MỤC LỤC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 4 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT VÀI ỨNG DỤNG CỦA BÀI TOÁN GỐC TRONG VIỆC RA ĐỀ VÀ GIẢI TOÁN HÌNH HỌC KHÔNG GIAN Người thực hiệ
Trang 1MỤC LỤC
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI ỨNG DỤNG CỦA BÀI TOÁN GỐC TRONG VIỆC RA ĐỀ VÀ GIẢI TOÁN HÌNH HỌC KHÔNG GIAN
Người thực hiện: Nguyễn Thanh Hải Chức vụ: Giáo viên
SKKN môn: Toán
THANH HOÁ NĂM 2018
Trang 2MỤC LỤC
Nội dung Trang
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3 2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 3
2.3.1.1 Bài toán gốc trong hình chóp 3
2.3.2.1 Bài toán gốc trong hình lăng trụ 7
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 12
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Hình học không gian cổ điển là vấn đề khó của toán THPT Không chỉ đối với người học mà còn có những khó khăn nhất định đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy phần này cho học sinh
Cùng với xu hướng thi THPT Quốc Gia theo hình thức trắc nghiệm, mọi vấn
đề của toán THPT nói chung được khai thác một cách tối đa, các lời giải, cách tiếp cận rất phong phú và đa dạng, trong đó những lời giải, những hướng tiếp cận nhanh gọn, nhạy bén luôn được đặt lên hàng đầu, những phương pháp những kỹ năng đó cần được hệ thống để tôi luyện cho các thế hệ học sinh Hình không gian
cổ điển xoay quanh những bài toán tính góc, khoảng cách, thể tích, mặt cầu… là những bài toán làm thí sinh mất rất nhiều thời gian, bởi phải vẽ hình (hoặc vẽ thêm hình) và đặc biệt máy tính cầm tay hầu như không có tác dụng đối với dạng toán này
Năm học 2017-2018 chúng ta tiếp tục thực hiện đổi mới phương pháp dạy học Góp phần thuận lợi cho học sinh trong quá trình tiếp thu và chủ động chiếm lĩnh kiến thức Trong phạm vi bài viết này, tôi xin đưa ra một vài ý tưởng đóng góp cho việc giải toán hình học không gian: “Một vài ứng dụng của bài toán gốc trong việc ra đề và giải toán hình học không gian”, theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, giúp các em phát triển năng lực tư duy và phát hiện vấn đề một cách mạch lạc, chính xác, hiệu quả, nhanh gọn
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung chương trình hình học THPT, các bài toán dành cho học sinh khá, giỏi từ đó xây dựng các thao tác cần thiết để giúp học sinh quy lạ về quen, tiếp cận bài toán nhanh chóng hiệu quả, đồng thời là cơ sở để giáo viên
“chế” ra những bài tập hay, lạ, độc đáo kích thích hứng thú học tập
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà đề tài hướng tới là:
- Phương pháp giải toán dựa vào các bài toán gốc (là những bài toán rất gần gũi, có thể là những ví dụ hoặc bài tâp trong SGK…) giúp cho người học có cách tiếp cận vấn đề thật nhanh, qua vài động tác có thể chuyển về dạng toán quen thuộc
và dần hình thành nên các kỹ năng, phương pháp giải toán phong phú cho bản thân
- Cũng trên cở sở đó, giáo viên có thể thêm bớt giả thiết, hoặc chuyển đổi các giả thiết tương đương để có được bài toán mới, điều này thực sự kích thích khả năng sáng tạo của mỗi người và tạo hứng thú học tập cho học sinh
Trang 41.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu tài liệu, sách tham khảo liên quan, nghiên cứu chương trình giáo khoa của bộ môn
- Phương pháp nghiên cứu thực tế: Thông qua việc dạy và học phân môn Hình học ở THPT, bản thân rút ra một số nhận xét và phương pháp giải toán giúp học sinh rèn luyện kỹ năng làm bài
- Phương pháp kiểm chứng sư phạm: Tiến hành dạy và kiểm tra khả năng ứng dụng của học sinh, minh chứng cho thấy khả năng giải quyết vấn đề nhanh gọn của học sinh trong giải toán hình không gian
