1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp nhằm tăng hứng thú, nâng cao hiệu quả học tập cho HS khi dạy bài ai đã đặt tên cho dòng sông

24 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 137,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Theo dõi hoạt động học của HS nhằm tìm hiểu kỹ về mức độ hứng thú đốivới bộ môn Ngữ văn, sự tích cực, chủ động trong học tập và các kỹ năng đượcbi

Trang 1

I MỞ ĐẦU:

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong cuộc sống, ai cũng cần đến tri thức Đặc biệt, HS cần phải học tập,phải chiếm lĩnh kho tàng tri thức của nhân loại để phát triển trí tuệ, hoàn thiện bảnthân; bồi dưỡng và phát triển nhân cách của chính mình Một triết gia đã nói

“Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng say mà học”.

Như vậy có thể thấy rầng niềm yêu thích, sự say mê làm nên động lực thúc đẩy,nuôi dưỡng sự cố gắng, nỗ lực học tập không ngừng của HS nói riêng, của mỗingười nói chung Vì thế với cương vị là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiểnhoat động học tập và chiếm lĩnh kiến thức của HS, người GV phải luôn học hỏitrau dồi kiến thức cũng như phải tìm ra nhiều biện pháp để phát huy cao độ tínhtích cực chủ động sáng tạo của người học Khơi gợi niềm hứng thú, sự say mê họctập cho HS luôn là niềm quan tâm hàng đầu của người GV

Ngữ văn là một môn học thú vị nhưng HS bây giờ luôn không thích họcvăn, ngại học văn vì các em phần lớn đều cho rằng môn này khó; cần phải cónăng khiếu để cảm thụ văn chương Thực tế cho thấy những năm gần đây họcsinh đều chọn các môn học tự nhiên vừa có nhiều trường để lựa chọn, dễ xin việcmức thu nhập lại cao, rất ít HS lựa chọn học các môn xã hội Nhiều GV dạy vănnhận thấy trong giờ Ngữ văn các em thường không tập trung, có tâm lí ngại họcvăn, hoặc học một cách đối phó: để có điểm, để không phải thi lại, để thi tốtnghiệp Còn những HS thực sự say mê và yêu môn văn thì rất ít

Đứng trước vấn đề này, tôi đã phải nỗ lực cố gắng thay đổi các phươngpháp và các kỹ thuật dạy học để là tăng cường hứng thú, thu hút và “lôi kéo” HSđến với môn văn của mình (6) Cụ thể là tôi đã mạnh dạn áp dụng vào bài bút kí

“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường (Ngữ văn 12, tập

1) Đây là một trong những bài rất khó, không thú vị đối với HS đặc biệt là HStrường tôi.Sau áp dụng vào thực tế giảng dạy của mình trong, tôi thấycó hiệu quả

đáng kể Tôi xin được chia sẻ cùng đồng nghiệp sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp nhằm tăng hứng thú, nâng cao hiệu quả học tập cho HS khi dạy bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường”, Ngữ văn

12 THPT.

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

- Khơi dậy sự hứng thú, nâng cao hiệu quả học tập cho HS khi học bài bút

kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” nói riêng, thể loại kí nói chung.

- Phát huy tính tích cực, tự giác, tự học của HS trong học tập nói chung và

trong môn Ngữ văn nói riêng

- Kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc trong các hoạt động

nhóm của HS

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập môn Ngữ văn của HS lớp 12 trong

nhà trường

- Rèn luyện cho HS một số kỹ năng sống cần thiết, giúp các em vững vàng,

tự tin bước vào đời

Trang 2

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

- Học sinh các lớp 12A1, 12A4, 12A5 trường THPT Triệu Sơn 6.

