1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến (Luận văn thạc sĩ)

113 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 744,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

PHẠM THỊ HÒA

NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ

CỦA TÁC GIẢ LÂM TIẾN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

PHẠM THỊ HÒA

NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ

CỦA TÁC GIẢ LÂM TIẾN

Ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Trần Thị Việt Trung

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm

ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí - Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo

đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn PGS.TS Trần Thị Việt Trung đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hòa

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hòa

Trang 5

MỤC LỤC

Trang TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài. 1

2 Lịch sử vấn đề. 2

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 6

5 Phạm vi nghiên cứu 7

6 Cấu trúc của Luận văn 8

7 Đóng góp của luận văn 8

CHƯƠNG 1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ TÁC GIẢ LÂM TIẾN 9

1.1 Khái quát về Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam và nghiên cứu, phê bình Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại. 9

1.1.1 Khái quát về Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại. 9

1.1.2 Vài nét về nghiên cứu, phê bình Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại. 13

1.2 Vài nét về nhà nhà nghiên cứu phê bình Văn học dân tộc Nùng- Lâm Tiến. 20

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG CÁC TÁC PHẨM NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH CỦA LÂM TIẾN 30

2.1 Những vấn đề liên quan đến lĩnh vực lý thuyết, lý luận về văn học dân tộc thiểu số 30

Trang 6

2.1.1 Vấn truyền thống và hiện đại trong sáng tác của các nhà văn DTTS thời

kỳ hiện đại ………30

2.1.2 Vấn đề về tiếng nói và chữ viết trong sáng tác của các nhà văn DTTS………43

2.1.3 Vấn đề hiện đại hóa trong sáng tác của các nhà văn DTTS……… 48

2.1.4 Vấn đề con đường phát triển của văn học DTTS với từng thể loại……… 51

2.2 Những định hướng phát triển cho văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. 54

CHƯƠNG 3 LÂM TIẾN VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH VỀ VĂN HỌC DTTS VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 65

3.1 Khắc họa tổng quát về quá trình hình thành và phát triển của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. 65

3.2 Khắc họa chân dung các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. 85

PHẦN KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Muốn nghiên cứu một cách toàn diện về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại thì không thể không nghiên cứu mảng nghiên cứu, lý luận phê bình của bộ phận văn học này Bởi nghiên cứu, lý luận, phê bình vừa là

biểu hiện của sự “Tự ý thức” về tiếng nói văn chương của cộng đồng các dân

tộc thiểu số Việt Nam (DTTS), vừa là một thành phần không thể thiếu trong đời sống văn học DTTS thời kỳ hiện đại Nó đóng vai trò người phát ngôn tư tưởng, người thẩm định, đánh giá và là người góp phần tổ chức, định hướng cho bộ phận văn học này phát triển một cách mạnh mẽ và đúng hướng

Nghiên cứu phê bình văn học DTTS đã có một quá trình hình thành và phát triển từ những năm đầu của thập kỉ 60 (Thế kỷ XX) cho tới nay Trong suốt hơn nửa thế kỷ hoạt động của mình, nghiên cứu phê bình văn học thiểu

số đã có nhiều đóng góp cho sự vận động, phát triển của văn học DTTS Việt Nam hiện tại Đã xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học DTTS chuyên nghiệp (và không chuyên), trong đó có các tên tuổi nổi bật như: Nông Quốc Chấn, Triều Ân, Vi Hồng, Bùi Nhị Lê, Vương Trung, Lâm Tiến, Hoàng

An, Lò Ngân Sủn, Mai Liễu, Inrasara, Hoàng Quảng Uyên, Lộc Bích Kiệm… Trong số các cây bút nghiên cứu phê bình đó – nổi bật lên là nhà nghiên cứu

phê bình Lâm Tiến, dân tộc Nùng – người được đánh giá là “người cầm cờ lý

luận phê bình văn học dân tộc và miền núi”(Hoàng Quảng Uyên); là nhà

nghiên cứu, phê bình DTTS tiêu biểu, đã luôn “gắn bó và tâm huyết với sự

nghiệp văn học các DTTS Việt Nam thời kỳ hiện đại”(Trần Thị Việt Trung)

Chính vì vậy, nghiên cứu về nhà phê bình Lâm Tiến – chính là đã nghiên cứu một trường hợp tiêu biểu của đội ngũ các nhà văn DTTS trong lĩnh vực phê bình văn học

Với 4 tác phẩm nghiên cứu, phê bình về văn học thiểu số - nhà nghiên

cứu phê bình Lâm Tiến đã để lại một “di sản” quý giá cho những ai muốn

Trang 8

tìm hiểu, nghiên cứu về văn học DTTS Việt Nam hiện đại Tuy nhiên, nghiên cứu và đánh giá về những đóng góp của ông đối với lĩnh vực nghiên cứu, phê bình nói riêng, với văn học DTTS nói chung – thì cho tới nay vẫn còn rất khiêm tốn – nếu như không muốn nói là ít ỏi, chưa xứng tầm với những đóng góp, những cống hiến của ông Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa

chọn đề tài: “Nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm

Tiến” để làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình – với hy vọng: góp phần làm

sáng tỏ những đóng góp, những cống hiến của ông trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học DTTS Việt Nam thời kỳ hiện đại

2 Lịch sử vấn đề

Lâm Tiến là một nhà giáo – nhà văn DTTS có nhiều cống hiến cho sự phát triển của thể loại nghiên cứu, phê bình văn học DTTS Việt Nam hiện đại Ông sinh năm 1934 tại phố Mịch, xã Hồng Phong, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, là người dân tộc Nùng Nhà văn sống tại Thái Nguyên, từng là chủ nhiệm bộ môn Lý luận văn học của khoa Ngữ Văn, trường Đại Học sư phạm

Việt Bắc Năm 1995, cuốn sách nghiên cứu, phê bình: “Văn học các dân tộc

thiểu số Việt Nam hiện đại” được xuất bản ngay lập tức đã thu hút được sự

chú ý của bạn đọc và của một số nhà nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam Sau đó, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam và tiếp tục xuất bản 3 tập sách nghiên cứu, lý luận phê bình khác cùng hàng loạt bài phê bình lẻ trên các báo chí Vì vậy, tên tuổi của ông đã được nhiều người biết đến – với tư cách là nhà nghiên cứu, phê bình văn học DTTS Việt Nam tiêu biểu

Cho đến nay các công trình của Lâm Tiến cũng đã trở thành một đối tượng được quan tâm, nhưng việc nghiên cứu về ông vẫn còn rất khiêm tốn, chủ yếu là những bài viết nhỏ lẻ tẻ, những bài tiểu luận in trên báo, tạp chí hoặc được nhắc đến trong những cuốn sách nghiên cứu chung về văn học dân tộc thiểu số, cũng như về mảng nghiên cứu phê bình của bộ phận văn học đặc biệt này Những nghiên cứu đó thực sự chưa xứng tầm với những đóng góp,

Trang 9

những giá trị mà ông đem lại cho mảng nghiên cứu phê bình văn học DTTS nói riêng và bộ phận văn học DTTS Việt Nam nói chung Tuy vậy, tên tuổi cũng như các tác phẩm tiêu biểu của ông cũng được một số nhà nghiên cứu, phê bình nhắc đến, thậm chí là có bài nghiên cứu riêng về tác giả nghiên cứu phê bình dân tộc Nùng này Bên cạnh đó cũng đã có một luận văn sau đại học

có viết về ông – như là một trường hợp nhà nghiên cứu, phê bình DTTS tiêu biểu trong số các nhà nghiên cứu, phê bình DTTS Việt Nam hiện đại

Theo khảo sát bước đầu của chúng tôi, đã có 8 bài viết trực tiếp về nhà nghiên cứu, phê bình Lâm Tiến Đó là các bài viết của Vũ Nho, Trần Thị Việt Trung, Hoàng Quảng Uyên, Nguyễn Thị Hải Anh, Ma Trường Nguyên, Trần Tác, Nguyễn Thanh Mai… Hầu hết các bài viết này đều đã có những nhận xét, đánh giá cao và trân trọng những đóng góp của nhà nghiên cứu, phê bình Lâm Tiến

Trong bài: “Lâm Tiến - nhà lý luận, phê bình gắn bó và tâm huyết với

sự nghiệp văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại” (của nhà

nghiên cứu, phê bình Trần Thị Việt Trung), đã ghi nhận những “phát hiện” đúng và tinh về các nhà văn DTTS của ông.“Ông phát hiện ra một Nông Viết

Toại với những lời thơ mộc mạc, giản dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày, một Nông Viết Toại hiểu sâu sắc tiếng mẹ đẻ cũng rất am hiểu văn học truyền thống Ông cũng phát hiện ra một Dương Thuấn với khát vọng tìm tòi cái xưa

cũ bao nhiêu cũng không đủ, ham, muốn phát hiện cái mới lạ bao nhiêu cũng không vừa Ông ghi nhận sự đóng góp của nhà thơ Triệu Lam Châu với cách viết dễ hiểu, không cầu kỳ, không cường điệu đã làm cho quê hương bản xứ của mình hiện lên chân thật nhưng cũng đầy hương sắc…” [1, tr 723] Cũng

trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra cho người đọc hình dung được những đóng góp quan trọng của nhà lý luận, phê bình Lâm Tiến trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận, phê bình đối với việc thúc đẩy sự phát triển của văn học các DTTS Việt Nam hiện đại với những gương mặt nhà văn, với những tác phẩm tiêu biểu của họ trong đời sống văn học các DTTS thời hiện đại

Trang 10

Tác giả Nguyễn Thị Hải Anh trong bài: “Lâm Tiến - nhà phê bình, lý

luận của dân tộc thiểu số” đã nhấn mạnh: “Là một con người dân tộc thiểu số nên đối với Lâm Tiến, văn học dân tộc thiểu số không phải chỉ là đối tượng nghiên cứu phản ánh mà nó còn là tâm huyết máu thịt, là một phần dòng chảy của ông trong đó Trò chuyện với nhà văn ông tâm sự: “Trăn trở lớn nhất của tôi là làm được một điều gì đó thật cụ thể và thiết thực đóng góp cho sự phát triển của nền văn học các dân tộc thiểu số” [1, tr 739]

Trong bài: “Nhà văn Lâm Tiến với chuyên nghành văn học các dân tộc

thiểu số Việt Nam hiện đại” của Ma Trường Nguyên cũng đã nhấn mạnh

những thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học của thầy giáo

Lâm Tiến trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy qua công trình: “Văn học

các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại”( Nxb.Văn hóa dân tộc 1995) Tác

giả đã nêu ra 3 vấn đề chính trong tác phẩm của Lâm Tiến là: Thơ Hoàng Đức Hậu, Tiếng nói và chữ viết, Truyền thống và hiện đại và đánh giá: Đây chính

là những đóng góp đáng trân trọng của nhà nghiên cứu, phê bình dân tộc Nùng – Lâm Tiến đối với đời sống văn học các DTTS Việt Nam hiện đại

Tác giả Trần Tác lại đưa ra những phân tích rất cụ thể về cách phê bình rất thẳng thắn, mang tính khoa học, khách quan của nhà nghiên cứu, phê bình

Lâm Tiến: Trong bài viết: “Luận bàn về tiểu thuyết Thái Nguyên” Tác giả cho rằng Lâm Tiến có cách nhìn khá sâu sắc về nhà văn Vi Hồng: “Theo tôi

cách viết của Vi Hồng vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa dân gian vừa bác học, vừa truyền thống vừa hiện đại Nhưng thường là cái lãng mạn lấn át cái hiện thực, cái dân gian lấn át cái bác học, cái truyền thống lấn át cái hiện đại” [1, tr 759]