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
- Hình không gian cổ điển là vấn đề khó đồng thời cũng là nơi phát huy tối
đa óc quan sát, tư duy trừu tượng của học sinh Nó khó khăn ngay bước đầu vì đề bài thường rất nhiều giả thiết, nhớ và liên kết các giả thiết lại với nhau là một vấn
đề khó cho học sinh, sau đó thì đến vẽ hình (nét đứt, nét liền, các đường chồng
chéo, cắt hay không cắt…), chưa kể đến mấu chốt bài toán là xác định chân đường cao, xác định được chân đường cao là yếu tố vô cùng quan trọng trong định
hướng và giải quyết bài toán
- Các bài tập SGK của phần này ở mức đơn giản, hoặc nếu có khó thì thường lời giải rất dài dòng, gây khó cho học sinh và ảnh hưởng đến tốc độ làm bài khi học sinh đi thi
- Thông thường các dạng toán đều cho chân đường cao hình chóp, lăng trụ Nhưng những câu dành cho học sinh khá- giỏi (tương ứng trong đề thi là câu VD, VDC) thì lại thường không cho chân đường cao, buộc học sinh phải kết nối các giả thiết, kẻ vẽ thêm hình
- Do đó tôi luôn luôn có ý định tìm ra một phương pháp mới, để truyền dạy cho học sinh, một phương pháp đơn giản dễ làm, một phương pháp mà học sinh cảm thấy phấn chấn khi học, một phương pháp giải quyết nhanh gọn nhờ quy lạ về quen Khẳng định cho các em thấy phải nắm vững kiến thức cơ bản, bám sát chương trình SGK, không sa đà vào những kiến thức “cao siêu” – xa rời chương trình toán phổ thông
- Học sinh rất thích thú, cảm thấy phấn chấn khi giải được bài toán khó mà chỉ bằng vài bước phân tích đưa về ngay ví dụ trong SGK đã học mà lâu nay cứ
nghĩ là phải dùng kiến thức cao siêu Điều này mang đến sự tự tin cho học sinh và tạo hứng thú nghiên cứu, tìm tòi, phát triển những bài tập, ví dụ trong SGK
Trang 5- Giáo viên có thêm nhiều ý tưởng để ra đề, sáng tạo các bài tập phong phú
mà không lo kiến thưc vượt ra ngoài chương trình toán phổ thông
2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
- Mảng kiến thức mà đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực tư duy trừu tượng cao,
là kiến thức trọng tâm của toán phổ thông Lượng kiến thức khai thác là rất nhiều
và đa dạng, nếu không khéo truyền đạt sẽ làm cho các em thấy lan man, mất phương hướng, chán nản, chứ chưa nói đến sau khi học xong các em được những phương pháp nào, kĩ năng gì Do vậy ở phần này người giáo viên cần phải có hệ thống bài tập minh hoạ cho các phương pháp trọng tâm, các dạng toán quan trọng Đặc biệt làm cho các em phải cảm thấy tự tin khi các gặp những bài toán mà chân đường cao bị dấu
- Những dạng toán chân đường cao không cho trước luôn gây khó cho học sinh vì không có chân đường cao thì cũng không viết vẽ hình như thế nào, tính khoảng cách ra sao, dịch chuyển khoảng cách về đâu, ngay cả gắn hệ trục tọa độ vào cũng không biết đặt gốc vào điểm nào… Các tài liệu viết về vấn đề này chưa thấy xuất hiện
2 3.1 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1.1 Bài toán gốc trong hình chóp.
BT1 Cho hình chóp S ABCD có đáy ABCD là hình chữ nhật AB2 ,a AD a , cạnh bên SA vuông góc với đáy, SA2a Gọi H K, lần lượt là hình chiếu vuông góc của A lên các cạnh SB SD, .
a) Chứng minh rằng các tam giác SBC SCD, vuông
b) Chứng mimnh rằng AH SBC, AK SAD SC, AHK
Lời giải.
a) Do CB SA CB SAB CB SB SBC
Hoàn toàn tương tự suy ra SCD vuông tại D
Trang 6b) Chứng minh được:
2.3.1.2 Phát triển BT1.
Từ BT1: Ban đầu là chóp tứ giác S ABCD ta bỏ đi điểm A để trở thành tứ diện
SBCD, đồng thời thêm các giả thiết tương đương như:
- Thay giả thiết tứ giác ABCD là hình chữ nhật bằng giả thiết tam giácBCD là vuông tại C
- Thay giả thiết SAABCD bằng giả thiết hai tam giác SBC vuông ở B và
SDC
vuông ở D.
