân bằng quyền lực

giữa nhà nước và quyền công dân nên đã có lời kêu gọi rằng The nemo brocard Latin tenetur se ipsum accusare Tức là có nghĩa “không ai bị ràng buộc để buộc tội

mình, bất kì hình thức hoặc toà án nào” Mãi sau thế kỉ XVII, sau cuộc Cách mạng Nghị viện nhằm bảo vệ nhân quyền cơ bản, chống lại những bất công trong quá trình xét xử của bộ máy hành pháp phong kiến thì quyền im lặng đã được ghi nhận trong Bộ luật dân sự nước Anh lúc bấy giờ Từ đó, trong quá trình tố tụng của

mình, nước Anh đã thay đổi từ học thuyết “người bị buộc tội trình bày” đến học thuyết “kiểm tra sự buộc tội” Từ khi học thuyết “kiểm tra sự buộc tội” ra đời nó

đã góp rất lớn trong quá trình tiến hành tố tụng Nó đã làm giảm tỉ lệ ép cung, mớm cung của các điều tra viên đối với người phạm tội Học thuyết này đã tạo ra cuộc cách mạng lớn trong việc tiến hành điều tra ở Anh tại bấy giờ

Tuy nhiên, khi nhắc đến quyền im lặng thì ta luôn nghĩ đến về quyền im lặng

của Hoa Kỳ với thuật ngữ “Miranda warning” Thuật ngữ này bắt nguồn từ một vụ kiện “Miranda kiện Arizona” Tức là “năm 1963, Ernesto Miranda bị bắt giữ vì

tội bắt cóc và cưỡng dâm Ông nhận lỗi nhưng không bao giờ được báo về quyền

im lặng do hiến pháp, cũng như quyền có luật sư có mặt trong phòng khi cảnh sát thẩm vấn Trong vụ xét xử, các công tố viên chỉ tạo ra lời nhận tội của ông thành chứng cớ và ông bị kết án Tối cao Pháp viện quyết định trong Miranda kiện Arizona, 384 U.S 436 (1966), rằng Miranda cảm thấy bị đe dọa trong cuộc thẩm vấn và ông không hiểu có quyền không tự buộc tội và quyền có luật sư Theo lý luận này, họ giải tội ông.” Vì vậy Miranda warning” được dùng để bảo vệ quyền của nghi phạm hình sự nhằm tránh việc tự buộc tội chính mình do bị bức cung, hay dùng nhục hình của các cơ quan điều tra

Trang 3

2. Khái niệm quyền im lặng

Có quan điểm cho rằng khái niệm quyền im lặng: “Quyền im lặng là một nguyên tắc pháp lý trao cho bất cứ cá nhân nào quyền từ chối trả lời câu hỏi do cảnh sát hoặc nhân viên tòa án đặt ra, trước hoặc trong giai đoạn tố tụng hình sự Đồng thời, quyền này cũng yêu cầu thẩm phán hay bồi thẩm đoàn không được phép đưa ra suy đoán theo hướng bất lợi cho bị đơn từ sự im lặng của họ.”

Quyền im lặng đã được ghi nhận và đảm bảo thực thi ở nhiều nước như Mỹ, Canada, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ… Ở pháp luật Nhật Bản quy định quyền im lặng là quyền không khai báo khi không có sự tư vấn, chứng kiến của luật sư Với khái niệm đó, im lặng không có nghĩa là không nói bất

cứ điều gì mà im lặng là chưa khai khi chưa có sự hiện diện của luật sư Và để thực hiện quyền im lặng không phải là đơn giản Đối với một số bang ở Hoa Kỳ yêu cầu nghi phạm phải lên tiếng xác nhận rằng mình đã hiểu quyền lợi của mình trước khi tiến hành thẩm vấn qua câu hỏi : “Sau khi đã cân nhắc quyền lợi của mình, anh có muốn trả lời chúng tôi không?” Nếu nghi phạm trả lời là “không”, cảnh sát phải dừng việc thẩm vấn cho tới khi nghi phạm thay đổi ý định hoặc triệu tập được luật

sư Theo Tòa án tối cao của Hoa Kỳ, cảnh sát trước khi thẩm vấn phải thông báo

nghi phạm hình sự như sau: “Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa Anh có quyền có luật sư trước khi khai báo với cảnh sát và luật sư sẽ hiện diện khi cảnh sát thẩm vấn anh Nếu anh không thể tìm được luật sư, anh sẽ được cung cấp một luật sư trước khi trả lời các câu hỏi Anh có thể trả lời câu hỏi khi không có luật

sư, nhưng anh vẫn có quyền ngưng trả lời bất cứ lúc nào để chờ sự có mặt của luật sư".

