1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp vận dụng vào dạy học bài ôn tập, tổng kết trong ngữ văn THPT theo định hướng phát triển năng lực người học

22 179 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 8,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG VÀO DẠY HỌC CÁC BÀI ÔN TẬP, TỔNG KẾT TRONG NGỮ VĂN THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁTTRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH I.. Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của k

Trang 1

MỘT SỐ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG VÀO DẠY HỌC CÁC BÀI ÔN TẬP, TỔNG KẾT TRONG NGỮ VĂN THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT

TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

I PHẦN MỞ ĐẦU.

I.1 Lý do chọn đề tài.

Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và côngnghệ, khi nền kinh tế tri thức đóng vai trò ngày càng quan trọng với mỗi quốc gia,một yêu cầu đặt ra cho giáo dục và đào tạo là phải thay đổi cách dạy và cách họcnhằm tạo ra nguồn nhân lực mới có tri thức khoa học cao, kĩ năng vận dụng vàothực tiễn và dễ dàng thích ứng trong môi trường mới đầy năng động, sáng tạo đểgiải quyết tốt các vấn đề trong cuộc sống Nghị quyết 29 của Ban chấp hành trungương Đảng lần thứ 8 (khóa XI) đã nêu rõ yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nềngiáo dục Việt Nam Trong đó, việc đổi mới giáo dục phổ thông được xem là khâuđột phá Nội dung trọng tâm của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổthông là sự phát triển năng lực của người học, từ đó nâng cao chất lượng của nguồnnhân lực trong chiến lược phát triển đất nước Đấy cũng chính là vấn đề đặt ra đốivới việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường Trung học phổ thônghướng tới mục tiêu phát triển tốt năng lực người học

Bài ôn tập, tổng kết trong môn Ngữ Văn đóng vai trò vô cùng quan trọng

Nó có mục tiêu củng cố, hệ thống hóa những kiến thức cơ bản theo đặc trưng đơn

vị kiến thức từng phần, từng giai đoạn, thời kì… đồng thời định hướng rèn luyện kĩnăng, phát triển năng lực người học Tuy nhiên, do bài ôn tập mang tính khái quát,tổng hợp, tính hệ thống logic, tính khoa học với khối lượng tri thức lớn, vấn đềrộng, nên cả giáo viên và người học thường “ngại” học, “ngại” dạy Phương pháp

Trang 2

dạy học kiểu bài này không được chú ý, đầu tư Đa số còn nặng về hình thức, làmtheo kiểu rập khuôn, máy móc Giờ học vì thế trở nên nhàm chán, không tạo đượchứng thú học tập cho học sinh Mục tiêu phát triển năng lực người học không thểđạt được như mong muốn Dạy học kiểu bài ôn tập, tổng kết theo định hướng pháttriển năng lực người học sẽ giúp cho giờ Văn không khô khan, nhàm chán mà sẽtạo được hứng khởi cho học sinh, hướng tới mục tiêu đổi mới phương pháp dạy họcNgữ Văn ở trường THPT.

Thực tiễn dạy học của bản thân cũng như qua dự giờ đồng nghiệp, tôi thấycần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học kiểu bài này Từ những lí do trên, tôi

xin mạnh dạn viết đề tài khoa học: “Một số biện pháp vận dụng vào dạy học bài

ôn tập, tổng kết trong Ngữ Văn THPT theo định hướng phát triển năng lực người học” Tôi tin rằng, khi giáo viên chủ động, linh hoạt vận dụng các phương

pháp dạy học tích cực vào dạy học các bài học vốn khô khan, đơn điệu sẽ giảm đi

áp lực, tạo hứng thú, niềm say mê đồng thời góp phần phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo tri thức cũng như rèn luyện kĩ năng và giá trị sống cho học sinh.Nhân rộng mô hình dạy học này vào những bài học khác nữa của bộ môn Ngữ Văn

sẽ là một hướng đi thiết thực trong đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ phương pháp dạyhọc Ngữ Văn ở trường THPT

I.2 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu đề tài này là góp phần rèn luyện tính sáng tạo, giúp các

em chủ động tiếp cận tri thức, tạo sự hứng khởi trong giờ học để đạt kết quả caonhất Đồng thời giúp người dạy đỡ nhàm chán vất vả trong các giờ ôn tập, tổng kết

I.3 Đối tượng nghiên cứu:

- Các bài ôn tập tổng kết trong chương trình ngữ văn THPT

Trang 3

Để thực hiện hiện đề tài này, tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu: phân tích,thống kê, so sánh, đối chiếu, khảo sát, thực nghiệm, tổng hợp là chủ yếu.