Ta có thể lập luận để đưa về BT1 như sau:
Trong BCD kẻ các đường thẳng Dt BC Bt CD// , // Đặt A Dt Bt
Dễ thấy tứ giác ABCD là hình chữ nhật
Suy ra:
CD Dt
CB Bt
CB SB
Từ * , ** suy ra SDt và SBt cùng vuông góc với mặt đáy BCD
Nên giao tuyến SDt SBt SA vuông góc với đáy SABCD
Dựa trên ý tưởng này, ta cùng đến với một số bài toán thú vị sau:
Bài toán 1.1 Cho hình chóp S ABC có đáy ABC là một tam giác vuông ở A, đáy
AB AC , tam giác SAB vuông ở B, tam giác SAC vuông ở C Biết rằng
Trang 7khoảng cách từ điểm C đến SAB bằng 3
2 Tìm bán kính mặt cầu ngoại tiếp chóp S ABC
Phân tích: Bài toán chưa cho chân đường cao của chóp, nhưng có khá nhiều điểm
tương đồng với BT1 như: đáy ABC là một tam giác vuông ở A , tam giác SAB vuông ở B , tam giác SAC vuông ở C Điều này gợi cho chúng ta liên tưởng tới đỉnh còn lại của hình chữ nhật ABCH
Lời giải.
Gọi H là đỉnh thứ tư của hình chữ nhật ABHC, ta có
ABBH AB SB AB SBH SBH ABC
Tương tự SCH ABC **
Từ * , ** SH ABC Mặt cầu ngoại tiếp chóp S ABC cũng chính là mặt cầu ngoại tiếp chóp S ABHC
Gọi K là hình chiếu của H lên , , 3
2
SB d C SAB d H SAB HK
1
Bài toán 1.2 Cho hình chóp S ABC có đáy ABC là một tam giác vuông cân tại
B, AB2 ,a SAB SCB 90 và góc giữa đường thẳng AB và mặt phẳng SCB bằng 30 Tính khoảng cách từ S đến đường thẳng AB
Phân tích: Bài toán có hai góc vuông nhưng lại ở hai điểm khác nhau, do đó ta
phải kẻ thêm hình để dồn các góc vuông về một điểm, có như vậy mới tìm được đường thẳng vuông góc với mặt phẳng Mặt khác bài toán có giả thiết
SAB SCB tương đương với giả thiết hai tam giác SAB và SCB vuông –
đó chính là ý a của BT1.
Trang 8Lời giải.
Kẻ đường thẳng CD AB// BC CD
Mặt khác BC SC BC SCD SCD ABC 1
Tương tự ta cũng suy ra được SAD ABC 2
Từ 1 , 2 SDABC và ABCD là hình vuông Gọi AB SCB,
2
DH
DH a AB
Bài toán 1.3. Cho tứ diện ABCD có AB AD2, CD 2 2,
ABC DAB Góc giữa AD và BC bằng 45 Tính khoảng cách giữa hai đường thẳng AC DB,
Phân tích: Giả thiết ABC DAB 90 có vẻ quen thuộc, nhưng đây bài toán khó bởi lẽ giả thiết thiếu mất một góc vuông ADC rất quan trọng Như vậy để90 xác định được chân đường cao ta phải kết nối hai giả thiết khô khan có
2
AB AD , CD 2 2, AC BD , 45
Lời giải.
Dựng hình vuông ADHB AD BC, CBH 45 và DH HCB
Trang 9Suy ra DH HC HDC vuông cân CH 2
Xét HBC có CBH 45 , CH HB nên 2 HBC vuông cân tại H
3
CH ADHB d AC BD OK
Bài toán 1.4 (Câu 49-SGD Nam Định - lần 1- Năm 2018) Cho hình chóp
S ABC có SA vuông góc với đáy, SA2BC và BAC 120 Gọi H K, lần lượt
là hình chiếu của A lên SB SC, Tính góc giữa hai mặt phẳng ABC và AHK
Phân tích: Bài toán đã biến tướng sang ý b của BT1.
Lời giải.