Thực tế hiện nay, quyền im lặng được xuất phát 2 luồng quan điểm khác nhau Quan điểm cho rằng quyền im lặng chỉ là một trong những vấn đề cụ thể của nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự đó là nguyên tắc suy đoán vô tội Còn quan

Trang 4

điểm khác lại cho rằng quyền im lặng là một trong những quyền để thực hiện quyền bào chữa, là bộ phận cấu thành của quyền bào chữa Như vậy với những quan điểm trên ta có thể thấy quyền im lặng phải xuất phát từ nguyên tắc trong tố tụng hình sự

là nguyên tắc suy đoán vô tội Vì người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản

án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Từ các liên hệ ở trên, em có thể định quyền im lặng là việc người bị nghi là có tội, bị can và bị cáo có quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội trong suốt quá trình tố tụng diễn ra

Chương 2: Nội dung cơ bản của quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kỳ

Trách nhiệm chứng minh người bị nghi là phạm tội thuộc về Chính phủ và các

cơ quan tiến hành tố tụng chứ không phải thuộc về người bị nghi là phạm tội, bị can, bị cáo Để buộc tội họ thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được các chứng cứ của tội phạm và cấu thành tội phạm Vì vậy quyền im lặng được xem là quyền cơ bản của mỗi công dân Nó được ghi nhận trong bản Hiến pháp của Hoa

Kỳ đã từ lâu đời Để nói về nội dung cơ bản của quyền im lặng trong pháp luật Hoa

Kỳ ta sẽ có những vấn đề sau:

Thứ nhất, về phạm vi quyền im lặng đối với những bị can, bị cáo hay người

làm chứng Trong các giai đoạn tố tụng trước khi mở phiên tòa, nghi phạm, bi can

có quyền được giữ sự im lặng tuyệt đối Tại phiên tòa, bị cáo có một quyền im lặng tuyệt đối Như vậy, người bị nghi là phạm tội, bị can, bị cáo có quyền im lặng tuyệt đối mà không cần phải đưa ra bất kỳ lí do gì Còn đối với người làm chứng thì quyền im lặng chỉ có giá trị tương đối Tức là, giả sử khi bị hỏi về những sự việc xảy ra tội phạm thì người làm chứng phải hợp tác với các cơ quan điều tra để tiến hành giải quyết vụ việc.( trừ trường hợp từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào nếu câu trả lời có thể dẫn đến một sự truy tố hình sự)

Trang 5

Thứ hai, quyền im lặng áp dụng với 3 chủ thể khác nhau riêng biệt Quyền im

lặng của bị cáo, có chức năng bảo vệ bị cáo trước sự đòi hỏi của phía công tố buộc

bị cáo phải đứng lên bục nhân chứng trong vụ án của chính mình Quyền im lặng của người làm chứng, theo đó người làm chứng có quyền từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào nếu câu trả lời có thể dẫn đến một sự truy tố hình sự Quyền im lặng của nghi phạm ngăn chặn các cơ quan công quyền sử dụng các lời khai, lời nhận tội được thu thập không tự nguyện trong giai đoạn trước phiên tòa Đối với quyền im lặng không chỉ giới hạn ở lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn ở tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, hoặc thủ tục lập pháp

Thứ ba, quyền im lặng được cấu thành với 3 yếu tố đặc biệt: tính chất lời khai,

tính chất tự buộc tội và tính chất bị cưỡng ép Năm 2004, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ

đã có quy định rằng “Để được bảo vệ bởi Tu chính án thứ 5, một hành vi phải có mang tính chất lời khai, tính chất tự buộc tội và tính chất bị cưỡng ép” Vì vậy để hiểu hơn về quyền im lặng ta phải định nghĩa được tính chất lời khai, tính chất tự buộc tội và tính chất bị cưỡng ép

Về tính chất lời khai, hiện nay Tòa án Tối cao chưa đưa được ra một khái

niệm nào cụ thể về “tính chất lời khai” Nhưng Tòa án Tối cao ghi nhận rằng cụm

từ “trở thành nhân chứng” trong Tu chính án thứ 5 đã giới hạn hành vi được bảo vệ bởi quyền im lặng lại tính chất lời khai

Về tính chất tự buộc tội, là hành vi đó khiến cho chủ thể thực hiện hành vi có thể đối mặt với trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt Như vậy, đối với tính chất này, nếu bị can, bị cáo có 2 tính chất còn lại thì người này có quyền sử dụng quyền im lặng

Về tính chất cưỡng ép, để biết có hay có tính chất này thì xem việc “ý chí” của người đó có bị tác động không Tính chất cưỡng ép có thể có ở các lệnh của thẩm phán hay các quyết định của cơ quan điều tra Tính chất cưỡng ép có thể có từ hành

vi cũng có thể có thể từ lời đe dọa

Trang 6

Vậy phải có tất cả cấu thành 3 yếu tố này thì người bị can, bị cáo mới có thể

áp dụng quyền im lặng của mình Thiếu một trong 3 yếu tố sẽ không được

Thứ tư, “Miranda warning” – cảnh báo Miranda xuất phát từ Tòa án tối cao

của Hoa Kỳ, cảnh sát trước khi thẩm vấn phải thông báo nghi phạm hình sự như

sau: “Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa Anh có quyền có luật sư trước khi khai báo với cảnh sát và luật sư sẽ hiện diện khi cảnh sát thẩm vấn anh Nếu anh không thể tìm được luật sư, anh sẽ được cung cấp một luật sư trước khi trả lời các câu hỏi Anh có thể trả lời câu hỏi khi không có luật sư, nhưng anh vẫn có quyền ngưng trả lời bất cứ lúc nào để chờ sự có mặt của luật sư".

Khi thông báo lời đó xong, mọi thủ tục từ đó bắt đầu Nếu người đó tiến hành

sử dụng các lời khai của mình thì thủ tục sẽ theo một thủ tục khác Còn nếu người

đó áp dụng quyền im lặng sẽ chuyển qua thủ tục khác Như nếu nghi phạm sử dụng quyền im lặng tức lúc đó bắt đầu cảnh sát hỏi anh ta có luật sư hay chưa Nếu nghi phạm không thể thuê một luật sư, Chính phủ sẽ chỉ định một luật sư cho họ Quyền

im lặng chỉ bị tước đi khi nghi phạm tự từ bỏ quyền đó của chính mình một cách tư nguyện

Thứ năm, thủ tục Due Process Voluntariness Test (nghĩa là “trình tự công bằng kiểm tra tính tự nguyện”) còn gọi tên khác là Test of Totality of the Circumstances Đối với thủ tục này có trình tự giai đoạn riêng vì thủ tục khá quan

trọng đối với việc xem xét tính khách quan của các cơ quan đối với người bị thẩm

vấn hay không Due Process Voluntariness Test có 2 giai đoạn: (1) Kiểm tra người

bị thẩm vấn có biết về quyền im lặng của mình hay không? (2) kiểm tra tính tự nguyện của lời khai

Ở giai đoạn kiểm tra người bị thẩm vấn có biết về quyền im lặng của mình hay không, xem xét xem cảnh sát khi bắt nghi phạm ở trước buổi thẩm vấn có thông báo cho họ rằng họ có quyền này Việc thông báo đó giúp cho nghi phạm biết được

