Ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt đồng thương mại có vai trò và ý nghĩa vô cùng to lớn. Hoạt động này có lịch sử hình thành khá sớm, do nhu cầu của việc mở rộng quy mô và cường độ buôn bán hàng hoá của thương nhân từ nước này sang nước khác qua đường biển, thương nhân thay vì theo hàng hoá giao tại cảng đến, họ uỷ thác cho các thương nhân khác thực hiện công việc đó thay mình và trả thù lao. Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa là chế định quan trọng của Luật Thương mại và là một trong bốn hoạt động trung gian thương mại được quy định trong Chương 5 Luật Thương mại. Các quy định pháp luật về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa đã khẳng định vai trò và ý nghĩa to lớn của nó như một kênh không thể thiếu trong giao thương. Uỷ thác là giải pháp lý tưởng cho thương nhân và được tìm thấy trong mọi lĩnh vực của kinh doanh. Các quy định pháp luật về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa là hành lang pháp lý quan trọng, tuy nhiên chế định này chưa được quy định hoàn thiện và tương xứng với vị trí, vai trò của nó và đòi hỏi của thực tiễn kinh doanh, khi được thực hiện nó bộc lộ nhiều hạn chế. Vì muốn hiểu rõ hơn về hoạt động ủy thác hàng hóa Việt Nam hiện nay, t xin chọn đề tài nghiên cứu: “Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành” để làm bài tiểu luận.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt đồng thương mại có vai trò và ý nghĩa vô cùng
to lớn Hoạt động này có lịch sử hình thành khá sớm, do nhu cầu của việc mở rộng quy mô và cường độ buôn bán hàng hoá của thương nhân từ nước này sang nước khác qua đường biển, thương nhân thay vì theo hàng hoá giao tại cảng đến, họ uỷ thác cho các thương nhân khác thực hiện công việc đó thay mình và trả thù lao Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa là chế định quan trọng của Luật Thương mại và là một trong bốn hoạt động trung gian thương mại được quy định trong Chương 5 Luật Thương mại Các quy định pháp luật về hoạt động
ủy thác mua bán hàng hóa đã khẳng định vai trò và ý nghĩa to lớn của nó như một kênh không thể thiếu trong giao thương Uỷ thác là giải pháp lý tưởng cho thương nhân và được tìm thấy trong mọi lĩnh vực của kinh doanh Các quy định pháp luật
về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa là hành lang pháp lý quan trọng, tuy nhiên chế định này chưa được quy định hoàn thiện và tương xứng với vị trí, vai trò của
nó và đòi hỏi của thực tiễn kinh doanh, khi được thực hiện nó bộc lộ nhiều hạn chế Vì muốn hiểu rõ hơn về hoạt động ủy thác hàng hóa Việt Nam hiện nay, t xin
chọn đề tài nghiên cứu: “Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa theo quy định của
pháp luật Việt Nam hiện hành” để làm bài tiểu luận Đây là một đề tài có ý nghĩa
quan trọng, cấp bách cả về phương diện lí luận cũng như thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Qua đề tài này tôi muốn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng
ủy thác mua bán hàng hóa cũng như vai trò và ý nghĩa của ủy thác mua bán hàng hóa đối với hoạt động kinh doanh và sự vận động, phát triển của toàn bộ nền kinh tế Mặt khác, nghiên cứu và phân tích thực trạng thực thi pháp luật về
Trang 2hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa ở Việt Nam, nhằm phát hiện và đề xuất một số giải pháp bước đầu góp phần hoàn thiện chế định pháp luật về hợp đồng
ủy thác mua bán hàng hóa Đồng thời, nghiên cứu về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa góp phần giúp tôi hoàn thiện kiến thức về luật thương mại để phục vụ cho việc học tập cũng như công việc sau này một cách tốt hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, thực trạng thực thi pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi Luật thương mại Việt Nam năm 2005 ( sửa đổi, sung năm 2009)
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp các quy phạm pháp luật; phương pháp so sánh pháp luật
5 Bố cục bài tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì bài tiểu luận có
ba phần:
I Khái quát chung về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
II Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa III Nhận xét về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa trong quy định của pháp
luật hiện nay
IV Thực trạng thực thi hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa ở Việt Nam và
một số kiến nghị, giải pháp
Trang 3Để giải quyết vấn đề đặt ra không những phải có năng lực và trình độ mà con phải có kinh nghiệm thực tế Mặc dù đã cố gắng nỗ lực nghiên cứu đề tài tiểu luận của mình nhưng do trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp từ thầy cô và các bạn để bài tiểu luận trở nên hoàn thiện nhất
NỘI DUNG
I Khái quát chung về hợp đồng ủy thác mua bán hàng
hóa
1 Ủy thác mua bán hàng hóa
Theo Điều 155 Luật thương mại quy định: “ Uỷ thác mua bán hàng hoá là
hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác.”