Đặc biệt nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã đưa ra nhận định hết sức khái

quát trong bài: “Lâm Tiến - người cầm cờ lý luận, phê bình văn học dân tộc

và miền núi”, cụ thể như sau: “… một con người luôn đi ở hàng đầu… đó đích thị là hình ảnh người cầm cờ! Đúng nhà văn Lâm Tến - “Người cầm

Trang 11

cờ”…” [1, tr 44] Chỉ với 3 chữ: “Người cầm cờ” thế cũng là đã nhiều về

chân dung nhà văn Lâm Tiến rồi

Bên cạnh những bài viết trực tiếp về nhà phê bình (như trên) còn có những nhận định của các nhà văn khác, nhà nghiên cứu khác có nhắc đến nhà nghiên cứu, phê bình Lâm Tiến – như là một cây bút tiêu biểu của nghiên

cứu, phê bình văn học DTTS như: Hoàng An, Inrasara, Phạm Quang Trung,

Trần Thị Việt Trung, Lộc Bích Kiệm,…

Có thể thấy, đây chính là những nguồn tư liệu hữu ích để chúng tôi có thể tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu vấn đề Các tác giả đã chỉ ra được một số đặc điểm nổi bật trong sự nghiệp cũng như những đóng góp quan trọng của nhà văn Lâm Tiến đối với mảng nghiên cứu phê bình văn học DTTS nói riêng, với văn học DTTS nói chung Tuy nhiên, đó mới chỉ dừng lại ở các bài viết, bài báo, bài tham luận hội thảo hay chỉ là nêu lên những suy nghĩ về tác phẩm, tác giả Lâm Tiến , trong các cuốn sách, cho tới nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về tác giả Lâm Tiến – một nhà nghiên cứu, phê bình văn học DTTS tiêu biểu thời kỳ hiện đại

Chính vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu phê

bình văn học dân tộc thiểu số của tác giả Lâm Tiến” - với hy vọng sẽ dựng

được chân dung văn học về nhà nghiên cứu phê bình dân tộc Nùng - Lâm Tiến Qua đó thấy được những đóng góp quan trọng của ông đối với sự vận động và phát triển của mảng nghiên cứu phê bình văn học DTTS nói riêng, của văn học DTTS Việt Nam hiện đại nói chung

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu về tác giả Lâm Tiến - nhà nghiên cứu phê bình văn học DTTS tiêu biểu thời kỳ hiện đại (đặc biệt là giai đoạn từ 1990 cho tới nay) -

Trang 12

nhằm chỉ ra những đóng góp quan trọng của ông trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học DTTS

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, luận văn của chúng tôi cố gắng hướng tới làm rõ những mục tiêu sau:

- Phác thảo quá trình hình thành, vận động và phát triển của thể loại nghiên cứu phê bình của văn học DTTS Việt Nam thời kỳ hiện đại; chỉ ra những đặc điểm nổi bật; những thành tựu bước đầu và những hạn chế của hoạt động này trong hơn nửa thế kỷ qua

- Phác họa bức chân dung văn học của nhà nghiên cứu phê bình văn học DTTS Lâm Tiến (dân tộc Nùng) – qua các công trình nghiên cứu, phê bình về văn học DTTS của ông

- Khẳng định được những đóng đáng góp trân trọng của nhà nghiên cứu, phê bình Lâm Tiến đối với thể loại nghiên cứu phê bình văn học DTTS nói riêng và với sự nghiệp văn học các DTTS Việt Nam hiện đại nói chung

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài cần phải giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu khái quát về quá trình hình thành và phát triển; phác thảo diện mạo, đặc điểm của nghiên cứu phê bình văn học DTTS Việt Nam hiện đại

- Phác họa chân dung nhà nghiên cứu, phê bình văn học DTTS Lâm Tiến cùng các tác phẩm chính của ông; chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong các công trình nghiên cứu của Lâm Tiến (về nội dung, về nghệ thuật, và về giá trị và ý nghĩa )

- Khẳng định những đóng góp về mặt lý thuyết lý luận; về mặt thực tiễn của nhà nghiên cứu phê bình Lâm Tiến đối với sự phát triển của văn học

Trang 13

DTTS thời kỳ hiện đại Đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế (nếu có) của tác giả Lâm Tiến trong các công trình nghiên cứu của mình

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được đề tài này, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tác giả, tác phẩm theo đặc trưng thể loại

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp khảo sát, thống kê

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn học với văn hóa học, văn học với dân tộc học, với lịch sử, với xã hội học)

5 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:

- Khảo sát toàn bộ các công trình nghiên cứu của nhà văn Lâm Tiến

bao gồm 4 cuốn sách nghiên cứu, lý luận phê bình: “Văn học các dân tộc

thiểu số Việt Nam hiện đại”, (Nxb Văn hóa dân tộc, 1995), “Về một mảng văn học dân tộc”,( Nxb Văn hóa dân tộc, 1999), “Văn học và miền núi”, (

Nxb Văn hóa dân tộc , 2002), “Tiếp cận văn học dân tộc miền núi” ( Nxb

Văn hóa thông tin, 2011) Và một số bài viết nhỏ của tác giả in trên các tờ báo, tạp chí, trong đó đi sâu vào nghiên cứu, phân tích các vấn đề cơ bản về lý luận và phê bình văn học dân tộc thiểu số, về diện mạo nền văn học DTTS Việt Nam hiện đại, về chân dung các nhà văn DTTS Việt Nam

- Khảo sát một số công trình nghiên cứu về văn hóa học, dân tộc học, lý luận phê bình để phục vụ phần cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Đọc tham khảo các tác phẩm của các nhà văn khác để so sánh, đối chiếu ( ví dụ của Nông Quốc Chấn với các công trình nghiên cứu lú luận:

Đường ta đi (1972), Một vườn hoa hương sắc…)

Trang 14

6 Cấu trúc của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo thì nội dung chính của Luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:

6.1 Chương 1: Vài nét khái quát về nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số và tác giả Lâm Tiến

6.2 Chương 2: Những vấn đề cơ bản trong các tác phẩm nghiên cứu, phê bình của Lâm Tiến

6.3 Chương 3: Lâm Tiến với việc nghiên, cứu phê bình về văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

7 Đóng góp của luận văn

- Về mặt khoa học: Nếu đề tài thực hiện thành công thì đây sẽ là công trình nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu một cách khá toàn diện về trường hợp nhà nghiên cứu phê bình dân tộc Nùng - Lâm Tiến với những tác phẩm cụ thể của ông

- Về mặt thực tiễn: Công trình sau khi được hoàn thành sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những người muốn nghiên cứu về văn học DTTS nói chung, về phê bình văn học DTTS nói riêng

Trang 15

CHƯƠNG 1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH VĂN HỌC

DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ TÁC GIẢ LÂM TIẾN 1.1 Khái quát về Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam và nghiên cứu, phê bình Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại

1.1.1 Khái quát về Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại

Dân tộc Việt Nam là một khái niệm được hiểu theo nghĩa rộng là dân tộc - quốc gia, là một cộng đồng chính trị, xã hội bao gồm tất cả 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có một sắc thái văn hóa riêng và cùng sinh sống trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Việt Nam thống nhất Trong sự phát triển chung của đất nước, khu vực miền núi và cuộc sống của đồng bào DTTS đã và đang có sự phát triển về mọi mặt trong đó lĩnh vực văn học nghệ thuật và văn học DTTS trong quá trình hoạt động của mình đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền văn học nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Bộ phận văn học các DTTS Việt Nam hiện đại bắt đầu được hình thành

từ những năm sau 1945 đến nay đã có hơn 70 năm vận động và phát triển và

đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận, góp phần to lớn vào sự phát triển chung của nền văn học Việt Nam hiện đại Cách mạng tháng Tám năm 1945

vĩ đại đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của toàn dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật nói chung và văn học các dân tộc thiểu số nói riêng Trước hết, cách mạng đã làm sống lại nền văn học dân gian truyền thống của DTTS với những bộ sử thi các dân tộc Tây

Nguyên, Ê Đê, Ba Na (Trường ca Đam Săn, Xinh Nhã…), kho tàng truyện thơ

của người Thái, người Mường, người Tày (Đẻ đất - đẻ nước, Xống chụ xon

xao, Khảm hải, Nam Kim - Thị Đan, Quảng Tân - Ngọc Lương)…; hay những

bản tình ca với lời lẽ da diết, trữ tình, những bài lượn, bài sli trong trẻo…, nhiều bài dân ca cùng các kho tàng tục ngữ, thành ngữ của các dân tộc: Tày,

Trang 16

Nùng, Dao, Mông Cuốn: “Tuyển tập văn học các DTTS” (1962) - trong bộ:

“Hợp tuyển thơ văn Việt Nam” ( Nhà xuất bản Văn hóa ấn hành) là một minh

chứng cụ thể chứng minh rằng: Bộ phận văn học DTTS vốn rất lâu đời với sự phong phú và đặc sắc Tiếp nối văn học truyền thống, văn học DTTS thời kỳ hiện đại đã được hình thành và phát triển nhanh chóng Đặc điểm nổi bật của văn học DTTS thời kỳ hiện đại là: phong phú, đa dạng, đặc sắc và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Bộ phận văn học với tính chất phong phú, đa dạng, đặc sắc ấy ngày càng phát triển được thể hiện ở trên tất cả phương diện: từ đội ngũ sáng tác đến nội dung phản ánh, hình thức nghệ thuật, và cả ở phương diện thể loại nữa Trên thực tế, nền văn học các DTTS Việt Nam hiện đại tồn tại ở 3 khu vực chính là: miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Tuy vậy, thành tựu của văn học các DTTS ở 3 vùng này không thực sự đồng đều Đặc biệt ở vùng Tây Nguyên, sau rất nhiều năm thiếu vắng người viết,

đến những năm 70, 80 của thế kỉ XX mới xuất hiện tác giả Y Điêng, Kim Nhất (người Bahnar) và sau đó là Hlinh Niê (người ÊĐê) Sang đầu thế kỉ XXI, xuất hiện thêm những cây bút mới như: Niê Thanh Mai, Môlô Yclavi (người Ê Đê), Hồ Thao Khằm (Vân Kiều), Kpa Ylăng, Cũng chung tình trạng ấy, ở

Nam Bộ, lần đầu tiên có sự xuất hiện tác phẩm văn xuôi của một số tác giả

như: Lý Lan (người Hoa), Inrasara, Trà Vigia (người Chăm), … Trong khi

đó, các DTTS miền núi phía Bắc lại có số lượng tác giả, tác phẩm khá lớn và

có nhiều thành tựu hơn cả Tuy nhiên, ngay tại khu vực miền núi phía Bắc, sự chênh lệch về số lượng nhà văn thuộc các dân tộc khác nhau thể hiện khá rõ,

cụ thể: Các nhà văn dân tộc Tày chiếm số lượng lớn và có nhiều thành tựu hơn cả với các tên tuổi các nhà văn đã trở nên quen thuộc với bạn đọc cả nước

như : Hoàng An, Triều Ân, Vi Thị Kim Bình, Nông Quốc Chấn, Nông Minh

Châu, Bế Dôn, Nông Ích Đạt, Vi Hồng, Mai Liễu, Ma Trường Nguyên, Y Phương, Cao Duy Sơn, Dương Thuấn, Nông Viết Toại, Bế Sĩ Uông…; kế tiếp

là dân tộc Thái có các tác giả: Cầm Biêu, Vương Trung, La Quán Miên,

Hoàng Nó, Lò Văn Sĩ, Lương Quy Nhân, Cầm Văn Ui, Mào Văn Ết, Lò Văn

Trang 17

Mười, Lò Văn Cậy, Sa Phong Ba…; tiếp đến là dân tộc Mường với: Vương Anh, Đinh Sơn, Hà Thị Cẩm Anh, Bùi Thiện, Bùi Thị Tuyết Mai, Đinh Đặng Lượng, Quách Ngọc Thiên…; dân tộc Dao có: Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn, Bàn Thị Cúc, Phùng Chang Hồng… cùng với một số nhà văn của các dân tộc

khác như: Lò Văn Sủn, Mã Thế Vinh (Nùng)… Về thành tựu nổi bật là các tên tuổi tác giả: Nông Quốc Chấn - nhà thơ dân tộc Tày nổi tiếng đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, nhà thơ Bàn Tài Đoàn ( dân tộc Dao), nhà văn Vi

