Từ đó, hình thành nên một tư duy nhận thức mới cho học sinh về kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ đặc sắc của dân tộc mình, góp phần lưu giữ, duy trì,bảo tồn, phát triển những giá trị v
Trang 12.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 5
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
2.3 Một số giải pháp để giải quyết vấn đề 7
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 18
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài.
Thường Xuân là một huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa
Đây là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Thanh và cũng “là một trong không
nhiều địa phương trên đất nước ta được xác định là nơi có mặt con người ngay
từ buổi bình minh” Trong quá trình đấu tranh dựng bản lập mường, đồng bàocác dân tộc đã đoàn kết, gắn bó với nhau tạo nên bề dày truyền thống lịch sử vănhóa, lưu giữ những nét độc đáo với những lễ hội, phong tục tập quán, trò chơi,điệu múa, tiếng nói, chữ viết … rất đặc sắc
Thường Xuân có 3 dân tộc chủ yếu sinh sống, trong đó, dân tộc Tháichiếm số lượng lớn nhất Người Thái sinh sống và giao tiếp với nhau chủ yếubằng ngôn ngữ Thái (tiếng Thái) Tiếng Thái đơn thuần là những từ đơn âm tiết
và có cấu trúc khá giống tiếng Việt Tiếng Thái có 5 thanh điệu: thanh cao,thanh thấp, thanh không, thanh luyến lên, thanh luyến xuống Chính nhờ cóthanh luyến đã khiến cho tiếng Thái trở nên giàu ngữ điệu, lên bổng xuống trầmuyển chuyển, ấn tượng, dễ nghe và lôi cuốn
Cùng với tiếng nói, chữ viết đóng một vai trò quan trọng trong quá trìnhphát triển của loài người Khi có chữ viết, người Thái đã lưu giữ được nhiều disản văn hóa của cha ông Ngôn ngữ Thái rất phong phú, phản ánh được mọi biểuhiện của hiện thực khách quan và thế giới chủ quan (tư tưởng, tình cảm) của conngười Theo cộng đồng dân tộc Thái thì có văn hóa nghĩa là biết nói, biết viết, sửdụng thành ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ, dân ca hợp ngữ cảnh và ngược lại Bởi họcho rằng: “ngôn ngữ là sự gạn lọc tinh khiết của tư duy”
Văn bản chữ Thái cổ
Trang 3Có ngôn ngữ, văn tự riêng nên người Thái đã xây dựng được một nền văn hóamang đậm bản sắc của riêng mình Có thể coi đây là sự tổng kết quá trình tư duy
về tự nhiên, xã hội bằng hình tượng của nghệ thuật ngôn từ
Văn học dân gian (sau đây viết tắt là VHDG) dân tộc Thái cấu tạo thành
Thứ ba: Thành ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ và ca dao, dân ca Chính nhờ sựphát triển của các thể loại này mà ngôn ngữ Thái mới thoát khỏi lớp từ vựng cơbản để vươn tới tri thức văn học
Cũng như kho tàng văn hóa các dân tộc khác, tục ngữ, ca dao của dân tộcThái là một kho kinh nghiệm về lao động sản xuất, về các hiện tượng tự nhiên
và về đời sống tinh thần của con người Qua đó, thể hiện thế giới quan, nhânsinh quan, tư tưởng, tình cảm của người lao động Thái trên các bản mường Nhàthơ Xuân Diệu từng nói: "Trong những câu ca dao tự nghìn đời tổ tiên để lại như có đất có nước, như có cát, có biển, như có mồ hôi người " Khi ta sốngvới cao dao thì một tên đất, tên làng, tên một thổ nghi (đặc sản), một nét cảnhvật, một thoáng lịch sử, một điệu tâm hồn người đọc gợi lên trong đó cũng layđộng đến niềm yêu thương gắn bó với quê hương, xứ sở, đồng bào Bởi vì cadao, tục ngữ chính là đời sống tâm tư tình cảm của nhân dân lao động các miền,các vùng, các địa phương được đúc kết từ nghìn đời nay Chính vì thế, so sánhtục ngữ, ca dao của người Thái với người Kinh, chúng ta sẽ tìm thấy ở đó có sựtương đồng thú vị Việc so sánh không chỉ giúp ta hiểu được đời sống tâm hồn,tình cảm và quá trình lao động sản xuất của người dân lao động Thái và Kinh
mà còn cho ta thấy sự giống và khác nhau về nếp sống, nếp nghĩ, phong tục tậpquán, văn hóa… của hai dân tộc Từ đó, có những phân tích, đánh giá và đặt ra
những vấn đề cần lý giải Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài Nâng
cao ý thức giữ gìn, phát huy giá trị ca dao, tục ngữ dân tộc Thái cho học sinh trường THPT Thường Xuân 2 qua cái nhìn so sánh.