I.5 Những điểm mới của SKKN:

Theo sự tìm hiểu của cá nhân, cho đến nay vẫn chưa thấy công trình khoahọc nào nghiên cứu đề tài này Bởi vậy trong quá trình hoàn thành sáng kiến ngườiviết còn gặp những khó khăn nhất định Đề tài sẽ mở ra hướng tổ chức dạy học mớitrong các giờ dạy ôn tập văn học cho đồng nghiệp ở Ngữ Văn THPT Hướng khaithác mới này sẽ giúp học sinh tạo hứng thú, niềm đam mê của học sinh với bộ môn.Các em vừa củng cố được tri thức lại phát triển tốt các năng lực cơ bản của mình

II PHẦN NỘI DUNG.

II.1 Cơ sở lí luận của SKKN.

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tíchcực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đềgắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt độngtrí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổimới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằmphát triển năng lực xã hội

Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực nghĩa là thông qua bộ môn,học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt kiến thức, kỹ năng với thái độ,tình cảm, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một số yêu cầu phức hợp củahoạt động trong một số hoàn cảnh nhất định

Trong định hướng phát triển CT GDPT sau 2015, môn Ngữ văn được coi là

môn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mỹ là năng lực mang tính đặc thù của môn học; ngoài ra năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực

Trang 4

tự quản bản thân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nội dung dạy

- Thực hiện

- Phát hiện và lí giải những vấn đề nhậpnhằng, mơ hồ, đa nghĩa, khó hiểu trong nộidung và nghệ thuật

- Phát hiện và lí giải những vấn đề trong thựctiễn đời sống được gợi ra từ tác phẩm Ví dụ:

“Đi bộ ngao du” Ngày nay các phương tiệngiao thông đa dạng và hiện đại, vậy theo em

đi bộ có còn phù hợp không?

- Phát hiện và đánh giá những khó khăn,thách thức đặt ra trong quá trình tạo lập vănbản nói và viết

Năng lực

sáng tạo

- Phát hiện những ýtưởng mới nảy sinhtrong học tập và cuộcsống

- Đề xuất các giải phápmột cách thiết thực

- Áp dụng vào tìnhhuống mới

- Có cách tiếp cận và cắt nghĩa độc đáo vềnội dung, giá trị của tác phẩm

- Phát hiện những nét nghĩa mới, giá trị mớicủa văn bản

- Có cách nói và cách viết sáng tạo, độc đáo,hiệu quả

Năng lực

hợp tác

- Phối hợp, tương tác

hỗ trợ nhau cùng thựchiện nhiệm vụ để cùngđạt mục tiêu chung(thảo luận nhóm)

Thảo luận nhóm là phương pháp có thể áp

- Thể hiện ở việc HS cùng chia sẻ, phối hợpvới nhau trong các hoạt động học tập quaviệc thực hiện các nhiệm vụ học tập diễn ratrong giờ học Thông qua các hoạt độngnhóm, cặp, học sinh thể hiện những suy nghĩ,cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt

ra, đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi

Trang 5

dụng với nhiều bài học, điều quan trọng ta phải chú ý là đề tài cho học sinh thảo luận phải là đề tài có tính phức hợp, có vấn đề, cần huy động sự suy nghĩ của nhiều người.

thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh cá nhânmình Đây là những yếu tố rất quan trọnggóp phần hình thành nhân cách của ngườihọc sinh trong bối cảnh mới