Hồng (dân tộc Tày); Lò Ngân Sủn (dân tộc Giáy), nhà thơ Y Phương (dân tộc

Tày)… đều được nhận giải thưởng Nhà Nước… cùng một loạt các nhà văn DTTS khác đều được nhận các giải thưởng về VHNT của quốc gia, thậm chí

là của khu vực Đông Nam Á (Cao Duy Sơn, Inrasara…) Về thể loại: văn học DTTS ngày càng hoàn thiện về thể loại, chứng tỏ sự trưởng thành, sự phát triển mau chóng và toàn diện của văn học DTTS thời kỳ hiện đại từ những

sáng tác thơ của: Hoàng Đức Hậu, Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Nông

Minh Châu, Cầm Biêu, Lương Quy Nhân, Triều Ân,Vương Trung, Vương Anh, Y phương, Ma Trường Nguyên, Lò Ngân Sủn, Bùi Tuyết Mai, Inrasara, Triệu Lam Châu… đến truyện ngắn, tiểu thuyết của: Nông Minh Châu – mở

đầu cho văn xuôi hiện đại các DTTS, tiếp theo đó là các sáng tác của: Vi

Hồng, Vi Thị Kim Bình,Vương Anh, Y Điêng, Kim Nhất, Hà Lâm Kỳ, Hà Lý, Cao Duy Sơn, La Quán Miên, Hà Thị Cẩm Anh,Ma Trường Nguyên, Linh Nga Niếk Đam, Niê Thanh Mai, Hoàng Quảng Uyên,… Thể loại Kịch DTTS

ra đời cùng với các kịch bản sân khấu của các tác giả: Nông Ích Đạt, Bế Dôn,

Bế Sĩ Uông, Vương Hùng, Dương Văn Đinh, Quách Ngọc Thiên… Song song

với các thể loại trên, thể loại nghiên cứu, phê bình văn học cũng bắt đầu được

hình thành (từ năm 1957 với bài: “Kể ít chuyện làm thơ” của Nông Quốc

Chấn) và phát triển khá mạnh mẽ vào những năm sau Đổi Mới cho tới nay Các cây bút người DTTS vừa sáng tác vừa viết phê bình đã cho ra đời hàng loạt các tác phẩm tiểu luận, phê bình văn học, ví dụ như: Lò Ngân Sủn với

“Hoa văn thổ cẩm” - 4 tập ( 1998, 1999, 2001, 2002 ); Tập tiểu luận chân

Trang 18

dung văn học “Một mình trong cõi thơ”(2000) của Hoàng Quảng Uyên; đặc biệt là bốn cuốn nghiên cứu phê bình của tác giả Lâm Tiến: “Văn học các dân

tộc thiểu số Việt Nam hiện đại”, (Nxb Văn hóa dân tộc, 1995), “Về một mảng văn học dân tộc”, (Nxb Văn hóa dân tộc, 1999), “Văn học và miền núi”,

(Nxb Văn hóa dân tộc , 2002), “Tiếp cận văn học dân tộc miền núi” (Nxb Văn hóa thông tin, 2011); Tiếp đến là các cuốn: “Nghiên cứu , lý luận phê

bình văn học”(2013) của Hoàng An, “Hương sắc miền rừng” (2008) của Mai

Liễu, “Hiện đại mà dân tộc” (2010), “Trên cánh đồng chữ ngữ” (2013) của

Ma Trường Nguyên,“Cô đơn trong sáng tạo” (2006), “Song thoại với cái

mới” (2008) của Inrasara… Bên cạnh đó, có sự tham gia của các cây bút

nghiên cứu, phê bình người Kinh luôn chú ý đến việc nghiên cứu phê bình về

văn học DTTS như: Phong Lê, Đinh Văn Định, Mạc Phi, Trần Thị Việt

Trung, Đào Thùy Nguyên, Lê Thị Bích Hồng, Nguyễn Đức Hạnh, Phạm Quang Trung, Nguyễn Hằng Phương, Nguyễn Kiến Thọ, Cao Thị Hảo…

Văn học DTTS trong thời kỳ Đổi Mới đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu thưởng thức của độc giả trong đó có đồng bào các dân tộc Có thể nói, nó đã thực sự góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân các DTTS và trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội vùng miền núi, vùng đông đảo các DTTS sinh sống Cũng nhờ đó mà vai trò của các văn nghệ sĩ DTTS cũng ngày càng được khẳng định và có những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và đổi mới miền núi tiến nhanh, tiến kịp miền xuôi về mọi mặt Thành tựu đạt được trên lĩnh vực văn học nghệ thuật của các DTTS được thể hiện rõ nhất là các tác giả đã cho ra đời nhiều tác phẩm hay (về nội dung và nghệ thuật), có giá trị nhân văn cao Có thể nói, gần một thế kỷ hình thành và phát triển văn học DTTS Việt Nam hiện đại đã có những bước đi chắc chắn và đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng Trong sự phát triển chung đó, nghiên cứu, lý luận phê bình văn học cũng đã được hình thành, phát triển và

Trang 19

đã để lại dấu ấn khá sâu sắc, đã phát huy được tác dụng nhiều mặt vào đời sống văn học DTTS Việt Nam hiện đại

1.1.2 Vài nét về nghiên cứu, phê bình văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại

Như đã biết, nghiên cứu, lý luận phê bình là một bộ phận quan trọng trong đời sống văn học thời kỳ hiện đại Nhà lý luận phê bình Nga - Bielinkin

đã viết: “phê bình là sự tự nhận thức của bản thân văn học” (là sự tự ý thức

của văn học) Văn học DTTS đã ra đời và nó đòi hỏi phải có nghiên cứu, phê bình văn học – như một biểu hiện của sự “tự ý thức” của bộ phận văn học đặc biệt này Theo một số nhà nghiên cứu thì: Nghiên cứu, phê bình văn học các dân tộc thiểu số mới được bắt đầu từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX Cụ

thể là: Năm 1957 với bài: “Kể ít chuyện làm thơ” của Nông Quốc Chấn

Nông Quốc Chấn là người đầu tiên và viết nhiều bài giới thiệu, phê bình về

các tác phẩm, tác giả văn học các DTTS, ví dụ như các bài viết: Hoàng Đức

Hậu và thơ tiếng Tày (1961), Quê ta anh biết chăng (1962), Đọc tung còn và suối đàn (1968), Một số hình tượng người dân tộc thiểu số trên sân khấu

(1970), Đường ta đi (1972), Sáu mươi tuổi một tâm hồn (1973), từ Hoa trong

mường đến Trăng mắc võng (1975), Một vườn hương sắc (1977), Văn học các dân tộc thiểu số- Tác phẩm và đội ngũ (1983), Chặng đường mới (1985), Đọc thơ Dương Thuấn (1992) Tiếp theo sau Nông Quốc Chấn có thể kể đến: Hà

Văn Thư, Vài nhận định về văn học các dân tộc thiểu số từ Cách mạng tháng

Tám đến nay (số 6 (78), tháng 6-1966) ; Vi Hồng: Sli lượn dân ca trữ tình Tày – Nùng (1977), Bước phát triển mới của văn học các dân tộc ít người Việt Nam: con đường từ thơ đến văn xuôi, kịch bản (số 5 (185), tháng 9 & 10-

1980); Y Điêng có Trường ca Tây Nguyên (1961); Bùi Nhị Lê với: Truyện cổ

Mường (1968); Lâm Qúy có tác phẩm in chung: Mấy ý nghĩ về truyện thơ cổ Tày (1982); Triều Ân với: Giới thiệu thơ Hoàng Đức Hậu (1974), Thơ ca cách mạng ở Việt Bắc (1936-1945) (1977); Mạc Phi có: Tiễn dặn người yêu

Trang 20

(dịch, giới thiệu thơ ca dân tộc Thái, 1961), Tiếng hát làm dâu (dịch, giới thiệu truyện thơ dân tộc Mông, 1963), Chàng Lú và nàng Ủa (dịch, giới thiệu truyện cổ tích dân tộc, 1964), Dân ca Thái (dịch, giới thiệu, 1977)…

Về đội ngũ những tác giả viết nghiên cứu, phê bình văn học là người DTTS có thể kể đến: Những tác giả vừa viết nghiên cứu phê bình vừa sáng tác

có: Nông Quốc Chấn, Vương Trung, Ma Trường Nguyên, Triều Ân, Vi Hồng,

Vương Anh ; vừa sáng tác vừa viết giới thiệu, phê bình có: Lò Ngân Sủn, Hoàng Quảng Uyên, Mai Liễu, Dương Thuấn Mầu Quốc Tiến, Lộc Bích Kiệm…; chuyên viết nghiên cứu phê bình có: Lâm Tiến, Hoàng Triều Ân, Hoàng An, Hoàng Tuấn Cư, Mông Ký Slay…; một số cây bút thỉnh thoảng có

các bài viết phê bình tác phẩm văn học DTTS như : Nông Thị Ngọc Hòa, Cao

Duy Sơn, Mai Liễu, Triệu Kim Văn… Trong các cuốn sách, bài viết của mình

các cây bút nghiên cứu, lý luận phê bình DTTS đã đề cập đến nhiều vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn của quá trình sáng tạo Lò Ngân Sủn đã có 4

tập tiểu luận phê bình văn học (Hoa văn thổ cẩm I, II, III, IV) đã có những

nhận xét, đánh giá khá cụ thể, sâu sắc về văn học các DTTS Tuy nhiên, là một nhà thơ nên Lò Ngân Sủn có phần nào còn dễ dãi, phóng bút khi viết về thể loại này Nông Quốc Chấn vốn là một nhà văn hóa, một nhà lý luận nên viết có phần thận trọng, sâu sắc hơn Ông có thế mạnh là rất am hiểu về đội ngũ văn nghệ sĩ các DTTS và những sáng tác của họ cùng tình hình văn học các DTTS hiện nay Vì thế, tuy ông viết phê bình văn học không nhiều nhưng

ý kiến trong bài viết của ông đã góp phần thiết thực và cụ thể trong việc xây dựng và phát triển văn học DTTS thời kỳ hiện đại Nhiều câu phê bình trong các bài viết của ông đã trở thành những trích dẫn không thể thiếu trong những

công trình nghiên cứu về văn học dân tộc sau này Được đánh giá là “Người

cầm cờ” lý luận phê bình văn học các DTTS – Nhà văn Lâm Tiến ( dân tộc

Nùng ) đã xuất 4 cuốn sách nghiên cứu, phê bình là : “Văn học các dân tộc

thiểu số Việt Nam hiện đại ”( 1995), “Về một mảng văn học dân tộc”, (Nxb

Văn hóa dân tộc, 1999), “Văn học và miền núi”, (Nxb Văn hóa dân tộc, 2002

Trang 21

), “Tiếp cận văn học dân tộc miền núi” (Nxb Văn hóa thông tin, 2001) Đọc

các cuốn sách nghiên cứu, phê bình của ông chúng ta có thể hình dung được một cách khá rõ nét diện mạo của văn học DTTS thời kỳ hiện đại (vừa mang tính khái quát vừa mang tính cụ thể) Nhà nghiên cứu, phê bình Hoàng An