Trong khuôn khổ giới hạn của đề tài, bài viết này xin chỉ trình bày nhữngkết quả bước đầu của việc so sánh Cụ thể là tìm hiểu những nét tương đồng vềnội dung giữa tục ngữ, thành ngữ dân tộc Thái và thành ngữ, tục ngữ dân tộcKinh Từ đó, hình thành nên một tư duy nhận thức mới cho học sinh về kho tàng
ca dao, tục ngữ, thành ngữ đặc sắc của dân tộc mình, góp phần lưu giữ, duy trì,bảo tồn, phát triển những giá trị văn hóa tinh thần quý báu cho các thế hệ maisau
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua so sánh giữa thành ngữ, tụcngữ của dân tộc Thái và thành ngữ, tục ngữ của dân dộc Kinh, giúp học sinh
Trang 4nhận rõ sự tương đồng trong suy nghĩ, nhận thức, khám phá thế giới tự nhiên, xãhội, con người của hai dân tộc Đồng thời, các em sẽ thấy nét độc đáo, đặc sắc,
sự phong phú, giàu có của văn hóa, văn học dân tộc Thái Từ đó, có ý thức giữgìn, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tinh thần quý giá của dân tộc mình
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Trong phạm vi một đề tài nhỏ, tôi chỉ xin được tập trung vào vấn đề: sosánh phạm vi ca dao, tục ngữ của dân tộc Thái và dân tộc Kinh cho học sinhTHPT Thường Xuân 2 để nâng cao nhận thức của học sinh trong việc giữ gìn,phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện thành công đề tài, tôi có sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu, xây dựng cơ sở lí thuyết
- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu
- Phương pháp khảo sát, điều tra thực tế, thu thập thông tin
Trang 52 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Tục ngữ, ca dao của dân tộc Thái rất phong phú, phản ánh nhiều phươngdiện trong cuộc sống, thể hiện một cách sâu sắc vẻ đẹp trong tâm hồn và trí tuệcủa đồng bào Thái
Nội dung và nghệ thuật của tục ngữ, ca dao Thái có nhiều điểm tươngđồng, gần gũi với tục ngữ, ca dao của người Việt nhưng vẫn có những nét riêngtrong cách nghĩ, cách nói, thể hiện ở lối diễn đạt mộc mạc, nôm na, hình ảnh so
sánh cụ thể, sinh động và không kém phần thú vị (sông Mã cạn bằng đĩa, sông
Chu cạn bằng đũa, sông gác lên mái núi, nước tràn vào mây, bông lúa tựa đuôi chuột )
Cũng như các thể loại VHDG khác tồn tại gắn với sinh hoạt văn hóa củacộng đồng, tục ngữ của người Thái được vận dụng trong lời nói hàng ngày, vừa
cụ thể, sinh động, vừa mang tính trí tuệ và triết lý Ca dao, dân ca có mặt tronglời ru, diễn xướng, lễ hội, trong các lối hát đối đáp, giao duyên với nhiều đề tài
và nội dung phong phú
Tục ngữ, ca dao nói riêng, VHDG của đồng bào Thái nói chung đều là tàisản tinh thần quý báu trong kho tàng VHDG của các dân tộc anh em trên đấtnước Việt Nam Để giữ gìn, bảo vệ vốn quý đó, chúng ta cần tích cực sưu tầm,học hỏi những thế hệ đi trước, tìm hiểu những cái hay cái đẹp cả về nội dung vàhình thức nghệ thuật, làm cho giá trị của chúng được lưu giữ, vận dụng và phổbiến rộng rãi trong đời sống tinh thần của cộng đồng, góp phần tạo nên bản sắcriêng của mỗi dân tộc
Trong Nghị quyết TW9 khóa XI về Xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Đảng và Nhà