Trang 7

mình có thể sử dụng hoặc không sử dụng quyền im lặng quyền im lặng Người thẩm vấn sẵn sàng đáp ứng đối từng điều kiện sử dung quyền im lặng của mình đối với nghi phạm lúc này Nếu một cuộc thẩm vấn bắt đầu mà không có cảnh báo Miranda, bất kỳ lời khai nào được đưa ra đương nhiên được xem như là kết quả của

sự cưỡng ép và do đó, không thể được chấp nhận và sử dụng tại phiên tòa như là chứng cứ

Ở giai đoạn tiếp theo là kiểm tra tính tự nguyện của lời khai Để đảm bảo được giai đoạn này hoàn thiện thì phải đảm bảo được giai đoạn đầu thực hiện đúng thủ tục Giai đoạn này được Tòa án Hoa Kỳ áp dụng các tiêu chuẩn định tính, có thể thay đổi theo từng vụ án cụ thể, để xem xét khía cạnh khách quan và khía cạnh chủ quan của cuộc thẩm vấn

Due Process Voluntariness Test bắt buộc phải có 2 giai đoạn này, chỉ hoàn thiện cả 2 giai đoạn này thì thủ tục mới được hợp lệ Thiếu 1 trong 2 giai đoạn Due Process Voluntariness Test sẽ không hợp lệ.

Thứ sáu, nguyên tắc Fruit of poisonous tree

Nguyên tắc này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1920 trong vụ án Silverthorne Lumber Co v United States được xử bởi Tối cao Pháp viện Hoa kỳ Trong vụ án này, để buộc tội Silverthorne trốn thuế, các điều tra viên liên bang đã thu giữ sổ sách kế toán của Silverthorne và sao chép nó mà không được sự cho phép của công

ty này cũng như không dựa trên bất cứ một trát đòi hay quyết định nào của tòa Điều này vi phạm Tu chính án thứ Tư của Hiến pháp Hoa Kỳ trong đó chống lại hành vi khám xét không có trát hợp pháp của nhà nước Tuy nhiên, sự thật vụ án đó

là Silverthorne thực sự có trốn thuế và thể hiện rõ ràng trong sổ sách kế toán của công ty này Vậy liệu một sai sót của nhà nước có xứng đáng để cho tòa án bỏ qua những chứng cứ do nhà nước trình lên, dẫn đến bỏ lọt tội phạm không? Trước câu hỏi đó, Tối Cao Pháp viện đã quyết định cho ra đời nguyên tắc “quả trên cây sâu”

Trang 8

nổi tiếng, trong đó cho rằng bất kỳ chứng cứ nào được thu thập một cách bất hợp pháp đều không được phép trình tòa Tòa án có nghĩa vụ không xem xét những chứng cứ này Tức là, khi tòa án đối mặt với một chứng cứ do phe buộc tội đưa ra, trước hết họ cần phải xem xét xem chứng cứ này có được thu thập một cách hợp pháp hay không Nếu tòa án cho rằng việc thu thập chứng cứ là hợp pháp thì tòa án mới xem xét đến thông tin trong chứng cứ đó Nếu tòa án cho rằng việc thu thập chứng cứ được tiến hành bất hợp pháp, tính xác thực và thông tin trong chứng cứ không cần (và không được) xem xét đến.1

Từ đó, ta có thể hiểu Fruit of poisonous tree có nghĩa là khi nghị án và khi

tuyên án, Tòa án không được phép sử dụng những chứng cứ bất hợp pháp (như lời khai bị bức cung hay dùng nhục hình) làm cơ sở cho phán quyết của mình

Từ đó, ta có thể thấy với 6 nội dung ở trên ta có thể hiểu được quyền im lặng

đã hình thành từ rất lâu đời Nó có vai trò to lớn trong hệ thống pháp luật các nước đặc biệt Hoa Kỳ đã áp dụng rất thông thạo Khi quyền im lặng được sử dụng rộng rãi từ đó có thể sẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người bị oan rất nhiều Đảm bảo kết luận bản án một cách chính xác nhất và khách quan nhất

Chương 3: Quyền im lặng và những kinh nghiệm để hoàn thiện chế định

quyền im lặng trong pháp luật Việt Nam

Hiện nay, ở Việt Nam chưa quy định rõ ràng chế định quyền im lặng trong pháp luật như thừa nhận nhưng vẫn chưa thừa nhận Như thay đổi một số điều trong Hiến pháp 2013 từ đó những người bị nghi là phạm tội làm giảm việc lạm dùng quyền của cơ quan tiến hành tố tụng Như Khoản 1 Điều 33 Hiến pháp 2013

quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng

1 Quyền im lặng và nguyên tắc “quả trên cây sâu” bác bỏ chứng cứ được thu thập

bất hợp pháp Luật Khoa tạp chí 27/11/2015 by Đức Việt

Trang 9

minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.”