(dân tộc Tày) với công trình nghiên cứu, phê bình là: “Nét đẹp trong thơ văn

và ngôn ngữ dân tộc” với từng tập là: “Một vùng trời thơ văn của đất nước”

(tập 1-1999); “Hương sắc núi rừng” (Tập 2- 2003); “Hương rừng” (Tập 3-

2008) luôn thể hiện sự chuyên nghiệp trong các bài nghiên cứu, phê bình của mình Đọc các cuốn sách của ông, người đọc luôn nhận thấy sự chắc chắn, tính khách quan, sự khoa học trong việc bình phẩm, đánh giá các tác phẩm văn học Nhà văn Hoàng Quảng Uyên (1950, Nùng, Cao Bằng) khá sắc sảo,

tài hoa với: “Một mình trong cõi thơ” (tiểu luận, 2000)…Có một nhà thơ tiêu biểu của dân tộc Hmông đó là Mã A Lềnh – nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa, đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu phê bình DTTS khá tiêu biểu Mã A Lềnh luôn đi sâu vào phân tích, mổ sẻ rất nhiều vấn đề lớn của văn học DTTS như: Sự tồn tại và mất mát của ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn chương;

sự rơi rụng hoặc phai nhạt của các phong tục, tập quán, của bản sắc dân tộc trong cuộc sống cộng đồng các DTTS cũng như trong văn học DTTS … Ông cũng hướng ngòi bút của mình vào việc giới thiệu các cây bút mới, chỉ ra cái hay, cái đặc sắc, cũng như những hạn chế trong các sáng tác của các nhà văn DTTS Nhà thơ, nhà nghiên cứu, phê bình dân tộc Chăm Inrasara - rất hay đưa ra những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn trong quá trình sáng tạo, ông quan tâm nhiều đến vấn đề tiếng nói, chữ viết, vấn đề bản sắc dân tộc trong sáng tác (đặc biệt là mảng văn học Chăm)… Và còn nhiều các tác giả

khác như : Vi Hồng, Ma Trường Nguyên, Triều Ân, Vương Anh, Vương

Trung, Dương Thuấn, Bàn Tài Đoàn… cũng đã có nhiều cố gắng trong việc

giới thiệu các cây bút mới Một điều dễ nhận ra đó là các tác giả là người DTTS đều có sự am hiểu về bản sắc dân tộc, lại rất tâm huyết, có sự dày công sưu tầm, nghiên cứu từ các thể loại văn học dân gian cho đến văn học hiện đại

Trang 22

với mong muốn giới thiệu đến đông đảo bạn học nền văn hóa – văn học đậm

đà bản sắc dân tộc của mình Các tác giả là người DTTS viết về chính nền văn học của mình nên họ bình phẩm, đánh giá, nghiên cứu tác phẩm văn chương thường sâu sát với thực tế cuộc sống, tâm hồn của con người dân tộc, miền

núi hơn, đúng như PGS.TS Trần Thị Việt Trung nhận xét: “Trên cơ sở vốn

kiến thức rộng về xã hội học, dân tộc học và đặc biệt là từ trái tim, tâm hồn vốn rất nhạy cảm, hồn hậu, đậm đặc chất dân tộc và miền núi” [39, tr 130]

Vì vậy, các bài viết của họ rất dễ đi vào lòng người, được công chúng độc giả người DTTS nhiệt tình đón nhận Bên cạnh những tác phẩm nghiên cứu, phê bình của các tác giả tiêu biểu trên thì còn có một số công trình nghiên cứu, đánh giá tổng kết về văn học DTTS của các tổ chức Hội với sự tham gia của nhiều nhà văn người DTTS với tư cách là những người sưu tầm, biên dịch,

biên soạn, giới thiệu và cố vấn như là: Inrasara, Bùi Nhị Lê, Sầm Văn

Chương, Nông Quốc Thắng, Bùi Hy Vọng,Vi Văn Kì, Vi Văn Bàn… Ví dụ:

Một số công trình tiêu biểu như: “Tổng hợp văn học dân gian các DTTS Việt

Nam” (Viện Nghiên cứu Văn hóa phối hợp với Nhà xuất bản Khoa học Xã

Hội tổ chức biên soạn và xuất bản trong 4 năm ( từ năm 2007 đến 2010)) gồm

4 tập; Cuốn “Tiếng nói các nhà văn DTTS” (1997); “Văn học DTTS Việt

Nam hiện đại” (1998) ; “Nhà văn DTTS Việt Nam- Đời và văn” (2 tập-2003,

2004), “Văn học các DTTS thời kỳ đổi mới” (2007) …

Từ năm 1985 trở lại đây, có nhiều nhà văn người Kinh viết giới thiệu

phê bình các tác giả, tác phẩm các DTTS như: Phong Lê, Tô Hoài, Nguyên

Ngọc,Tế Hanh, Trúc Thông, Trinh Đường, Phạm Quang Trung, Vũ Quần Phương, Trần Mạnh Hảo, Trần Lê Văn, Lê Thị Mây, Lưu Khánh Thơ, Tô Phương Lan, Vũ Tuấn Anh, Phạm Phú Phong, Nguyễn Văn Toại, Phan Diễm Phương, Nguyễn Ngọc Phú, Trần Thị Việt Trung, Đào Thủy Nguyên, Nguyễn Đức Hạnh, Cao Thị Hảo… Có thể nhận thấy các tác giả người Kinh là những

người có trình độ học vấn cao và cũng có sự am hiểu về văn học Việt Nam hiện đại nói chung, văn học DTTS nói riêng cho nên việc nghiên cứu, phê

Trang 23

bình về văn học các DTTS sẽ khách quan và khoa học hơn GS Phong Lê

viết: “Mỗi nhà văn phải là bậc thầy về ngôn ngữ dân tộc mình Nhưng vai trò

ngôn ngữ dẫu quan trọng đến đâu, vẫn chưa phải là yếu tố quyết định duy nhất, hàng đầu Bởi lẽ trên thế giới hôm nay, nếu có ngôn ngữ chỉ được dùng cho một dân tộc…, thì lại có ngôn ngữ được dùng cho nhiều dân tộc, nhiều khu vực như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức, tiếng Bồ Đào Nha… nhưng không vì vậy mà văn học của mỗi dân tộc, mỗi nước lại mất đi bản sắc riêng của mình và lẫn vào nhau” [11, tr 220-221] Nhà Văn

Tô Hoài đã phát hiện ra sự khác nhau giữa nhà văn người Kinh và nhà văn

người DTTS cùng viết về đề tài dân tộc và miền núi Ông viết: “Cho tới nay,

tôi có viết một số tác phẩm về đề tài miền núi Tôi cho rằng dẫu tôi đã cố gắng nhưng tác phẩm ấy cũng chỉ đạt tới đôi nét chấm phá của một bức ký họa thông qua cảm xức mới mẻ của mình Tôi không thể có được tâm hồn và những hiểu biết để thể hiện như Đinh Ân (Mường), Vi Hồng (Tày), Mã Thế Vinh (Nùng), Mã A Lềnh (Mông) Văn học các dân tộc thiểu số có thực sự phong phú, lớn mạnh phải do chính các nhà văn dân tộc xây dựng, góp phần vào nền văn học đa dân tộc chúng ta” [7, tr 3] Tô Hoài còn viết: “Bây giờ tôi viết cuốn “Miền Tây”, trong ngôn ngữ cụ thể từng câu, anh em ở trên đấy đọc nói rằng tôi không bắt chước tiếng nói, lối nói của người H'Mông, nhưng lại có vẻ H'Mông” [8, tr 209] Sự khác biệt này có lẽ xuất phát từ tư duy,

ngôn ngữ và văn hóa dân tộc Như vậy, những tác giả người Kinh viết về dân tộc và miền núi chỉ thể hiện bản sắc dân tộc (Kinh) trong tác phẩm ấy Trừ một số nhà thơ sống ở miền núi lâu năm, họ đã dân tộc hóa, họ hiểu sâu sắc

và thông thạo về văn hóa, tư duy và ngôn ngữ của dân tộc, có được tâm hồn

đồng điệu với dân tộc đó như Ngọc Anh viết “Bóng cây Kơ nia”; Cầm Vĩnh

Ui, Bạc Văn Ùi viết: “Nhớ vợ”và “Em tắm”; Đỗ Thị Tấc viết “Khèn tình”

Những bài viết giới thiệu và phê bình của: Tế Hanh, Vân Long, Nguyễn Trọng Hoàn, Trần Mạnh Hảo… về thơ Y Phương, của Vũ Quần Phương, Phạm Quang Trung, Trần Mạnh Hảo, Trần Ninh Hồ… về thơ Lò Ngân Sủn;

Trang 24

của Trúc Thông, Thịnh Đường, Vũ Quần Phương, Trần Lê Văn… về thơ

Inrasara… đã nêu bật lên những giá trị riêng độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc, cùng với những thành tựu đáng ghi nhận và những đóng góp phong phú, đa dạng của những tác phẩm các nhà văn dân tộc thiểu số vào nền văn học Việt Nam nói chung Gần đây nhất các nhà giáo, nhà nghiên cứu phê bình tại Đại học Thái Nguyên đã có khá nhiều công trình nghiên cứu có quy mô và hệ thống về văn học DTTS Việt Nam hiện đại Nhà nghiên cứu phê bình Trần Thị Việt Trung với sự đam mê nghiên cứu về văn học DTTS, với tâm huyết của một nhà giáo, nhà phê bình cùng sự tài hoa và vốn am hiểu sâu sắc về văn học DTTS đã có nhiều cuốn sách cùng nhiều bài nghiên cứu phê bình về văn học DTTS nói chung và về các tác giả DTTS nói riêng như: Nông Quốc Chấn, Mã A Lềnh, Hà Thị Cẩm Anh, Mai Liễu, Pờ Sảo Mìn, Lò Ngân Sủn,

Vi Thị Kim Bình, Hà Lâm Kỳ, Nông Thị Ngọc Hòa…rất khách quan, sâu sắc,

tinh tế (trong các cuốn: “Bản sắc dân tộc trong thơ các dân tộc thiểu số Việt

Nam hiện đại”, Nxb Đại học Thái Nguyên, 2010; “Nghiên cứu, lý luận phê bình văn học Thái Nguyên - 25 năm đổi mới”, Nxb Đại học Thái Nguyên,

2013; “Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số”, Nxb, Đại học Thái

Nguyên, 2016); Tác giả Nguyễn Đức Hạnh với các cuốn sách nghiên cứu phê

bình về văn học DTTS khá công phu, dày dặn: “Văn học dân tộc thiểu số Việt

Nam – Truyền thống và hiện đại” (2014); “Văn học địa phương miền núi phía Bắc” (2015); Tác giả Đào Thủy Nguyên với cuốn: “Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam” (2015);