+ Lớp 12A4, 12A5 là lớp thực nghiệm

+ Lớp 12A1 là lớp đối chứng

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận:

Nghiên cứu các tài liệu, sách, các chuyên đề về PPDH, KTDH tích cực

để hình thành cơ sở lý luận cho đề tài

- Phương pháp điều tra:

Thực hiện tại lớp 12A1, 12A4 và 12A5 trường THPT Triệu Sơn 6

- Phương pháp quan sát:

Quan sát hoạt động học của HS lớp 12A1, 12A4, 12A5 trong môn Ngữvăn

- Phương pháp thống kê toán học:

Lập bảng thống kê, phân tích, xử lí số liệu của đề tài, giúp đánh giá vấn đềchính xác, khoa học

- Phương pháp phỏng vấn:

Phỏng vấn, trò chuyện với HS 3 lớp 12A1, 12A4, 12A5

- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

Theo dõi hoạt động học của HS nhằm tìm hiểu kỹ về mức độ hứng thú đốivới bộ môn Ngữ văn, sự tích cực, chủ động trong học tập và các kỹ năng đượcbiểu hiện của các em

- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm:

Xem xét những thành quả của hoạt động thực tiễn để rút ra những kinhnghiệm bổ ích trong dạy học

- Phương pháp kiểm tra đánh giá:

Nhằm xác định mức độ hiểu biết về kiến thức, kỹ năng, khả năng vận dụngcủa HS để đánh giá về hiệu quả của các KTDH được áp dụng trong bài dạy

Trang 3

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN:

1.1 Hứng thú và vai trò của hứng thú trong học tập

Theo từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2002, định nghĩa

“hứng thú là sự ham thích” (1)

Luật Giáo dục năm 2005, điều 28.2 đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” (2)

Rõ ràng khi có được sự say mê hứng thú trong bất kì công việc gì conngười sẽ làm việc có hiệu quả hơn, thành công hơn Hứng thú còn có tác dụngchống lại sự mệt mỏi, giảm căng thẳng HS cũng vậy, khi có hứng thú các em sẽkiên trì tìm hiểu nội dung bài học, làm bài tập; hăng hái trả lời câu hỏi của GV,nhận xét bổ sung câu trả lời của bạn, chủ động nêu câu hỏi, đưa ra những thắcmắc để các bạn cùng trả lời, thầy cô giải thích thấu đáo

Bất kì môn học nào cũng cần phải có hứng thú thì HS mới có thể tiếp cậnbài học một cách tốt nhất Đặc biệt với môn Ngữ văn, một môn học thiên nhiều

về cảm xúc và tâm hồn, thì tạo sự hứng thú cho HS là một trong những điều đầutiên GV cần làm.Vì vậy khi lên lớp, GV không phải chỉ truyền tải kiến thức màquan trọng hơn chính là phải không ngừng tìm tòi đổi mới các phương pháp dạyhọc để tạo hứng thú cho các em (4) Có như vậy mới phát huy được tính tích cựcchủ động, độc lập sáng tạo của HS đúng như định hướng giáo dục hiện nay

1.2 Phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học tích cực (3)

1.2.1 Phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học (PPDH) là cách thức, là con đường hoạt độngchung giữa GV và HS trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tớimục đích dạy học Theo quan niệm hiện nay, PPDH là cách thức hướng dẫn vàchỉ đạo của GV nhằm tổ chức họat động nhận thức và hoạt động thực hành của

HS, dẫn tới việc lĩnh hội vững chắc nội dung bài học, hình thành thế giới quan

và phát triển năng lực nhận thức của HS Theo quan điểm này thì dạy học chính

là quá trình tổ chức cho HS lĩnh hội tri thức Để làm được điều đó thì người GVcần phải có những PPDH học tích cực Việc dạy học theo những PPDH tích cực

là vấn đề thật cần thiết và đáng quan tâm hiện nay

PPDH tích cực được hiểu là PPDH phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo của người học Có nhiều PPDH tích cực nhưng PPDH thường được các GV

sử dụng nhiều là phương pháp hoạt động nhóm (5)