Như vậy, uỷ thác mua bán hàng hoá theo quy định tại Luật Thương mại là hoạt động thương mại mà theo đó bên nhận uỷ thác - là thương nhân - thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao ủy thác thông qua hình thức hợp đồng bằng văn bản là chủ yếu Về bản chất, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa có thể được xem là một giao dịch dân sự đặc thù liên quan đến việc mua bán hàng hóa
2 Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Khái niệm:
Trang 4Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là hình thức pháp lý của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa, là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện công việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác
Đặc điểm:
- Chủ thể: Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa được xác lập giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác
Theo Điều 156 Luật thương mại quy định: “Bên nhận uỷ thác mua bán hàng
hoá là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác
và thực hiện mua bán hàng hoá theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác.” Bên nhận uỷ thác là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng
hoá được uỷ thác mua bán
Theo Điều 157 Luật thương mại quy định: “Bên uỷ thác mua bán hàng hoá là
thương nhân hoặc không phải là thương nhân giao cho bên nhận uỷ thác thực hiện mua bán hàng hoá theo yêu cầu của mình và phải trả thù lao uỷ thác.”Bên
uỷ thác là thương nhân hoặc không phải là thương nhân
Đối tượng của Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Đối tượng của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là công việc mua, bán hàng hoá theo hợp đồng uỷ thác, là công việc hợp pháp, có thể thực hiện được; hàng hoá được uỷ thác mua bán trong hợp đồng không thuộc danh mục hàng hoá cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam
Nội dung của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Nội dung của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là các điều khoản thoả thuận giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác, thể hiện quyền, nghĩa vụ pháp lý của các
Trang 5bên trong quan hệ uỷ thác, theo đó bên nhận uỷ thác có nghĩa vụ thực hiện công việc uỷ thác mua bán hàng hóa theo uỷ quyền của bên uỷ thác và được hưởng thù lao; bên uỷ thác có nghĩa vụ trả tiền thù lao cho bên nhận uỷ thác
Trong thực tiễn, tuỳ thuộc vào công việc được uỷ thác, nội dung của hợp đồng
ủy thác mua bán hàng hóa được thể hiện khác nhau Tuy nhiên, nội dung của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cần đảm bảo các điều khoản chủ yếu sau: hàng hoá được uỷ thác mua, bán; thù lao uỷ thác; thời hạn thực hiện hợp đồng
ủy thác mua bán hàng hóa; các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng; trách nhiệm vật chất khi vi phạm hợp đồng; các trường hợp miễn trách nhiệm; thủ tục giải quyết tranh chấp Ngoài ra, các bên có thể thoả thuận về vấn đề mua bảo hiểm cho hàng hoá uỷ thác để dự liệu cho trường hợp bên nhận uỷ thác đã thực hiện đúng nghĩa vụ bảo quản hàng hoá uỷ thác xong hàng hóa vẫn gặp rủi ro ngoài tầm kiểm soát…
Hình thức của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương ( Điều 159 Luật thương mại) Như vậy, từ những đặc điểm về chủ thể, đối tượng, nội dung và hình thức của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cho thấy, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có bản chất pháp lý là hợp đồng song vụ và là hợp đồng có điều kiện
`Một số nguyên tắc cơ bản của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
- Nguyên tắc tự do, tự nguyện và bình đẳng
- Nguyên tắc thiện chí, trung thực
- Nguyên tắc đảm bảo cam kết
- Nguyên tắc không xâm phạm đến lợi ích hợp pháp khác
Chấm dứt hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Trang 6Pháp luật thương mại không quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nhưng căn cứ vào điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hợp đồng này chấm dứt trong các trường hợp : hợp đồng đã được hoàn thành; theo thở thuận của các bên; cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện; hợp đồng hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện; hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn; hợp đồng chấm dứt theo quy định tại điều 420 bộ luật này; trường hợp khác do luật quy định…
II Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa
1 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận ủy thác đối với bên ủy thác
Nghĩa vụ của bên nhận ủy thác
Theo Điều 165 Luật thương mại quy định:
“Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên nhận uỷ thác có các nghĩa vụ sau đây:
1 Thực hiện mua bán hàng hoá theo thỏa thuận;
2 Thông báo cho bên uỷ thác về các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng uỷ thác;
3 Thực hiện các chỉ dẫn của bên uỷ thác phù hợp với thoả thuận;
4 Bảo quản tài sản, tài liệu được giao để thực hiện hợp đồng uỷ thác;
5 Giữ bí mật về những thông tin có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng uỷ thác;
Trang 76 Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận;
7 Liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên ủy thác, nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của mình gây ra.”