Nhà nghiên cứu phê bình Nguyễn Kiến Thọ với cuốn sách nghiên cứu chuyên

sâu: “Thơ ca dân tộc Hmông từ truyền thống đến hiện đại” (2015)…

Vào đầu những năm 90 đến nay, văn học DTTS thực sự được quan tâm

và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ cả về số lượng và chất lượng tác phẩm cùng với đội ngũ sáng tác ngày càng thêm đông đảo Nói như vậy, cũng không có nghĩa công tác nghiên cứu, phê bình văn học các dân tộc trong hơn nửa thế kỉ qua chỉ toàn thành tựu, không có những hạn chế, nhược điểm nào

Trang 25

Nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan, nghiêm túc thì mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, lại có nhiều thế mạnh, mặc dù cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định, song nghiên cứu- phê bình văn học thiểu số mới chỉ đề cập tới những vấn đề trong nội bộ của nền văn học đó Những nghiên cứu, phê bình văn học DTTS còn nặng về giới thiệu, phê bình tác giả (chủ yếu là khen ngợi, động viên); ít có bài chỉ ra những giới hạn cần nhận biết và khắc phục, vượt qua của các nhà văn DTTS Bên cạnh đó, thấy rất rõ một điều: Các bài nghiên cứu, phê bình đó ít có tính lý luận và thực sự chưa phát huy hiệu quả được vai trò tổ chức, định hướng cho văn học DTTS phát triển mạnh mẽ, vừa đảm bảo tính truyền thống, vừa phải hiện đại, đổi mới cho phù hợp với các xu hướng phát triển của văn học Việt Nam hiện đại, đương đại nói chung

Nói tóm lại, nghiên cứu, phê bình văn học DTTS đã có sự hình thành, vận động và phát triển trong suốt hơn nửa thế kỷ qua Trong quá trình hoạt động của mình, bộ phận nghiên cứu, phê bình văn học DTTS cũng đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận và đáng trân trọng Trước hết, là sự khẳng định có mặt đầy ý nghĩa của mình trong đời sống văn học các DTTS Việt Nam, giúp cho nhiều người hiểu thêm, hiểu rõ và hiểu đúng hơn về văn học DTTS; nó cũng chỉ ra biết bao vẻ đẹp lung linh, kỳ diệu ẩn chứa trong các tác phẩm văn chương của các DTTS Việt Nam Đồng thời, cũng đặt ra nhiều vấn đề quan trọng, liên quan đến sự tồn tại và phát triển của văn học DTTS trong thời kỳ hiện đại, thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay và trong tương lai Bên cạnh đó, nó cũng cất tiếng nói về cả lý luận và thực tiễn trong việc giữ gìn và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, về vấn đề song ngữ trong sáng tác, về vấn đề đổi mới văn chương DTTS để làm sao có thể hòa nhập vào dòng chảy

chung của văn học nước nhà Vì vậy, không thể không nói rằng: “Nghiên

cứu, phê bình văn học DTTS thời kỳ hiện đại đã xuất hiện kịp thời và góp phần không nhỏ vào việc tổ chức, định hướng xây dựng một nền văn học DTTS ngày càng hoàn thiện, phát triển và đạt nhiều thành tựu” (PGS.TS

Trần Thị Việt Trung) [39, tr 198]

Trang 26

1.2 Vài nét về nhà nhà nghiên cứu phê bình văn học dân tộc Nùng- Lâm Tiến

Nghiên cứu, lý luận phê bình là một bộ phận quan trọng trong đời sống văn học thời kỳ hiện đại Nhà lý luận phê bình Nga - Bielinkin đã đưa ra nhận

xét: “phê bình là sự tự nhận thức của bản thân văn học” (là sự tự ý thức của

văn học) Đã có rất nhiều bài nghiên cứu về văn học DTTS nhưng có lẽ chưa

có bài viết nào đánh giá về nghiên cứu, phê bình bộ phận văn học này Tiếp thu từ lý luận trên, Lâm Tiến xuất hiện với tư cách là người đầu tiên nghiên cứu về lý luận phê bình văn học DTTS Việt Nam hiện đại mang tính chất chuyên nghiệp rõ ràng

Nhà văn Lâm Tiến là một người hiền lành, giản dị, nhưng sâu sắc, cẩn trọng trong công việc nghiên cứu, phê bình văn học Ông sử dụng được tiếng Hán, đọc được tác phẩm nguyên bản tiếng Nga Suốt hơn 40 năm giảng dạy

và nghiên cứu văn học, ông chuyên tâm với bộ môn lý luận văn học và say

mê với việc nghiên cứu, phê bình văn học các DTTS Việt Nam Ông đã có những bài nghiên cứu từ khi ông về giảng dạy tại trường Đại học Sư phạm Việt Bắc (1967) Tác giả Lâm Tiến ( Lâm Định Tiến ) là người dân tộc Nùng, sinh ngày 20 tháng 1 năm 1934 tại phố Văn Mịch, xã Hồng Phong, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn Dòng họ Lâm của ông vốn có truyền thống hiếu học Thời Pháp thuộc, Lâm Tiến theo học trường Sơ học yếu lược luôn xếp nhất nhì lớp Năm 1954-1956, học và tốt nghiệp trường Trung cấp Sư phạm Năm 1960-1962, theo học và tốt nghiệp Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội Năm 1967, ông về công tác tại trường Đại học Sư phạm Việt Bắc ( nay là Đại học Sư Phạm – Trường Đại học Thái Nguyên) Từ năm 1973 đến 1994 là Phó Chủ nhiệm Khoa, Chủ nhiệm bộ môn Lý luận văn học của Khoa Văn Ông từng du học ở Trung Quốc, có thể đọc trực tiếp sách báo tiếng Trung Quốc Năm 1986 là thực tập Sinh tại trường Đại học Sư phạm Abi ( Nước cộng hòa Cadăcstan) Năm 1994, ông thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ:

Trang 27

“Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại” được nghiệm thu, đánh giá loại

xuất sắc Năm 1995, cuốn sách nghiên cứu, phê bình: “Văn học các dân tộc

thiểu số Việt Nam hiện đại” của ông được xuất bản và ngay lập tức đã thu hút

được sự chú ý của bạn đọc và của một số nhà nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam thời kỳ đó Năm 1997, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam

và tiếp tục xuất bản 3 tập sách nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS

đó là: “Về một mảng văn học dân tộc”, (Nxb Văn hóa dân tộc, 1999), “Văn

học và miền núi”, ( Nxb Văn hóa dân tộc, 2002), “Tiếp cận văn học dân tộc miền núi”, ( Nxb Văn hóa thông tin, 2011) Cùng hàng loạt bài phê bình lẻ

trên các báo chí Trung Ương và địa phương Vì vậy, tên tuổi của ông đã được nhiều người biết đến – với tư cách là nhà nghiên cứu, phê bình văn học DTTS Việt Nam tiêu biểu Ông là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật các DTTS Việt Nam – người có đóng góp nổi trội trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học các DTTS Việt Nam hiện đại

Có thể thấy, Lâm Tiến là một nhà nghiên cứu, phê bình gắn bó, tâm huyết, cũng như đã cống hiến cả cuộc đời của mình cho sự nghiệp văn học các DTTS Việt Nam hiện đại Ông là tác giả DTTS đầu tiên được nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam về tác phẩm nghiên cứu, lý luận phê bình văn học DTTS (1996) và nhận được nhiều giải thưởng của Hội văn học nghệ thuật các DTTS Việt Nam (vào các năm 2003, 2003, 2012), của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên (2012, 2013) Một điều đáng quý, đáng trân trọng là những tác phẩm của ông luôn thể hiện sự tâm huyết, lòng say mê, sự gắn bó sâu sắc của chình mình đối với sự vận động và phát triển của văn học

DTTSViệt Nam Trong cuốn: “Nhà văn Việt Nam hiện đại”, (Nxb Hội nhà văn, 2010), Lâm Tiến đã tự bạch: “Tôi có cái may mắn là hơn ba chục năm

được dạy lý luận văn học ở trường đại học sư phạm Lại là người con của các dân tộc thiểu số nên cũng dễ có điều kiện đi sâu tìm hiểu về đời sống văn hóa, văn học dân tộc Mặt khác tôi rất tâm huyết với mảng văn học này, nên đã

Trang 28

giành nhiều thời gian, công sức tìm hiểu nó Thiếu một trong ba điều kiện trên, có lẽ tôi không có những bài viết như ngày hôm nay” [1, tr 742] Đúng

vậy, trong cuốn: “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại” (1995),

Lâm Tiến đã nêu lên những vấn đề liên quan tới văn học các DTTS Việt Nam hiện đại trong đó nổi bật lên ba vấn đề là: Vấn đề Hoàng Đức Hậu (1890-1945), vấn đề Tiếng nói và Chữ viết, vấn đề Truyền thống và Hiện đại Đồng thời, nhà văn cũng phác thảo diện mạo văn học các DTTD sau 50 năm hình thành và phát triển, ông còn đi sâu vào từng thể loại chủ yếu của bộ phận văn học đặc biệt này Ông khẳng định thành tựu nổi bật nhất của văn học DTTS Việt Nam chính là thơ – kể cả đội ngũ và tác phẩm Sự kết hợp tư tưởng cách mạng của thời đại với hình thức ngôn ngữ thơ ca truyền thống đã quy định đề

tài chủ đề, nội dung và hình thức thơ: “Từ loại hình sáng tác văn học dân

gian sang văn học viết, nên thơ thời kỳ này còn thể hiện rõ các thể thơ truyền thống: 7 chữ 8 dòng, 7 chữ 4 dòng kéo dài, vần đường luật, các làn điệu dân

ca các dân tộc: Sli (Nùng), xường, rang (Mường), Khắp (Thái), Dung ( Dao), lượn (Tày),… Nhiều bài thơ được giữ lại gần như nguyên vẹn từ đề tài và cảm hứng, hình ảnh và cấu tạo, ngôn ngữ và tư duy” [1, tr 84] Mặc dù hình thức

thơ đa dạng nhưng những hình tượng, chi tiết, ngôn ngữ thơ lại rất gần gũi với người miền núi Đề tài thơ chủ yếu viết về miền núi, viết về dân tộc mình, bên cạnh đó cũng có sự mở rộng đề tài về miền xuôi, về miền Bắc, Miền Nam, và

cả quốc tế Về mặt nghệ thuật, các nhà thơ: “ráo riết tìm đường để kết hợp

giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, phát huy bản sắc dân tộc trong văn học, vấn đề song ngữ…” [1, tr 100]

Nhà văn Lâm Tiến cũng chỉ ra sự hình thành và phát triển của văn xuôi các DTTS Việt Nam hiện đại diễn ra muộn hơn, vào năm 1958, tức là vào những năm chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Ông chỉ rõ: Từ truyện, ký, đến tiểu thuyết, cũng như thơ, thời gian đầu chịu ảnh hưởng nặng nề của văn học dân gian Có thể nói văn xuôi các DTTS như một bức tranh sử thi, ca ngợi con người, cuộc sống nhân dân các

Trang 29

dân tộc miền núi Bằng những hình tượng, chi tiết, ngôn ngữ cụ thể, trực tiếp

và sinh động, cách nói giàu hình ảnh, các tác giả đã khắc họa tương đối rõ nét những hình tượng nhân vật như: Ché Mèn, Vãi Đàng, Ké Nàm, Hơ Giang…