1.2.2 Kĩ thuật dạy học:

Kỹ thuật dạy học (KTDH) là những biện pháp, cách thức hành động của

GV trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình

Trang 4

dạy học Hay nói cách khác đó là cách thức hoạt động dạy học, tổ chức hoạtđộng giáo dưỡng để bảo đảm hiệu quả, chất lượng giảng dạy

Các KTDH là những đơn vị nhỏ nhất của PPDH Trong mỗi PPDH cónhiều KTDH khác nhau Có những KTDH chung, có những KTDH đặc thù củatừng PPDH

KTDH tích cực là những KTDH có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy

sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sángtạo và sự cộng tác làm việc của HS

Năng lực sử dụng các KTDH khác nhau trong từng GV và nó được xem

là rất quan trọng đối với người đứng lớp, nhất là trong bối cảnh đổi mới PPDHhọc hiện nay ở nhà trường phổ thông Rèn luyện để nâng cao năng lực này làmột nhiệm vụ, một vấn đề thật cần thiết của mỗi GV, nhằm đáp ứng yêu cầunâng cao chất lượng dạy và học ở nhà trường

Qua các lần kiểm tra đối với lớp 12A1, 12A4 và 12A5, tôi có sử dụng một

số PPDH thông thường, chủ yếu HS khá giỏi tham gia học tập, số HS yếu ít có

cơ hội tham gia hoạt động Chính vì thế nên việc học tập thường ít hứng thú, nộidung đơn điệu, GV ít quan tâm đến phát triển năng lực cá nhân

Đầu năm học 2017 – 2018, tôi tiến hành khảo sát tình hình học tập của HSlớp 12A1 (42HS), 12A4 (40 HS), 12A5 (43HS) và đã thu được kết quả như sau:

12A1 12A4 12A5 12A1 12A4 12A5 12A1 12A4 12A5

-> Kết quả kiểm tra trên cho thấy: mức độ chú ý nghe giảng còn hạn chế

HS tham gia trả lời câu hỏi, nhận xét ý kiến của bạn còn ít, vẫn còn HS chưa tựgiác làm bài tập Đồng thời, ở nhiều HS hoạt động giao tiếp, kỹ năng sống rất

Trang 5

hạn chế, chưa mạnh dạn nêu chính kiến của mình trong các giờ học, không dámtranh luận nhất là với GV, chưa có thói quen hợp tác trong học tập đã ảnh hưởngrất không tốt đến kết quả học tập của HS Có nhiều nguyên nhân cho những hạnchế trên nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do PPDH, KTDH của GV chưa kíchthích được sự hứng, sự tích cực chủ động học tập của HS.

Kết quả hai kỳ khảo sát chất lượng đầu năm và giữa học kỳ 1 ở 3 lớp kếtquả môn Ngữ văn đạt được như sau:

dạy bài bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường một

số PPDH và KTDH tích cực nhằm mục đích phát triển tư duy, khơi gợi hứngthú, nâng cao hiệu quả học tập môn Ngữ văn cho HS Rất mong nhận được sựgóp ý, xây dựng của các bạn đồng nghiệp để vận dụng có hiệu quả hơn SKKNtrong bài học này nói riêng, trong thể kí và trong cả chương trình Ngữ vănTHPT nói chung

3 CÁC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ÁP DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

Thể kí nói chung và bài bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng

Phủ Ngọc Tường là một tác phẩm hay trong chương trình Ngữ văn 12, nhưngthực tế dạy học tác phẩm này gặp không ít những khó khăn, vướng mắc Từ trướcđến nay, các em được học nhiều tác phẩm văn xuôi tự sự nên việc đọc – hiểu, ghinhớ của các em đã thành thói quen là hay dựa vào cốt truyện, tình tiết, sự việc,nhân vật… Đến khi gặp một tác phẩm văn xuôi giàu chất trữ tình, các em sẽ khócảm nhận và ghi nhớ nội dung tác phẩm Chính vì thế hầu hết các em HS ở cáckhóa trước tôi từng dạy đều không thích học tác phẩm này hoặc chỉ học qua loa,đối phó Trong năm học này, tôi đã sử dụng linh hoạt các PPDH, các KTDH tíchcực vào từng phần của bài dạy này để nâng cao chất lượng học tập, khơi gợi hứngthú, phát huy tính tích cực chủ động của HS