- Tự đánh giá, điềuchỉnh hành động phùhợp với những tìnhhuống mới

- Học sinh cần biết xác định các kế hoạchhành động cho cá nhân và chủ động điềuchỉnh kế hoạch để đạt được mục tiêu đặt ra,nhận biết những tác động của ngoại cảnh đếnviệc tiếp thu kiến thức và rèn luyện kĩ năngcủa cá nhân để khai thác, phát huy những yếu

tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực, từ

đó xác định được các hành vi đúng đắn, cầnthiết trong những tình huống của cuộc sốngNăng lực

giao tiếp

tiếng

Việt

- Sử dụng tiếng Việtmột cách phù hợp vàhiệu quả trong tìnhhuống giao tiếp

- Năng lực giao tiếpbao gồm các thành tố:

sự hiểu biết và khảnăng sử dụng ngônngữ, sự hiểu biết vềcác tri thức của đờisống xã hội, sự vậndụng phù hợp những

- Hình thành và phát triển cho HS năng lựcgiao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quantrọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mang tínhđặc thù của môn học

- Học sinh được hiểu về các quy tắc của hệthống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp,hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụthể

- HS được luyện tập những tình huống hộithoại theo nghi thức và không nghi thức, cácphương châm hội thoại

- Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi

Trang 6

hiểu biết trên vào cáctình huống phù hợp đểđạt được mục đích.

trường, bối cảnh để HS được giao tiếp cùngtác giả và môi trường sống xung quanh, đượchiểu và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việtvăn hóa, văn học

- Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạyhọc tiếng Việt được thể hiện ở 4 kĩ năng cơ

bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng

dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tìnhhuống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống.Năng lực

– Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học,biết rung động trước những hình ảnh, hìnhtượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiênnhiên, con người, cuộc sống qua ngôn ngữnghệ thuật

– Nhận ra được những giá trị thẩm mĩ đượcthể hiện trong tác phẩm văn học Từ đó cảmnhận được những giá trị tư tưởng và cảmhứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiệnqua tác phẩm

– Cảm hiểu được những giá trị của bản thânqua việc cảm hiểu tác phẩm văn học; hìnhthành và nâng cao nhận thức và xúc cảmthẩm mĩ của cá nhân; biết cảm nhận và rungđộng trước vẻ đẹp của thiên nhiên, conngười, cuộc sống; có những hành vi đẹp đốivới bản thân và các mối quan hệ xã hội; hìnhthành thế giới quan thẩm mĩ cho bản thânqua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương

Trang 7

- Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học,

HS sẽ biết rung động trước cái đẹp, biết sống

và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu vàphê phán những hình tượng, biểu hiện khôngđẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ướccho cuộc sống tốt đẹp hơn

Như vậy, quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp HS hình thành và phát triểncác năng lực đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việc rèn luyện vàphát triển các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói Trong quá trình hướng dẫn HS tiếp xúcvới văn bản, môn Ngữ văn còn giúp HS từng bước hình thành và nâng cao các năng

lực học tập của môn học, cụ thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập văn bản (gồm kĩ năng nói và viết).

II.2 Thực trạng dạy và học các bài ôn tập trong chương trình Ngữ văn THPT.

Thực trạng dạy học Ngữ Văn ở trường THPT cho thấy, các tiết học kiểu bài ôntập , tổng kết trong môn Ngữ Văn còn nhiều khó khăn và bất cập Giáo viên cònngại, lúng túng trong vận dụng phương pháp dạy học với các bài học này Giờ họcnhiều khi được thực hiện qua quýt Giờ dạy học nặng về kiến thức mà không chútrọng tới rèn luyện kĩ năng, phát triển năng lực Hơn nữa, không ít giáo viên quênmất rằng tiết ôn tập không phải là nhắc lại các kiến thức đã học mà là để giúp họcsinh tìm ra mạch kiến thức cơ bản của một nội dung đã được học Rất ít giáo viên

tự tin, tâm huyết đầu tư vào bài dạy này để thao giảng hay dự giờ Về phía họcsinh, chuẩn bị ở nhà cho kiểu bài này cũng thực hiện cho có lệ; chuẩn bị các câu trảlời sơ sài, mang tính đối phó Thậm chí nhiều em soạn bài xong cũng không hiểu,không nắm được nội dung là gì Trên lớp, học sinh ngại động não, suy nghĩ, chỉquen nghe giảng, chờ đợi giáo viên thông báo đáp án, ít có hứng thú học tập Do đókiến thức hời hợt, khi phải vận dụng vào các trường hợp cụ thể thì lúng túng, sai