Đó là lối nói ví von, so sánh, ước lệ, tượng trưng giàu hình ảnh Người chịu ảnh hưởng rõ nhất là nhà văn Vi Hồng Văn xuôi các DTTS còn nặng về trực giác, cảm tính hơn là phân tích, lí tính Ý nghĩa khái quát, triết lý của tác phẩm còn bị coi nhẹ Việc xây dựng tính cách và hoàn cảnh chưa đạt đến mức điển hình của nó Vào những năm 90, một số ít nhà văn như: Mã A Lềnh, Cao Duy Sơn đã bứt ra khỏi kiểu tư duy trực giác, cảm tính đó Với tư duy phân tích, lý tính, họ đã đem lại cho văn xuôi các DTTS một cách viết, một cách cảm nhận riêng về con người và cuộc sống của các dân tộc miền núi Họ đã tạo cho nhân vật có được cá tính riêng, không nhân vật nào giống nhân vật nào Ngôn ngữ ở đây mang tính chất văn xuôi hơn là cách nói ước lệ, ví von

so sánh của những nhân vật tiểu thuyết trước Kết cấu truyện cũng phức tạp hơn, không gian và thời gian xen kẽ Những vấn đề nhân bản được đặt ra và giải quyết theo cái nhìn mới, đó là mối quan hệ giữa cái thiện và cái ác, mối quan hệ giữa con người với con người Trong ba thể loại thì kịch các DTTS là chậm phát triển nhất, chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn (1957-1980) và chỉ

có ba dân tộc có kịch bản văn học Đó là Tày, Thái, Mường Nhìn chung, kịch của các DTTS mới ở giai đoạn đầu, giai đoạn hình thành mà chưa phát triển nên thành tựu của nó chưa có gì nổi bật và chưa có tác giả nào trở thành tác

giả hay nhà văn Với số tác giả và tác phẩm ít ỏi (“Chờ gà gáy” của Nông Ích Đạt,“Người con gái miền núi” của Bế Dôn,“Tiếng cồng gọi mặt trời” của Quách Ngọc Thiên, “Thông đường” của Dương Văn Đinh, “Câu chuyện

quanh một bài ca” của Vương Hùng…), với những vở kịch kết cấu đơn giản

rõ ràng, gần như theo một khuôn mẫu “Đó là cuộc đấu tranh giữa cái cũ và

cái mới, giữa hủ tục và mê tín dị đoan với nếp sống văn hóa, giữa du canh, du

cư với định canh, định cư và xây dựng hợp tác xã, giữa chia rẽ và đoàn kết các dân tộc, giữa ta và địch… Những mâu thuẫn, xung đột kịch bao giờ cũng

Trang 30

được giải quyết bằng những quan điểm , đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng Cho nên nội dung tư tưởng của kịch bao giờ cũng được bộc lộ rõ Kịch thường phục vụ kịp thời những chủ trương, chính sách của Đảng ban hành”

[1, tr 187] Kết cấu của các vở kịch DTTS thường đơn giản, có các tình

huống giả tạo, vì vậy tính chân thật của vở diễn thường bị hạn chế, các nhân vật không có cá tính riêng của mình

Trong cuốn: “Về một mảng văn học dân tộc” ( Nxb Văn hóa dân tộc,

1999), thì Lâm Tiến lại dành một phần để giới thiệu những nét văn hóa nổi bật đặc sắc để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về con người, tính cách, tâm lý, nếp sống của người dân tộc, qua đó nhận thức sâu sắc hơn về nền văn học các DTTS thời kỳ hiện đại Đó là quê hương miền núi với những ngày xuân mơ

nở, những dãy núi, bản làng, tiếng khèn, phiên chợ, những buổi biểu diễn văn nghệ với các câu hát sli, lượn, hát páo - dung… và cả con người nơi đây

Những người con gái miền núi thì đẹp như “Một bông hoa rừng ngây ngất

hương bay” với “Mắt em xanh mơ màng mắt lá” còn “Trai miền núi lúc nào cũng tươi” Cuộc sống của miền núi cũng nhọn nhịp, huyên náo không kém

“Ngựa đi tung vó đường rung nhạc đường” Đó còn là sự khắc nghiệt của

thiên nhiên, sự khó khăn vất vả của cuộc sống, sự “chầm chập” của con

người, là những phong tục tập quán nghèo nàn, lạc hậu đè nặng lên thân phận con người miền núi Nhưng họ luôn yêu dân tộc mình từ những khó khăn vất

vả nhọc nhằn hàng ngàn năm luôn đè nặng lên cuộc sống con người nơi đây

Và cũng chính vì thế, họ càng gắn bó với dân tộc mình, phát hiện ra cái đẹp

bên trong, cái đẹp tâm hồn của dân tộc mình: “Đi đâu rồi cũng trở về/ Nước

múc gáo/ Gạo vẫn đong bằng đấu/ Bên bếp mắt lại nhìn đau đáu/ Đêm dài lửa ấm có em” (Dương Thuấn- Quê hương) Bên cạnh đó, Lâm Tiến dành

phần lớn cho nội dung quan trọng đó là: “Phác một cái nhìn khái quát toàn

diện về toàn bộ nền văn học các dân tộc thiểu số Việt nam hiện đại” Ông xác

định đúng đối tượng và phương pháp nghiên cứu văn học, tác phẩm đã cho làm sáng tỏ và đánh giá đúng một số tác giả và tác phẩm đã từng được đưa ra

Trang 31

nghiên cứu và bàn luận trước đây Lâm Tiến cũng chỉ ra những nét riêng, mang đậm bản sắc dân tộc trong các tác phẩm của các nhà văn DTTS, cũng như những mặt mạnh và chưa được của họ… Những bài viết của ông luôn đi vào tìm hiểu khái quát về tiểu sử, về cuộc đời, về con người, về sự nghiệp văn học của tác giả, sau đó là đưa ra những lời bình luận, đánh giá về nội dung tư tưởng và quan điểm nghệ thuật của tác phẩm mà để lại cho ông ấn tượng sâu đậm nhất Lâm Tiến là người viết chân dung các nhà văn dân tộc khá thành công Ông đã phác họa chân dung Ngần Văn Hoan, nghiên cứu khá kỹ và sâu sắc về Hoàng Đức Hậu, ông đã phát hiện ra một Dương Thuấn luôn khát vọng tìm tòi cái xưa cũ, cảm động trước niềm say mê cống hiến sáng tạo của Bàn Tài Đoàn, nhận ra một chân lý bất hủ về “Cái Đẹp” lý tưởng qua bài thơ

“Người đẹp” của Lò Ngân Sủn, đã ghi nhận đóng góp đáng quí của nhà thơ

Triệu Lam Châu… Những nhận xét của ông về các nhà văn thường ngắn gọn,

chính xác và đầy tinh tế: “Truyện của Cao Duy Sơn còn hấp dẫn người đọc ở

cách viết giàu cảm xúc, giàu hình tượng, sắc sảo với những tình huống căng thẳng, gay gắt, bất ngờ Ông tỏ ra là người có tài trong việc miêu tả những cuộc săn bắt thú và những truyện kiếm hiệp, lục lâm…” [1, tr 347] Với nhà

văn nữ người Êđê thì: “Có lẽ, hiếm có nhà văn nào sử dụng chất huyền thoại,

sử thi hài hòa và nhuần nhuyễn như H’Linh Niê”; “Để nói về cuộc sống, con người Tây nguyên Chất huyền thoại, sử thi còn bàng bạc trong những trang

ký của bà Đó là chỗ mạnh của H’Linh Niê và cũng là thế mạnh của các nhà văn dân tộc thiểu số khác” [1, tr 347] Với nhà văn người dân tộc Dao – Bàn

Tài Đoàn, ông nhận xét : “Đọc thơ anh, ta bắt gặp lời nói dung dị hằng ngày

của một dân tộc Anh rất xa lạ với cách nói bóng gió, cách làm duyên chau chuốt cho thơ, anh cũng xa lạ với việc dùng những từ “đại ngôn” cường điệu, phóng đại… ví von trong thơ anh bao giờ cũng cụ thể giữa vật được ví và vật

ví, đôi khi “quá cụ thể, quá hiền làng, quá chất phác…” như có người nhận định Thơ anh rất ít khi làm cho người đọc phải suy nghĩ, xét đoán Thơ anh

là con người anh, là tiếng nói của anh, một giọng điệu thơ riêng của Bàn Tài

Trang 32

Đoàn, nếu có thể nói được như thê Tiếng nói đó đã thể hiện phần nào hiện thực và tâm hồn của dân tộc Dao”[24, tr 146] Nói về Vương Anh, Lâm Tiến

nhận định: “Vương Anh là người giàu tâm huyết với thơ ca dân tộc, ông rất

am hiểu và say sưa nghiên cứu, sưu tầm và giới thiệu văn học dân gian của dân tộc Mường Ông muốn phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc, đưa thơ ca dân tộc lên đỉnh cao mới” [1, tr 102] Với Y Phương thì Lâm Tiến

khẳng định: “Thơ Y phương như một bức tranh thổ cẩm đan dệt những màu

sắc khác nhau, một bản nhạc giao hưởng giao thoa nhiều âm điệu nhưng trong đó có một màu sắc chủ đạo, một âm điệu chính là bản sắc dân tộc của ông… Thơ ông vừa có sự vang vọng của lịch sử, vừa có sự vang vọng của Thời đại…” [1, tr 146-147] Còn về Hoàng Quảng Uyên, Lâm Tiến bình

luận: “Hoàng Quảng Uyên có tài phân tích, mổ xẻ cho mọi người thấy đến

ngọn ngành, gốc rễ của mọi sự vật, hiện tượng, cái được, cái mất, cái vui, cái buồn trong cuộc sống xã hội hiện nay Văn của ông thể hiện rõ một nét tính cách của người dân tộc là thẳng thắn, bộc trực Ông lên án, phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội với những cân văn châm biếm, dí dỏm có phần nào chua cay nên ký của ông thường gây xôn xao dư luận và không làm vừa lòng một số quan trên” [1, tr 351- 352]

Trong cuốn: “Văn học và miền núi” ( Nxb.Văn hóa dân tộc, 2002),

Lâm Tiến rất công bằng khi đánh giá những mặt mạnh trong tác phẩm của người Kinh viết về dân tộc và miền núi, những trang viết có những nét đẹp riêng, phát hiện cái lạ, cái riêng độc đáo, phát hiện ra phẩm chất rất đẹp của con người miền núi mà có khi bản thân dân tộc ấy chưa phát hiện ra hoặc không để ý tới, nhưng ông cũng thật mạnh mẽ khi chỉ ra khá nhiều lúng túng trong những tác phẩm này, rằng thiên nhiên và cuộc sống người miền núi với

họ“chưa phải là máu thịt” Đọc toàn bộ các bài viết của Lâm Tiến trong công

trình này, chúng ta nhận thấy ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề bản sắc dân

tộc trong sáng tác của các nhà văn DTTS Lâm Tiến cho rằng: “Bản sắc dân

tộc trong văn học là do chính các nhà văn dân tộc sáng tạo ra… Nó là sự thể

Trang 33

hiện tâm hồn tính cách dân tộc qua cách cảm, cách nghĩ, cách nói riêng của nhà văn, là sự thể hiện một cách đẹp đẽ sáng tạo những truyền thống văn hóa của dân tộc trong điều kiện lịch sử nhất định” [1, tr 76] Với cách nhìn nhận

sâu sắc và toàn diện đó, Lâm Tiến ý thức rất rõ tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong sáng tác của các nhà văn DTTS Là một người con DTTS nên đối với Lâm Tiến, văn học các DTTS không phải chỉ là đối tượng nghiên cứu, phản ánh mà nó còn là tâm huyết, là máu thịt, là một phần dòng chảy của ông, trong đó trăn trở lớn nhất là làm được một điều gì đó thật cụ thể và thiết thực đóng góp vào sự phát triển của nền văn học các DTTS Chính vì vậy, khi nhận xét về những tác phẩm của nhà nghiên cứu, phê bình Lâm Tiến, PGS.TS Phạm Quang Trung đã khẳng định: Trong lĩnh vực văn chương, người tâm huyết, có nghề, có đóng góp hơn cả chính là Lâm Tiến Do đòi hỏi của công việc giảng dạy, cộng với thiên hướng của bản thân, ông đã dồn nhiều tâm trí, thời giờ cho việc tìm hiểu các cây bút DTTS không chỉ vùng Việt Bắc mà còn ở khắp Bắc – Trung – Nam