Theo phân phối chương trình, bài học này được dạy trong 2 tiết Các PPDH

và KTDH nêu trong SKKN này có thể không sử dụng hết tất cả trong bài dạy củamột lớp mà phải căn cứ vào đặc điểm HS của từng lớp dạy để áp dụng cho phùhợp, đạt hiệu quả tốt nhất mà không làm mất đi đặc trưng của một giờ học văn

Cụ thể như sau:

Trang 6

3.1 Dùng kênh âm nhạc kết hợp hình ảnh để tạo tâm thế và lôi cuốn

HS trong hoạt động giới thiệu bài mới.

Giới thiệu bài mới là một hoạt động rất cần thiết mỗi khi bắt đầu một bàihọc mới Thời gian dành cho phần này thường không nhiều (khoảng từ 1 đến 5phút) nhưng lại không thể thiếu vì giới thiệu bài sẽ tạo tâm thế, sự hứng thúbước đầu cho HS khi tiếp cận bài học Nó cũng giống như quảng cáo, nếu giớithiệu hay thì sẽ thu hút được sự chú ý, kích thích được trí tò mò của HS

Với bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường tôi đã lựa chọn sử dụng bài hát “Huế thương” của nhạc sĩ An Thuyên hoặc bài hát

“Tiếng sông Hương” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương Khi giai điệu ngọt ngào và

ca từ của những bài hát này cất lên cùng những hình ảnh về xứ Huế thơ mộng, vềsông Hương, về người con gái Huế với sắc áo tím mộng mơ… xuất hiện sẽ thuhút được sự chú ý của HS về đối tượng mà nội dung bài học hướng tới

(Ảnh minh họa)

Đối với HS không phải ai cũng đã từng được một lần đến Huế, chưa từngđược thấy sông Hương, khi nghe lời bài hát cùng những hình ảnh về Huế sẽ tạođược ấn tượng ban đầu, kích thích sự tò mò tìm hiểu về Huế về dòng sôngHương

3.2 Sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm để hướng dẫn HS đọc –

hiểu văn bản

PPDH theo nhóm là một trong những PPDH phát huy tính tích cực của

HS Trong đó, HS của một lớp được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảngthời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sởphân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trìnhbày và đánh giá trước lớp

Trong phần đọc – hiểu văn bản, để hướng dẫn HS tìm hiểu về hình tượngsông Hương, tôi lựa chọn kỹ thuật các mảnh ghép (ở tiết 1) và kỹ thuật khăn phủbàn (ở tiết 2) trong PPDH theo nhóm

Trang 7

3.2.1 Sử dụng kỹ thuật các mảnh ghép hướng dẫn HS tìm hiểu về sông

Hương ở góc độ tự nhiên (3)

Kỹ thuật các mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kếthợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm mục tiêu:

- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp.

- Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh trong hoạt động nhóm.

- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (không chỉ nhận thức

hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoànthành nhiệm vụ ở vòng 2 với mức độ cao hơn)

- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm học tập của mỗi cá nhân.