Trang 8

lầm Thậm chí các em ngại và sợ phát biểu sai Do đó nếu không được khích lệ tạođiều kiện thì thường ngồi ì, không động não.

Thực trạng như trên, chính bởi GV chưa tạo ra những tình huống gây sự chú ý

và kích thích hứng thú của HS, chưa đầu tư thích đáng cho hệ thống câu hỏi hướngdẫn nhằm phát huy tính tích cực, tìm tòi, sáng tạo của HS trong quá trình học tập

GV chưa bám sát mức độ nội dung kiến thức cơ bản mà HS cần nắm vững nênchưa có biện pháp làm nổi bật, khắc sâu những kiến thức đó, nhất là chưa chú trọngđúng mức vào việc rèn luyện, phát triển năng lực người học Ngoài ra, nguyênnhân còn ở học sinh Học sinh vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của cách học thụđộng Những điều HS có được sau mỗi bài học không phải là kết quả của sự hoạtđộng tích cực, tự lực để chiếm lĩnh kiến thức Do đó HS nắm kiến thức hời hợt khivận dụng dễ mắc sai lầm

Bởi vậy, việc tích cực, tự giác, sáng tạo của giáo viên Ngữ văn trong dạyhọc nói chung và dạy kiểu bài ôn tập, tổng kết nói riêng có vai trò hết sức quantrọng Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, dạy học theo định hướng pháttriển năng lực, từ lấy thầy làm trung tâm sang lấy trò làm trung tâm, GV chỉ làngười hướng dẫn, dẫn dắt HS lĩnh hội tri thức mới Kết hợp với sử dụng phươngtiện dạy học hiện đại, nhất là ứng dụng công nghệ thông tin lôi cuốn, hấp dẫn HS;khiến các em hứng thú, say mê trong mỗi giờ văn Phải coi mục tiêu rèn luyện vàphát triển kĩ năng của người học là mục tiêu quan trọng nhất trong mỗi giờ ôn tập

II.3 Một số giải pháp nhằm phát triển năng lực người học trong dạy học các bài ôn tập văn học trong chương trình Ngữ Văn THPT.

- Vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học các bài

ôn tập Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn,được dùng để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tới việc hoạtđộng hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học chứ không phải là tậptrung phát huy tính tích cực của người dạy

Trang 9

- Một số phương pháp dạy học tích cực được vận dụng trong dạy học các bài

ôn tập:

II.3.1 Vận dụng Phương pháp dạy học nhóm.

Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác, Dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm

nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụhọc tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau

đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt

sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làmviệc và năng lực giao tiếp của HS Đây là phương pháp được sử dụng thườngxuyên trong các tiết dạy kiểu bài này khi hệ thống hóa tri thức đã học hay khi thựchiện các bài tập ứng dụng:

- Dạy bài: “ Ôn tập văn học dân gian Việt Nam (Ngữ Văn 10) Trong

khoảng thời gian 5-7 phút, tôi chia lớp thành 4 nhóm thực hiện các nhiệm vụ giáoviên đưa ra, dựa trên sự chuẩn bị bài của mỗi cá nhân ở nhà Nhóm trưởng cónhiệm vụ phân công nhiệm vụ cụ thể cho mỗi thành viên trong nhóm Các thànhviên trong nhóm giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thiện nhiệm vụ chung Mỗi nhóm cử đạidiện lên trình bày Với nội dung này, tôi thường yêu cầu học sinh hệ thống tri thứctheo kiểu sơ đồ tư duy để học sinh dễ thep dõi, cũng như rèn luyện tốt thao tác tưduy so sánh, phát hiện vấn đề Để tạo hứng thú cho học sinh, cũng như khơi gợi ởcác em năng lực sáng tạo, nhiệm vụ giáo viên đưa ra không nên trùng lặp với cáccâu hỏi có sẵn trong sách giáo khoa Vấn đề phải bắt buộc học trò động não, trên cơ