Thành tựu về công tác nghiên cứu, phê bình văn học của thầy giáo Lâm

Tiến trong cuốn: “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại” ( Nxb

Văn hóa dân tộc, 1995) được đánh giá là công trình đầu tiên phác họa một cách tổng quát và cụ thể toàn bộ nền văn học DTTS Việt Nam thời kỳ hiện đại Qua các công trình nghiên cứu, phê bình về văn học DTTS của Lâm Tiến, chúng ta biết được nhiều hơn về những thành tựu của từng giai đoạn hay của từng địa phương, từng vùng miền qua những tác giả, tác phẩm văn học DTTS tiêu biểu mà ông đã đưa ra phân tích, lập luận

Nói tóm lại, nhà văn Lâm Tiến là nhà nghiên cứu, phê bình văn học DTTS có tính chuyên nghiệp (rất hiếm hoi), có sự say mê và rất tâm huyết, có bản lĩnh sáng suốt trong việc đánh giá tác phẩm, lại vừa có tính khoa học, vừa thẩm thấu tính nghệ thuật khách quan đáng tin cậy Tuy nhiên, Lâm Tiến cũng

có những mặt hạn chế nhất định trong quá trình nghiên cứu, phê bình của

Trang 34

mình Theo nhà nghiên cứu, phê bình Trần Thị Việt Trung thì: Do ảnh hưởng quá sâu sắc trường phái lí luận phê bình văn học Nga nên ông thường trình bày theo một cấu trúc nhất định, chịu sự chi phối của một vài phương pháp quen thuộc… song đây chỉ là một vài điểm riêng trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Lâm Tiến Những tác phẩm nghiên cứu, phê bình của ông vẫn luôn được đánh giá cao bởi nó đã góp phần quan trọng vào việc dựng lên bức chân dung văn học DTTS Việt Nam hiện đại với những chặng đường phát triển, với những thể loại văn học trong quá trình vận động tiến lên phía trước,

và với những gương mặt, những tác phẩm tiêu biểu của các DTTS Việt Nam hiện đại Nhiều công trình nghiên cứu, phê bình văn học DTTS được viết sau ông đều trân trọng, tin tưởng trích dẫn nhiều đoạn, nhiều câu và nhiều ý kiến của ông về mảng văn học này Là một nhà nghiên cứu, phê bình chuyên nghiệp, Lâm Tiến luôn quan tâm, chú trọng đến vấn đề phát triển của đội ngũ các nhà văn trẻ của các DTTS, theo sát từng bước đi của văn học DTTS, đã phát hiện những sáng tác mới, những cây bút trẻ để nâng niu, trân trọng và động viên, khuyến khích; đã nghiên cứu, phê bình một cách khách quan, tôn vinh những sáng tác của các nhà văn đã có những đóng góp cho văn học DTTS; đã chỉ ra cái hay, cái đặc sắc, cũng như những hạn chế trong các sáng tác của các nhà văn DTTS Có thể khẳng định: Nhà nghiên cứu, phê bình văn học DTTS Lâm Tiến đã có những đóng góp đáng trân trọng, đáng ghi nhận trong lĩnh vực hoạt động nghiên cứu, phê bình nói riêng, với đời sống văn học DTTS hiện đại nói chung

* Tiểu kết

Văn học các DTTS hiện đại được hình thành muộn hơn so với nền văn học Việt Nam hiện đại Với hơn 70 năm hoạt động liên tục, văn học các DTTS đã đạt được những thành tựu đáng khẳng định, góp phần làm phong phú hơn, giàu có hơn cho đời sống văn học nước nhà Với tư cách là “sự tự ý thức” của văn học DTTS- lý luận phê bình văn học DTTS đã được hình thành

Trang 35

và ngày càng khẳng định được sự có mặt của mình trong đời sống văn học cộng đồng các DTTS Việt Nam Trong đội ngũ các cây bút người DTTS viết

lý luận phê bình văn học – nổi bật lên gương mặt một nhà văn nghiên cứu phê bình dân tộc Nùng Lâm Tiến Tác giả Lâm Tiến là một trong số hiếm hoi các tác giả trong làng văn học DTTS chuyên viết nghiên cứu, phê bình văn học Ông là người con dân tộc Nùng được đào tạo cơ bản về lý luận văn học Và là người đam mê, tâm huyết, dồn hết cả trí tuệ và tình cảm cho công việc nghiên cứu phê bình văn học DTTS Đáng kể nhất trong sự nghiệp văn học của ông

là bốn tác phẩm nghiên cứu, lý luận phê bình văn học DTTS Việt Nam hiện đại Đây là những tác phẩm, những công trình có giá trị lý luận và thực tiễn cao và thuộc loại hiếm hoi của đời sống văn học DTTS Trong các công trình nghiên cứu phê bình này của ông, các vấn đề thuộc về lý thuyết, lý luận; các vấn đề thuộc về tình hình hoạt động và sáng tác của văn học DTTS Việt Nam thời kỳ hiện đại đã được ông đề cập tới; được lý giải, được phân tích… khá sâu sắc, có tác dụng không chỉ vào việc: đánh giá, thẩm định một cách khách quan những đặc điểm cùng các giá trị của các tác phẩm, tác giả văn học DTTS mà còn góp phần định hướng cho văn học DTTS phát triển một cách lành mạnh và đúng hướng, đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn chương ngày một cao của đồng bào các DTTS Việt Nam nói riêng, của người đọc cả nước nói chung

Trang 36

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG CÁC TÁC PHẨM NGHIÊN CỨU,

PHÊ BÌNH CỦA LÂM TIẾN 2.1 Những vấn đề liên quan đến lĩnh vực lý thuyết, lý luận về văn học dân tộc thiểu số

Trong các cuốn sách nghiên cứu, phê bình của mình, tác giả Lâm Tiến

đã đề cập đến nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực lý thuyết, lý luận, về văn học

DTTS thời kỳ hiện đại Đó là các vấn đề: Vấn đề truyền thống và hiện đại, Vấn đề ngôn ngữ và chữ viết, Vấn đề con đường phát triển của văn học DTTS với từng thể loại, Vấn đề hiện đại hóa trong sáng tác của các nhà văn DTTS Những vấn đề này rất được Lâm Tiến quan tâm và giành nhiều

tâm sức để góp phần giải quyết những khó khăn, khúc mắc của các nhà văn, nhà thơ trong quá trình sáng tác nói riêng, của quá trình vận động và phát triển văn học DTTS thời kỳ hiện đại nói chung Để có thể đưa ra được những suy nghĩ, những nhận xét, nhận định như vậy, nhà văn Lâm Tiến đã đọc, đã tích lũy vốn kiến thức về lý thuyết rất sâu rộng, cùng với vốn văn hóa, văn học DTTS trong thực tiễn đời sống văn học các DTTS Việt Nam

2.1.1 Vấn truyền thống và hiện đại trong sáng tác của các nhà văn DTTS thời kỳ hiện đại

Trong cuốn: “Văn học các DTTS Việt Nam hiện đại” (1995), nhà

nghiên cứu, phê bình Lâm Tiến đã dành hẳn một chương quan trọng để bàn

riêng về “Vấn đề truyền thống và hiện đại” Ông coi đó vừa là yêu cầu vừa là

mục tiêu phấn đấu các nhà văn DTTS nói riêng, của bộ phận văn học DTTS nói chung thời kỳ hiện đại Như chúng ta đã biết, xã hội ngày càng phát triển,

sự giao lưu, hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng nhất là trong lĩnh vực kinh

tế, văn hóa nghệ thuật Do đó, vấn đề cần phải hiện đại hóa – nhưng vẫn phải giữ được tính truyền thống trong sáng tác văn học luôn được coi là vấn đề sống còn của văn học DTTS Bởi nếu không giải quyết được vấn đề đó thì

Trang 37

nền văn học DTTS sẽ xuất hiện những tác phẩm là “những đứa con lai”, không phải là con đẻ của văn học DTTS nữa Mối quan hệ giữa truyền thống

và hiện đại trong văn học các DTTS được thể hiện hết sức phức tạp, đa dạng Theo Lâm Tiến thế nào là truyền thống? Thế nào là hiện đại trong sáng tác

văn học? Ông đã đưa ra quan điểm này như sau: “Hầu hết các cây bút nghiên

cứu, lý luận phê đều thống nhất cách hiểu về các khái niệm này và đã vận dụng vào nghiên cứu, phê bình tác phẩm, tác giả văn học DTTS Theo họ, khái niệm truyền thống được hiểu ở 2 tầm vực nghĩa: nghĩa hẹp và nghĩa rộng Nghĩa hẹp chỉ vốn văn học truyền thống của dân tộc ( từ tục ngữ, thành ngữ, dân ca đến truyện cổ, truyền thuyết, sử thi, trường ca, truyện thơ…) được xét trên cả hai phương diện: nội dung và nghệ thuật của thể loại Vốn văn học cổ đó đã được các thế hệ nhà văn, nhà thơ DTTS tiếp thu, vận dụng, phát huy như thế nào trong các sáng tác cụ thể của mình Còn nghĩa rộng được hiểu như là một thuộc tính cơ bản của dân tộc… Còn khái niệm hiện đại trong sáng tác – được hiểu là: những yếu tố mới trong đời sống văn học thời

kỳ hiện đại trên cả hai phương diện: nội dung phản ánh (cuộc sống mới, con người mới và các vấn đề phong phú, phức tạp khác thuộc về xã hội thời kỳ hiện đại) và nghệ thuật thể hiện (hệ thống thi pháp hiện đại: ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu, không gian, thời gian nghệ thuật và các yếu tố khác ” [39,

tr 180-181] Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong sáng tác được đặt ra rất cấp bách đối với các nhà văn DTTS Lâm Tiến

cho rằng: “Trong sáng tác việc giải quyết mối quan hệ giữa truyền thống và

hiện đại cũng chính là giải quyết vấn đề tính dân tộc trong văn học” Nhưng

tính dân tộc trong văn học lại do chính các nhà văn DTTS thể hiện một cách

cụ thể và sáng tạo trong tác phẩm của mình Việc kết hợp giữa truyền thống

và hiện đại đòi hỏi nhà văn phải có được cá tính, bản lĩnh sáng tạo Nhưng cá tính, bản lĩnh đó của nhà văn phải đặt trong cá tính của dân tộc Muốn làm được như vậy, nhà văn phải có trình độ, năng lực và tư duy phân tích hiện đại