Cách tiến hành

Kỹ thuật mảnh ghép được tiến hành qua 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1 “Nhóm chuyên gia” : Lớp học được chia thành các nhóm, mỗinhóm được giao nhiệm vụ tìm hiểu sâu 1 phần nội dung học tập khác nhaunhưng có sự liên quan chặt chẽ với nhau Sau 1 thời gian nhất định thảo luận,mỗi thành viên trong nhóm đều nắm vững và trình bày được kết quả của nhómcho các bạn ở nhóm khác

- Giai đoạn 2 “Nhóm mảnh ghép”: auk hi hoàn thành nhiệm vụ ở giai đoạn

1, mỗi HS ở các “nhóm chuyên gia” khác nhau lại tập hợp lại thành nhóm mới là

“nhóm mảnh ghép” Và “nhóm mảnh ghép” nhận được một nhiệm vụ mới,nhiệm vụ này mang tính khái quát, tổng hợp toàn bộ nội dung đã được tìm hiểu

từ các “nhóm chuyên gia” thành một “bức tranh” tổng thể

Vận dụng cụ thể: Tìm hiểu về hình tượng sông Hương ở góc độ tự nhiên.

 Mục tiêu:

- Thấy được ở góc độ tự nhiên từ thượng nguồn đến biển, sông Hương là

người con gái đẹp, thủy chung trong tình yêu

- Thấy được sự tài hoa, uyên bác, trí tưởng tượng, sự liên tưởng phong phú,

độc đáo của HPNT về sông Hương, về xứ Huế

- Cảm nhận được tình yêu thiết tha, sâu nặng của HPNT đối với sông

Hương, với xứ Huế

Bước 1: Giao nhiệm vụ:

* Giai đoạn 1: “Nhóm chuyên gia”:

Trang 8

- GV: + Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 10 HS, vị trí ngồi được đánh số từ1,2,3 4 để hình thành “nhóm mảnh ghép” ở giai đoạn 2.

+ Trong nhóm cử 01 nhóm trưởng điều hành chung, 01 thư kí để ghichép, 01 người liên lạc với giáo viên khi cần

+ Giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm:

Nhóm 1: Tìm hiểu vẻ đẹp của sông Hương ở thượng nguồn.

 Nhóm 2: Tìm hiểu vẻ đẹp của sông Hương ở ngoại vi thành phố Huế.

Nhóm 3: Tìm hiểu vẻ đẹp của sông Hương ở trong auk thành phố Huế.

Nhóm 4: Tìm hiểu vẻ đẹp của sông Hương khi từ biệt Huế ra biển.

- HS: + Ổn định vị trí nhóm được phân công

+ Nhận nhiệm vụ và hoàn thành trong thời gian 7 phút

* Giai đoạn 2: “Nhóm mảnh ghép”:

- GV: + Yêu cầu HS mang số giống nhau ở các “nhóm chuyên gia” tập hợplại thành nhóm mới là “nhóm mảnh ghép”

+ Nhiệm vụ của các nhóm: Tìm hiểu vẻ đẹp của sông Hương ở góc độ

tự nhiên từ thượng nguồn đến khi từ biệt Huế ra biển.

- HS: + Ổn định vị trí theo nhóm mới

+ Nhận nhiệm vụ và hoàn thành trong thời gian 10 phút

Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:

- HS làm việc theo nhóm được phân công; ghi nội dung thảo luận vào giấy A0

- GV quan sát, hỗ trợ

Bước 3: Báo cáo, thảo luận, trao đổi:

- GV yêu cầu đại diện nhóm lên trình bày trong 1-2 phút

- HS: + Đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận

+ Các nhóm khác theo dõi, nhận xét, bổ sung

Học sinh làm việc theo

Trang 9

Bước 4: Chốt kiến thức của hoạt động.

- GV nhận xét kết đánh giá kết quả hoạt động của 4 nhóm.

- GV dùng máy chiếu để chốt kiến thức trọng tâm qua sơ đồ tư duy.