Tại nước ta, nguyên tắc suy đoán vô tội như là cách hòa chung để bảo vệ những người bị nghi là phạm tội Không ai có thể bị coi là có tội khi tội phạm do họ thực hiện chưa được chứng minh theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình

sự năm 2015 và chưa được xác định bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của toà án Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan điều tra, viện kiểm sát; bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội

Tại điều 10 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định về nguyên tắc xác định sự thật

của vụ án như sau: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình

vô tội” Đây ta có thể hiểu hàm ý rằng bị can, bị cáo có thể thực hiện quyền im lặng

nếu bị buộc là có tội Bị can, bị cáo không buộc phải chứng minh là mình không phạm tội Từ đó ta có thể xem việc quy định này là gián tiếp đối với quyền im lặng Tại các Điều 58, 59, 60, 61 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định về quyền của

bị can, bị cáo, người bị tạm giữ và người bị bắt khẩn cấp Ở đây pháp luật Việt Nam quy định gián tiếp về quyền im lặng Họ có thể không buộc phải khai báo cũng như không buộc phải nhận mình có tội trước cơ quan tiến hành tố tụng hình sự

Không chỉ quy định của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ và người bị bắt khẩn cấp mà còn có ở người bào chữa quy định tại Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự Người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can Ngoài ra, tại Khoản 3 Điều 309

Luật này quy định: “Trong giai đoạn xét hỏi nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích

Trang 10

hợp pháp của bị hại, đương sự tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án.”

Từ những điều dẫn luật ở trên có thể cho ta thấy được việc pháp luật Việt Nam

“thừa nhận nhưng chưa thừa nhận” Nhưng đã quy định gián tiếp quy định về quyền im lặng Từ đó đảm bảo được sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, người bị nghi là phạm tội Với những thay đổi mới của bộ luật tố tụng hình sự làm cho em thấy hướng mở về quyền im lặng đối với nước ta Vì vậy em xin đưa ra những kinh nghiệm đển hoàn thành chế định quyền im lặng đối với nước

ta như sau:

Thứ nhất, chúng ta nên mở rộng phạm vi tác động của quyền im lặng không

chỉ có ở lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn ở các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội như dân sự, hành chính Từ đó đẩy cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan nhà nước làm tiền đề cho nhân tin tưởng vào chính quyền và Đảng hơn

Thứ hai, vì nước ta là đất nước theo hướng Xã hội chủ nghĩa quan trọng nhiều

ở việc trọng chứng hơn trọng cung nên chúng ta chỉ thừa nhận một cách gián tiếp

đối với quyền im lặng này Tức là chúng ta chỉ cần quy định một vài điều luật trong

tố tung hình sự

Thứ ba, trong lĩnh vực tố tụng hình sự, chúng ta chỉ cần quy định quyền im

lặng đối với các đối tượng là người bị nghi là tội phạm, bị can, bị cáo, người bị tạm giữ, tạm giam Tuy nhiên đối với những người không bị buộc tội như là người làm chứng, người chứng kiến, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì pháp luật không được trao quyền im lặng đối với những người này Vì những người này phải có nghĩa vụ cung cấp những tài liệu, chứng cứ để làm rõ kết quả của vụ án Như vậy, pháp luật Việt Nam chỉ cần cân nhắc trao quyền im lặng cho các chủ thể không phải là người bị buộc tội một cách hạn chế

Nhằm làm cho việc đảm bảo những người tham gia tố tụng có trách nhiệm khi khai báo đối với cơ quan chức năng

Ngày đăng: 22/10/2019, 09:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w