Lâm Tiến đã dẫn lời của Raxun Gamzatốp để khẳng định điều này:“Bút pháp

Trang 38

của con, cách viết của con, tức là cá tính, bản lĩnh của con phải đứng ở hàng thứ hai trong thơ Phải đặt lên hàng đầu cá tính bản lĩnh của dân tộc mình Trước hết phải là một người dân miền núi; một người Avar đã rồi hãy là Raxun Gamzatốp” [1, tr 58] Và chính nhà nghiên cứu, phê bình Lâm Tiến

cũng đã đưa ra một khái niệm (theo cách nói của mình) về bản sắc dân tộc

trong văn học DTTS như sau: “Bản sắc dân tộc trong văn học do chính nhà

văn dân tộc sáng tạo ra - phải được hiểu với nội dung như vậy Nó là sự thể hiện tâm hồn qua cách cảm, cách nghĩ, cách nói riêng của nhà văn, là sự thể hiện một cách đẹp đẽ, sáng tạo những truyền thống văn hóa của dân tộc trong các điều kiện lịch sử nhất định Nó xa lạ với sự bắt chước, mô phỏng bản năng cũng như phát huy truyền thống một cách đơn thuần Đó vừa là thiên bẩm tính tự nhiên, vừa là phẩm chất mà người cầm bút phải phấn đấu cho đúng hướng trên hành trình hiện đại hóa sáng tác” [23, tr 76] Theo ông, văn

hóa dân tộc tồn tại ở bản sắc, phát triển ở tiếp nhận và sáng tạo Trong sự phát triển, văn học các DTTS không thể không tiếp nhận những giá trị mới của văn học Việt Nam hiện đại nói riêng, văn học thế giới nói chung Đây cũng chính

là đã góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn học dân tộc và làm giàu có thêm bản sắc văn hóa dân tộc trong văn học của các nhà văn DTTS qua các sáng

tác của mình

Trong các bài viết của mình, tác giả Lâm Tiến chỉ ra xuất phát điểm đi lên của văn học DTTS là: Từ văn học dân gian tiến thẳng lên văn học hiện đại (không qua giai đoạn văn học trung đại phong kiến) Và khi văn học DTTS thời kỳ hiện đại được hình thành thì văn học Việt Nam hiện đại đã có một giai đoạn phát triển mạnh mẽ, rực rỡ (giai đoạn giao thời từ cuối thế kỷ XIX – đến năm 1945 thế kỷ XX) Nói một cách khác: Văn học các DTTS Việt Nam hiện đại mới được hình thành thì văn học hiện đại của nước nhà đã đạt được thành tựu về mọi mặt Vì thế mỗi một nhà văn DTTS đều phải tạo cho mình một phong cách nghệ thuật riêng, một phương thức thể hiện riêng (tuy chưa có thể phát triển thành các khuynh hướng,các trào lưu riêng) Điều đó đã góp phần

Trang 39

tạo nên nét bản sắc đa dạng, phong phú trong văn học DTTS thời kỳ hiện đại

Do năng lực, cá tính sáng tạo của từng tác giả DTTS khác nhau mà các tác giả

có sự khác nhau về việc thể hiện bản sắc dân tộc trong sáng tác Ví dụ như: giữa Nông Viết Toại với Triều Ân, giữa Vi Hồng với Mã A Lềnh, Y Phương với Lò Ngân Sủn, Cao Duy Sơn với Hà Thị Cẩm Anh… Tiếp theo, nhà văn chỉ đã chỉ ra sự khác nhau giữa nhà văn người Kinh và nhà văn người DTTS khi viết đề tài mền núi Về các tác giả là người Kinh, nhà văn đánh giá cao

một số tác giả như : Nam Cao với “Nhật ký ở rừng”, Tô Hoài với tập

“Truyện Tây Bắc”, Nguyên Ngọc với tác phẩm “Đất nước đứng lên”, Mạc

Phi với “Rừng động”, Ma Văn Kháng với “Đồng bạc trắng hoa xòe”… bởi

vì họ đã xây dựng được những hình tượng nhân vật người DTTS điển hình

cùng với bức tranh về cuộc sống của đồng bào DTTS vùng cao Nhưng chính

Tô Hoài lại nói: “Cho tới nay, tôi có viết một số tác phẩm về đề tài miền

núi… Tôi cho rằng dẫu tôi đã cố gắng nhưng những tác phẩm ấy cũng chỉ đạt tới đôi nét chấm phá của một bức kí họa thông qua cảm xúc mới mẻ của mình… Văn học các dân tộc thiểu số có thực sự phong phú, lớn mạnh phải do chính các nhà văn dân tộc ấy xây dựng, góp phần vào nền văn học đa dân tộc của chúng ta” [1, tr 476] Nghĩa là, khi các tác giả người Kinh khi viết về đề

tài dân tộc và miền núi cho dù họ có nền tảng kiến thức chắc chắn, sâu rộng

và “có nghề” hơn, nhưng do họ không được đắm mình trong dòng chảy của văn hóa, văn học truyền thống của DTTS; miền núi không phải là nơi chôn rau cắt rốn, nơi lưu giữ những kỷ niệm, ký ức trong tâm hồn của họ thì bản sắc văn hóa dân tộc có thể cũng không được thể hiện rõ nét Thi hào M Gorki

đã từng nói: “Chẳng ai biết rõ căn nhà hơn bốn bức tường của nó” Bên cạnh

đó, bản thân các tác giả là người DTTS muốn giữ được bản sắc dân tộc của mình trong sáng tác văn học thì phải biết sáng tạo, phát huy từ vốn văn hóa, văn học truyền thống của dân tộc họ chứ không phải là sự mô phỏng, bắt

chước cách viết, cách cảm nhận của người khác Theo Lâm Tiến: “vấn đề

truyền thống và hiện đại” trong văn học chính là mối quan hệ giữa truyền

Trang 40

thống văn hóa dân tộc độc đáo với việc tiếp thu một cách sáng tạo văn hóa, văn học của người Kinh, cũng như văn hóa, văn học thế giới để từ đó cho ra những tác phẩm có giá trị, đặc sắc, đậm đà bản sắc văn hóa tộc người, nhưng lại hiện đại, có đủ điều kiện hòa mình vào dòng chảy chủ lưu của văn học dân tộc Việt… Ông cho rằng, để giải quyết được mối quan hệ giữa truyền thống

và hiện đại trong sáng tác văn học đòi hỏi các tác phẩm của nhà văn người DTTS phải luôn mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc mình qua các phương diện: Từ nội dung phản ánh đến nghệ thuật thể hiện; từ tư duy, cách nghĩ, cách cảm đến lối viết; từ đề tài đến nhân vật, từ không gian nghệ thuật đến thời gian nghệ thuật… nếu không làm được điều đó, chỉ chạy theo các phương thức nghệ thuật hiện đại mà không coi trọng truyền thống thì người đọc sẽ không nhận ra được đâu là tác phẩm của nhà văn DTTS? đâu là tác

phẩm của người Kinh? Nói như nhà thơ Nông Quốc Chấn thì: “Các nhà văn

DTTS cần phải nhìn, phải nghĩ, phải miêu tả hiện thực cuộc sống theo những cách riêng của mình Cái riêng ấy là đặc điểm trong lịch sử phát triển của dân tộc ở những điều kiện ăn, ở, lao động, những biểu hiện của lòng tin, yêu, ghét, hận, vui, buồn… của mỗi con người của dân tộc mình” Theo nhà văn

Lâm Tiến, trong quá trình sáng tác, các tác giả DTTS ráo riết tìm đường để kết hợp giữa truyền thống và hiện đại Và thực tiễn thì có một số tác giả vẫn giữ cách sáng tạo cũ của mình, nặng về nghệ thuật truyền thống dân gian Một

số tác giả lại tìm tòi để thể nghiệm sáng tạo từ đó nảy sinh hai xu hướng: một

là nặng về lối viết hiện đại, hai là đã có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại Thông qua các bài viết về nghiên cứu, phê bình, khái quát về văn học DTTS và các bài viết về từng tác giả, tác phẩm văn học DTTS cụ thể, nhà nghiên cứu, phê bình Lâm Tiến đã chỉ rõ cần phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại trong sáng tác của các nhà văn DTTS

Và chỉ có như vậy, văn học DTTS mới tạo nên được bản sắc riêng mà vẫn hiện đại, không lỗi thời, không tụt hậu so với văn học Việt Nam hiện đại nói chung

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lâm Tú Anh- Nguyễn Đức Hạnh (tuyển chọn, biên soạn) (2016), Tuyển tập những tác phẩm lí luận phê bình văn học dân tộc thiểu số của nhà văn Lâm Tiến, Nxb Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập những tác phẩm lí luận phê bình văn học dân tộc thiểu số của nhà văn Lâm Tiến
Tác giả: Lâm Tú Anh- Nguyễn Đức Hạnh (tuyển chọn, biên soạn)
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2016
2. Nguyễn Duy Bắc (1994), “Về bản sắc dân tộc trong sáng tác của các nhà thơ dân tộc thiểu số”, Tạp chí văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản sắc dân tộc trong sáng tác của các nhà thơ dân tộc thiểu số
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Năm: 1994
3. Nông Quốc Chấn (1996), Bản sắc dân tộc trong thơ, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc trong thơ
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1996
4. Nông Quốc Chấn, Phan Đăng Nhật, Lâm Tiến (1997), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nông Quốc Chấn, Phan Đăng Nhật, Lâm Tiến
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1997
5. Nông Quốc Chấn (1977), Một vườn hoa nhiều hương sắc, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vườn hoa nhiều hương sắc
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1977
6. Đinh Văn Định (1986), “Văn học các dân tộc thiểu số mười năm qua với vấn đề truyền thống và hiện đại”, Tạp chí văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số mười năm qua với vấn đề truyền thống và hiện đại”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Đinh Văn Định
Năm: 1986
7. Tô Hoài (1994), “Văn học các dân tộc thiểu số, thực trạng- vấn đề”, Tạp chí văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số, thực trạng- vấn đề”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Tô Hoài
Năm: 1994
8. Tô Hoài, Về tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tác giả và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (2007), Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số thời kỳ đổi mới, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số thời kỳ đổi mới
Tác giả: Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2007
10. Hội nhà văn (2010), Nhà văn Việt Nam hiện đại, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hội nhà văn
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2010
11. Phong Lê (chủ biên) (1988), Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phong Lê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1988
12. Mai Liễu (2008), Hương sắc miền rừng , Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương sắc miền rừng
Tác giả: Mai Liễu
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2008
13. Nguyễn Đăng Mạnh (1987), “Nhìn lại bốn mươi năm phát triển của phê bình văn học”, Tạp chí văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại bốn mươi năm phát triển của phê bình văn học”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Năm: 1987
14. Nguyên Ngọc (1994), “Mấy suy nghĩ về tình hình văn học các dân tộc thiểu số hiện nay”, Tạp chí văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về tình hình văn học các dân tộc thiểu số hiện nay”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyên Ngọc
Năm: 1994
15. Ma Trường Nguyên (2010), Hiện đại mà dân tộc, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện đại mà dân tộc
Tác giả: Ma Trường Nguyên
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2010
17. Trần Đình Sử (2002), Lý luận và phê bình văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phê bình văn học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
18. Lò Ngân Sủn, Hoàng Tuấn Cư (1977), Tiếng nói các nhà văn dân tộc thiểu số, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng nói các nhà văn dân tộc thiểu số
Tác giả: Lò Ngân Sủn, Hoàng Tuấn Cư
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1977
19. Lò Ngân Sủn (2002), Vấn đề đặt ra với các nhà thơ dân tộc thiểu số, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đặt ra với các nhà thơ dân tộc thiểu số
Tác giả: Lò Ngân Sủn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
20. Lưu Khánh Thơ (1996), “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại”, Văn nghệ dân tộc và miền núi , (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại”, "Văn nghệ dân tộc và miền núi
Tác giả: Lưu Khánh Thơ
Năm: 1996
21. Hà Văn Thư (1960), “Mấy nét về văn học các dân tộc thiểu số từ cách mạng tháng Tám đến nay”, Tạp chí văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nét về văn học các dân tộc thiểu số từ cách mạng tháng Tám đến nay”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Hà Văn Thư
Năm: 1960

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w