Nhận xét:

Qua áp dụng kỹ thuật các mảnh ghép trong hoạt động này tôi nhận thấy kỹthuật này tạo ra hoạt động đa dạng, phong phú HS được tham gia vào các nhiệm

vụ khác nhau với các mức độ yêu cầu khác nhau Kỹ thuật các mảnh ghép đòi hỏi

HS phải tích cực, nỗ lực tham gia và bị cuốn hút vào các hoạt động để hoàn thànhvai trò, trách nhiệm của mình Nhờ đó đã hình thành ở HS tính chủ động, năngđộng, linh hoạt, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao trong học tập Đồng thờicũng hình thành ở HS các kỹ năng sống như: KN nhận thức, KN giao tiếp, KNtrình bày, KN hợp tác, KN giải quyết vấn đề, KN đảm nhận trách nhiệm …

3.2.2 Sử dụng kỹ thuật “khăn phủ bàn” để hướng dẫn HS tìm hiểu hình

tượng sông Hương trong chiều sâu lịch sử văn hóa dân tộc (3)

Đây là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm nhằm:

- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực.

- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh.

- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh.

Cách tiến hành:

- Chia học sinh thành các nhóm và phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0

- Trên giấy A0 chia thành các phần gồm phần chính giữa và các phần xungquanh Phần xung quanh được chia theo số thành viên của nhóm Mỗingười ngồi vào vị trí tương ứng với phần xung quanh

- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy nghĩ

trả lời câu hỏi theo cách hiểu riêng của mỗi cá nhân và viết vào phần giấycủa mình trên tờ A0

- Trên cơ sở ý kiến của mỗi cá nhân học sinh thảo luận nhóm, thống nhất ý

kiến và viết vào phần chính giữa của tờ giấy A0 “khăn phủ bàn”

Vận dụng cụ thể: Tìm hiểu về hình tượng sông Hương trong chiều sâu lịch sử - văn hóa dân tộc

 Mục tiêu:

HS “nhóm mảnh ghép” trình bày kết quả của nhóm

Trang 10

- Thấy được trong chiều sâu lịch sử - văn hóa dân tộc, sông Hương là một

người con gái:

+ Anh dũng kiên cường trong lịch sử

+ Tài hoa, sáng tạo trong âm nhạc và văn hóa

+ Lặng lẽ, kín đáo, khiêm nhường trong cuộc đời thường

 Đây cũng chính là những phẩm chất, những vẻ đẹp của con người xứ Huế

- Cảm nhận được tình yêu, niềm tự hào của HPNT đối với sông Hương, với

xứ Huế, với đất nước

- Thấy được ngòi bút mê đắm, tài hoa, uyên bác của HPNT.

Tiết 2:

Bước 1: Tạo tâm thế học tập

- Gv giới thiệu tranh vẽ về sông

Hương của em Trương Thị Quỳnh

+ Cử nhóm trưởng, thư kí, người

liên lạc với giáo viên khi cần…

+ Giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm:

trong huyền thoại và t/y của

người dân xứ Huế.

- HS nhận nhiệm vụ

Bước 3: Thảo luận nhóm.

- HS ghi lại ý kiến riêng vào phần

ghi ý kiến cá nhân của tờ giấy A0

II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN.

1.Hình tượng sông Hương:

a Sông Hương – dòng sông tự nhiên:

b Sông Hương trong chiều sâu lịch

sử - văn hóa dân tộc.

* S.H trong chiều sâu l/s dân tộc:

- S.H là một nhân chứng của l/s:

+ S.H “đã sống hết những TK vinh quang… qua những TK trung đại”.

+ “TK 18 nó vẻ vang… Nguyễn Huệ” + “nó sống hết l/s bi tráng… khởi nghĩa”.

- S.H là một người con gái anh auk:

+ S.H từng có tên Linh Giang, “dòng sông viễn châu…bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt”.

+ “vẻ vang đi vào thời đại CMT8 với nhũng chiến công rung chuyển”.

+ “L/s Đảng đã ghi … cho Tổ quốc”.

- S.H là một người công dân có trách

nhiệm sâu sắc đối với đất nước: “khi nghe lời kêu gọi… dịu dàng của đất nước”.