Thứ nhất, thực hiện việc mua bán hàng hóa theo thỏa thuận trong hợp đồng ủy
thác Đây là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên nhận ủy thác Bên nhận ủy thác cần tuân thủ đầy đủ các thỏa thuận với bên ủy thác về việc giao kết cũng như thực hiện hợp đồng với bên thứ ba Đó là những thỏa thuận về số lượng, chất lượng, quy cách, giá cả của hàng hóa được ủy thác mua hoặc bán Nếu bên nhận
ủy thác vi phạm các quy định của hợp đồng ủy thác dẫn tới việc kí hợp đồng mua bán hàng hóa với bên thứ ba gây thiệt hại cho bên ủy thác thì bên nhận ủy thác có trách nhiệm đền bù cho bên ủy thác những thiệt hại phát sinh Nhưng nếu bên nhận ủy thác kí hợp đồng với khách hàng theo những điều kiện thuận lợi hơn so với điều kiện bên ủy thác đặt ra thì Luật thương mại Việt Nam không quy định cụ thể để phân chia phần lợi chênh lệch này Bên nhận ủy thác kí hợp đồng mua bán hàng hóa với bên thứ ba và phải tự mình thực hiện hợp đông ủy thác mua hoặc bán hàng đã kí, không được thực hiện thứ ba thực hiện hợp đồng trừ trường hợp có sự chấp thuận bằng văn bản của bên ủy thác
Thứ hai, thông báo cho bên ủy thác về các vấn đề có liên quan đến việc thực
hiện hợp đồng ủy thác, ví dụ như những biến động của thị trường, các yêu cầu
cụ thể của bên thứ ba, khả năng giao kết hoặc không giao kết được hợp đồng với bên thứ ba, việc thực hiện hợp đồng của bên thứ ba…
Thứ ba, thực hiện các chỉ dẫn của bên ủy thác phù hợp với thỏa thuận Khi nhận
được những chỉ dẫn cụ thể của bên ủy thác, bên nhận ủy thác phải nghiêm chỉnh thực hiện trừ trường hợp chỉ dẫn đó là trái với quy định của pháp luật hoặc
Trang 8không phù hợp với hợp đồng ủy thác Bên nhận ủy thác có thể không thực hiện chỉ dẫn của bên ủy thác nếu việc thực hiện các chỉ dẫn này có khả năng gây thiệt hại cho bên ủy thác và bên nhận ủy thác không thể chờ xin chỉ dẫn mới của bên ủy thác
Thứ tư, bảo quản những tài sản, tài liệu mà bên ủy thác giao cho bên nhận ủy
thác để thực hiện công việc ủy thác Bên nhận ủy thác phải chịu trách nhiệm trước bên ủy thác về sự mất mát, hư hỏng tài liệu mà bên ủy thác giao cho, trừ trường hợp chũng minh được những mất mát, hư hỏng xảy ra không do lỗi của mình
Thứ năm, thanh toán tiền hàng, giao hàng mua được cho bên ủy thác theo đúng
thỏa thuận trong trường hợp ủy thác
Thứ sáu, giữ bí mật về những thông tin có liên quan đến việc thực hiện hợp
đồng ủy thác
Thứ bảy, liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên ủy
thác nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần lỗi của mình gây ra
Quyền của bên nhận ủy thác
Theo Điều 164 Luật thương mại, bên nhận ủy thác có các quyền sau, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác
“1 Yêu cầu bên uỷ thác cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng uỷ thác;
2 Nhận thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác;
3 Không chịu trách nhiệm về hàng hoá đã bàn giao đúng thoả thuận cho bên
uỷ thác.”