Dựng đường kính AD của đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC
Định lí Sin trong tam giác ABC thì 2 2.
sin120 3
Theo BT1 ta có SD AHK, SAABC
Do đó AHK , ABC SD SA, ASD
2
3 3
BC AD
2.3.2.1 Bài toán gốc trong hình lăng trụ.
BT2 Cho lăng trụ đứng ABC A B C có đáy ABC là tam giác vuông tại A
AB a , AC a 3 cạnh bên AA 2a Tính bán kính mặt cầu ngoại tiếp lăng trụ
ABC A B C
Lời giải.
Trang 10Do đáy ABC là tam giác vuông tại A nên gọi M N, lần lượt là trung điểm của các cạnh BC B C, thì MN chính là trục đường tròn ngoại tiếp đáy Gọi H là trung điểm AA, xét trong mặt phẳng AMNA kẻ đường trung trực của đoạn AA cắt
MN tại I, dễ thầy rằng IA IB IC IAIBIC nên I là tâm mặt cầu ngoại tiếp lăng trụ ABC A B C
R IA IM MA a a a
2.3.2.2 Phát triển BT2
Bài toán 2.1 (Câu 46 - KHTN - Hà nội - lần 3- Năm 2018) Trong không gian
cho hai đường thẳng d và chéo và vuông góc với nhau, nhận đoạn AB a làm đoạn vuông góc chung A d B , Trên d lấy điểm M , trên lấy điểm N
sao cho AM 2 ,a BN 4a Gọi I là tâm mặt cầu ngoại tiếp tứ diện ABMN Tính khoảng cách giữa hai đường thẳng AM và BI
Phân tích: Bài toán có giả thiết AB vuông góc đồng thời với hai đường thẳng chéo nhau d và Gợi cho ta xây dựng nên hình lăng trụ đứng như BT2.
Lời giải.
Bằng cách kẻ BM AM AN BN// , // dựng nên hình hộp chữ nhật AMFN BM EN Khi đó tâm cầu chính là tâm I của hình hộp chữ nhật, suy ra BM FN là mặt phẳng chứa BI và song song với AM Khoảng cách cần tìm là:
Trang 11 , , , ,
d AM BI d AM BM FN d A BM FN d A BN d
a d
d AB AN a a a
Bài toán 2.2 (Câu 50-Trường Thăng Long - Hà nội - lần 2- Năm 2018) Cho
mặt cầu S có bán kính R 4, một mặt phẳng P cắt mặt cầu theo giao tuyến là
đường tròn T , CD là một đường kính cố định của T , A là điểm thay đổi trên
T A C A D , Đường thẳng qua A và vuông góc với P cắt S tại B
BA Tính BC2 AD2
Phân tích: Giả thiết suy ra CA AD , “Đường thẳng qua A và vuông góc với
P cắt S tại B BA” ta liên hệ tới xác định một lăng trụ đứng, sau khi có lăng trụ đứng thì tâm cầu dần lộ diện, khi đó ta sẽ xác định được tổng BC2 AD2
.
Lời giải.
Dựng hình hộp chữ nhật như hình vẽ, nhận thấy rằng tâm hình hộp chữ nhật cũng chính là tâm cầu S Do đó:
2
BC AD AB AC AD AQ R
Bài toán 2.3 (Câu 50- SGD Bắc Ninh - Năm 2018) Cho tứ diện ABCD có
2
AB BC CD , AC BD1, AD 3 Tính bán kính mặt cầu ngoại tiếp tứ diện ABCD
Phân tích: Ngoài số liệu của tất cả các cạnh thì không còn giả thiết nào khác, đây
là bài toán khó Để ý thấy đây là những con số “biết nói” Kiểm tra hệ thức Pitago
ta thấy ngay ADAC AD, DB
Lời giải
Trang 12Dựng hình lăng trụ đứng như hình vẽ Suy ra mặt cầu ngoại tiếp tứ diện cũng là mặt cầu ngoại tiếp lăng trụ đứng ACF DEB
2 2 1
CF BF BC nên ACF đều cạnh bằng 1
Bán kính mặt cầu cần tìm 2 2 39
6
IA IH HA
Bài toán 2.4 Cho hình chóp S ABC có SA SB SC, , đôi một vuông góc Biết
,
SA a SB b và 12 12 1
2018
a b Gọi M N P, , lần lượt là trung điểm của các
cạnh AB BC AC, , Tính độ dài SC để hai mặt phẳng SMP , SMN vuông góc.