* S.H trong cuộc đời thường:

- S.H trong l/s là một người con gái anhdũng, kiên cường

- Trở lại c/đ thường, S.H là “người con gái dịu dàng của đất nước”.

- Màu sương khói trên S.H:

Trang 11

(5 phút)

- Thảo luận nhóm và ghi ý kiến đã

thống nhất vào giữa tờ giấy A0 (5

phút)

- GV quan sát, hỗ trợ

Bước 4: Trình bày, nhận xét.

- Đại diện nhóm trình bày kết quả

thảo luận trong 1 phút

- Các nhóm khác theo dõi, nhận

xét, bổ sung

Bước 5: GV định hướng, chốt nội

dung trọng tâm.

- GV: dùng máy chiếu chiếu những

nội dung kiến thức đã chuẩn bị trên

phẩm chất ấy? Tình cảm của nvăn

với S.H, với xứ Huế?

+ là một màu tím ẩn hiện như sắc áocưới của người Huế xưa

+ giống như “tấm voan huyền ảo của tự nhiên ẩn giấu khuôn mặt thực của dòng sông”.

->S.H hiện lên như một người con gái kínđáo, khiêm nhường

* S.H trong chiều sâu văn hóa Huế:

- S.H “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”.

- S.H – dòng sông âm nhạc:

+ “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya” + “toàn bộ nền âm nhạc…sinh thành trên mặt nước của dòng sông này”.

+ “Ndu … bản đàn… cuộc đời Kiều” + Bản nhạc Tứ đại cảnh.

- S.H – dòng sông thi ca: S.H độc đáotrong c/h của các thi nhân

+ Tản Đà: thay màu bất ngờ + BHTQ: bóng chiều bảng lảng, nỗi quan hoài vạn cổ.

+ CBQ: hùng tráng.

+ Tố Hữu: Vẻ đẹp rất Kiều, sức mạnh phục sinh.

*S.H trong huyền thoại và t/y của người dân xứ Huế.

- Huyền thoại về các tên gọi của S.H

- “Người làng Thành Trung… vì yêu quý con sông xinh đẹp… nước thơm tho mãi”.

Nhận xét:

- S.H được HPNT khắc họa tỉ mỉ, sinh

động ở nhiều góc độ: tự nhiên, lịch sử, vănhóa…

- Bằng sự so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, sự liêntưởng, tưởng tượng phong phú, vốn kiếnthức uyên bác, ngòi bút tài hoa, S.H hiệnlên như một người con gái đẹp: chung thủytrong t/y, a/h trong l/s, tài hoa trong v/hóa,

Trang 12

dịu dàng trong đời thường.

-> Khắc họa vẻ đẹp của S.H, HPNT ngợi ca

vẻ đẹp, phẩm chất của con người xừ Huế.-> Niềm tự hào, tình yêu thiết tha của t/gđối với dòng sông và con người Huế; đốivới đất nước

Nhận xét:

Nhận xét:

Qua áp dụng kỹ thuật “khăn phủ bàn” trong hoạt động này tôi nhận thấy:

Kỹ thuật “khăn phủ bàn” đòi hỏi tất cả các thành viên trong nhóm phải làm việc

cá nhân và viết ra ý kiến của mình trước khi thảo luận nhóm để thống nhất nộidung Như vậy, trong cuộc thảo luận nhóm, các thành viên có cơ hội chia sẻ ýkiến, tự đánh giá và điều chỉnh nhận thức của mình một cách tích cực Nhờ vậy

mà tiết tiết học sôi nổi, hào hứng hơn; hiệu quả học tập của HS được nâng lên.Mặt khác, sử dụng kỹ thuật này cũng góp phần phát triển các kỹ năng sống cho

(ảnh minh họa)

HS thảo luận theo kỹ thuật khăn phủ bàn

HS trình bày kết quảthảo luận nhóm(ảnh minh họa)

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w