Trang 92 Quyền và nghĩa vụ của bên ủy thác đối với bên nhận ủy thác
Nghĩa vụ của bên ủy thác
Theo Điều 163 Luật thương mại, bên ủy thác có các nghĩa vụ sau đây, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác:
“1 Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng uỷ thác;
2 Trả thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác cho bên nhận ủy thác;
3 Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận;
4 Liên đới chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận uỷ thác vi phạm pháp luật mà nguyên nhân do bên uỷ thác gây ra hoặc do các bên cố ý làm trái pháp luật.”
Quyền của bên ủy thác
Theo Điều 162 Luật thương mại quy định bên ủy thác có các quyền sau, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác:
“1 Yêu cầu bên nhận uỷ thác thông báo đầy đủ về tình hình thực hiện hợp đồng uỷ thác;
2 Không chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận uỷ thác vi phạm pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 163 của Luật này.”
III Nhận xét về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
trong quy định của pháp luật hiện nay
Ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện công việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những
Trang 10điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác (Điều
155) Với 11 điều (từ Điều 155 đến Điều 165), các quy định pháp luật về hoạt
động ủy thác mua bán hàng hóa có thể coi là hành lang pháp lý cần thiết cho các giao dịch ủy thác mua bán hàng hóa được đảm bảo thực hiện trong thực tiễn Tuy nhiên, chế định này chưa được quy định tương xứng với vị trí, vai trò của nó và đòi hỏi của thực tiễn kinh doanh, khi được thực hiện nó bộc lộ nhiều hạn chế như: Mâu thuẫn giữa quy định của Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự, phạm vi ủy thác giới hạn, thiếu nhiều quy định cần thiết liên quan đến phân chia lợi nhuận chênh lệch phát sinh từ hoạt động ủy thác hay xử lý hàng hoá uỷ thác không được tiếp nhận Có nhiều tranh chấp về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa trong đó có nguyên nhân từ những hạn chế này Về phương diện thuật ngữ cần có sự phân định rõ ràng giữa thuật ngữ uỷ thác trong thương mại và uỷ quyền trong dân sự để có một sự thống nhất chung trong hệ thống pháp luật Đây không chỉ là vấn đề mang tính học thuật về một thuật ngữ trong khoa học pháp lý, mà còn là yêu cầu khách quan về sự phù hợp và thống nhất của hệ
thống pháp luật Ngoài ra, ở Điều 161 Luật Thương mại quy định: “Bên nhận
uỷ thác có thể nhận uỷ thác mua bán hàng hoá của nhiều bên uỷ thác khác nhau” Trong thực tế, nếu bên nhận uỷ thác nhận uỷ thác bán hàng cho nhiều bên uỷ thác mà hàng hoá nhận uỷ thác cùng chủng loại, cùng tính năng sử dụng thì trong một chừng mực, đã vi phạm yêu cầu của nguyên tắc thiện chí Sẽ không thể coi là thiện chí thực hiện hợp đồng khi đang trong quá trình thực hiện hợp đồng với một bên, bên nhận uỷ thác nhận uỷ thác một chủng loại hàng tương tự của một đơn vị khác, dẫn đến khả năng không thể thực hiện đúng cam kết, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đã ký kết hoặc gây áp lực tăng phí uỷ thác Ví
dụ, công ty A ký kết hợp đồng ủy thác xuất khẩu cà phê cho doanh nghiệp B Đang trong thời gian thực hiện hợp đồng, công ty A nhận được một chào hàng xuất khẩu cà phê hấp dẫn từ một doanh nghiệp khác Họ đã lập tức ký tiếp hợp