Phân tích: Bài toán tìm điều kiện để hai mặt phẳng vuông góc với giả thiết rất khó
2 2
2018
a b Với giả thiết này gắn hệ trục (tọa độ hóa) cũng không phải là dễ.
Lời giải
Do SA SB SC, , đôi một vuông góc nên dựng hình hộp chữ nhật như hình vẽ
Trang 13Nhận xét rằng hai góc SFD , SADB SED , SADB
Do đó để SFD SED SED , SADB 45 EHB 45
Hay BHE vuông cân tại B BE BH
Mặt khác 1 2 12 12 12 12 1 2018
2018 BH
Suy ra SC BH 2018
Kết thúc bài viết từ hình vẽ H.3 chúng ta hãy phát biểu lại bài toán và nêu những kết quả chính Từ những kết quả thu được hãy tạo ra các bài toán mới.
H.3 2.3.3 Bài tập áp dụng
Bài 1: Cho hình chóp S ABC có AB a AC a , 3, SB 2a và
ABCBAS BCS Gọi là góc tạp bởi đường thẳng SB và mặt phẳng
SAC , biết sin 11
11
Tính thể tích khố chóp S ABC
Bài 2: Tính bán kính mặt cầu ngoại tiếp tứ diện ABCD biết AB2, CD 2 3,
ABC BAD và góc giữa AD và BC bằng 30
Bài 3: Cho hình chóp S ABC có đáy ABC là tam giác vuông tại A, AB a ,
2
AC a Biết SBA SCA 90 và khoảng cách giữa hai đường thẳng SA BC,
bằng 2
3
a
Tính diện tích của mặt cầu ngoại tiếp hình chóp S ABC
Trang 14Bài 4: Tính bán kính mặt cầu ngoại tiếp tứ diện ABCD biết AB2, CD2 2,
ABC BAD và góc giữa AD và BC bằng 45
Bài 5: Cho tứ diện ABCD biết ABAC 2, BC 2, DB DC 3 Góc giữa hai mặt phẳng ABC ; DBC bằng 45 Tính bán kính mặt cầu ngoại tiếp
tứ diện ABCD
Bài 6: Cho tứ diện ABCD biết ABAC 2, DB DC 3. Góc giữa hai mặt phẳng ABC ; DBC bằng 45 Tính bán kính mặt cầu ngoại tiếp tứ diện
ABCD
Bài 7 Cho hình chóp S ABC có SAABC, SA AC a ABC , 30 Gọi ,
H K lần lượt là hình chiếu của A lên SB SC, Gọi là góc giữa SA và mặt phẳng AHK Tính sin
Bài 8 Cho tứ diện ABCD có AD ABC, đáy ABC thỏa mãn điều kiện cot cot co
AB AC BC BA C CB
A
A
Gọi H , K lần lượt là hình chiếu vuông góc của A lên DB và DC Tính thể tích V của khối cầu ngoại tiếp khối chóp A BCH K.
Bài 9 Cho hình chóp S ABC có đáy ABC là tam giác cân tại A,
AB a BAC , SBA SCA 90 Biết góc giữa SB và đáy bằng 60 Tính thể tích khối chóp S ABC
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Như trong phần đặt vấn đề đã nêu, sáng kiến “Một vài ứng dụng của bài toán gốc trong việc ra đề và giải toán hình học không gian” là phương pháp có sự
kết hợp chặt chẽ của tư duy lô-gic quy lạ về quen (VD giải toán), biến quen thành
lạ (VD ra đề) Sáng kiến tiếp cận bài toán một cách sáng tạo và hiệu quả, cho lời giải mạch lạc, ngắn gọn phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, đó là kích thích tính tự học, tự nghiên cứu và phát hiện vấn đề
Với tinh thần đó, trong quá trình soạn, dạy dạng toán này tôi thực hiện theo cách nêu các bài toán gốc cho học sinh giải, rút ra các nhận xét quan trọng, cho học sinh tập dượt thêm bớt, chuyển đổi giải thiết để có bài toán mới Kết thúc phần này tôi nhận thấy đã đạt được hiệu quả cao, cụ thể:
- Học sinh tỏ ra hứng thú hơn khi giải toán, tập trung đào sâu suy nghĩ vấn
đề, phát hiện vấn đề hiệu quả hơn, nhanh hơn