sở kiến thức đã có, đã chuẩn bị

+ Nhóm 1: Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian

+ Nhóm 2, 3: Đặc trưng cơ bản của các thể loại: Sử thi, truyền thuyết, truyện cổtích, truyện cười (Tự sự dân gian)

+ Nhóm 4: Đặc trưng cơ bản của Ca dao

Trang 10

- Cũng thế, với những bài ôn tập phần Tiếng Việt, Làm Văn, phương phápdạy học nhóm thực sự có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện phát triển các kĩnăng cho học sinh

II.3.2 Phương pháp trò chơi.

Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề haythể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một tròchơi nào đó Đây là phương pháp dạy học được tôi sử dụng trong hầu hết các tiết

ôn tập, tổng kết Dĩ nhiên, để không khiến cho giờ học trở nên nhàm chán, đơnđiệu, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư công phu vào việc thiết kế trò chơi Đa dạng hóacác kiểu loại trò chơi, đặc biệt ứng dụng các trò chơi đang rất "ăn khách" trên cácphương tiện thông tin đại chúng hiện nay Trên thực tế chúng ta có thể đưa vào

những trò chơi quen thuộc như: Tìm ô chữ; Mảnh ghép; Đố nhanh, đoán tài Hay biến tấu các trò chơi nổi tiếng như: Đuổi hình bắt chữ; Rung chuông vàng; Ai là triệu phú; Đấu trường 100 Với những tiết ôn tập phần văn học, giáo viên nên có

thêm phần thi hùng biện để phát triển tốt năng lực cảm thụ thẩm mĩ của học sinh

Để trò chơi thành công, giáo viên cần đầu tư vào hệ thống câu hỏi Vừa có câu hỏitheo kiểu trả lời trắc nghiệm, vừa có câu hỏi trả lời ngắn; câu hỏi hướng tới các câutrả lời vẫn phải đảm bảo 4 cấp độ: nhận biết – thông hiểu – vận dụng thấp – vậndụng cao

* Trò chơi được sử dụng trong phần khởi động.

Khi dạy bài Ôn tập văn học, Ngữ Văn 11, ở phần khởi động, tôi dạy thí điểm ởhai lớp với hai loại trò chơi như sau :

Tham gia vào trò chơi “Đố nhanh đoán nhanh” về đặc điểm lịch sử, xã

hội, văn hóa cùng các tác giả, tác phẩm văn học trong giai đoạn này trên cơ sở kiếnthức đã học Giáo viên có thể là người đưa ra câu hỏi hoặc chia lớp thành 2 độichơi, bên này hỏi bên kia đáp, dựa theo sự chuẩn bị ở nhà của HS

Trang 11

Tham gia trò chơi “ Đuổi hình bắt chữ” – giáo viên sử dụng máy chiếu, đưa

ra các gợi ý, là những hình ảnh để học sinh tìm ra các tác giả, tác phẩm văn họctrong giai đoạn này trên cơ sở kiến thức đã học

Hoạt động khởi động có mục đích tạo tâm thế, hứng khởi để các em sẵn sàng

bước vào bài học mới Cũng thông qua đó, giáo viên có thể kiểm tra lại kiến thức mà các em đã tích lũy được trong cuộc sống và quá trình học tập trước đó.

Bộ hình ảnh sử dụng trong trò chơi “đuổi hình bắt chữ” có thể như sau:

* Hình ảnh 1: Hình ảnh này gợi em nghĩ đến tác phẩm nào? Tác giả?

* Hình ảnh 2: Nhân vật nào trong tác phẩm em đã học? Tác giả?

- Trò chơi được sử dụng trong phần hệ thống tri thức

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w