nước ta đã khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu,động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa được đặt ngang hàng với kinh
tế, chính trị, xã hội Việt Nam cần phải xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc, thống nhất trong sự đa dạng Phải xây dựng nền văn hóa và conngười mới phát triển toàn diện, mang đặc trưng nền văn minh con Lạc cháuHồng, tạo nền tảng để năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp phát triển.Như vậy, phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựngcon người để phát triển văn hóa với những đặc tính cần thiết của nó là quanđiểm chỉ đạo đúng đắn, mạnh mẽ, quyết liệt của Đảng ta trong những năm gầnđây Do đó, việc tuyên truyền, giáo dục sâu rộng cho học sinh hiểu biết, nắmvững những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc là hết sức cần thiết; đặc biệt lànhững giá trị văn hóa đặc sắc đó lại vô cùng quan trọng trong việc hình thành vàphát triển nhân cách của thế hệ trẻ
Với học sinh miền núi như học sinh trường THPT Thường Xuân 2, đại đa
số là con em dân tộc Thái Đó là một điều kiện thuận lợi cho việc sưu tầm, họctập, phát huy giá trị bản sắc của ca dao, tục ngữ nói riêng và VHDG nói chung.Tuy nhiên, để làm được điều này cũng không phải là điều dễ dàng Vì thời lượngdành cho việc học ca dao, tục ngữ dân gian Thái không có trong chương trình
Trang 6THPT Chỉ khi lồng ghép vào trong các tiết học VHDG Việt Nam hoặc có buổingoại khóa riêng biệt để học sinh tìm hiểu, sưu tầm, liên hệ, so sánh, đối chiếuthì học sinh mới có cơ hội nắm bắt những thành tựu đặc sắc của văn học dân tộcmình Khi học sinh xác định đúng đắn ý nghĩa và trách nhiệm của bản thân trongviệc bảo tồn, gìn giữ, xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc ở thời đại hiện nay thìđồng nghĩa với việc giáo viên đã góp phần nâng cao sự hiểu biết của các em vềgiá trị văn hóa, bản sắc văn hóa của dân tộc mình.
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Khung chương trình THPT (cụ thể là chương trình lớp 10) dành choVHDG tương đối nhiều tiết nhưng lại không có tiết nào dành cho ca dao, tụcngữ các dân tộc Trong chương trình có một số đoạn trích học về VHDG các dân
tộc, đó là trích đoạn Chiến thắng Mtao Mxây (sử thi Đăm Săn), đoạn trích Lời
tiễn dặn (Truyện thơ Xống chụ xon xao – Tiễn dặn người yêu) Nếu muốn giới
thiệu đến học sinh những giá trị độc đáo của ca dao, tục ngữ dân tộc mình thì chỉ
có thể lồng ghép vào trong các tiết học đó hoặc tổ chức một buổi ngoại khóariêng để thực hiện
2.2.2 Thực trạng chủ quan:
Như trên đã nói, đại đa số học sinh trường THPT Thường Xuân 2 là họcsinh dân tộc Thái Nhưng các em lại không được tìm hiểu về kho tàng ca dao,tục ngữ phong phú, độc đáo của dân tộc mình trong chương trình THPT Họcsinh hầu như không biết đến tên các tác phẩm văn học dân gian của dân tộcmình cũng như tên các nhà sưu tầm, biên soạn mặc dù họ đang sinh sống và làmviệc tại địa phương Hơn nữa, việc nhận thức rõ khái niệm văn hóa và các giátrị cơ bản của văn hóa với những biểu hiện cụ thể trên các phương diện cụ thểcủa nó không phải là điều dễ dàng Bởi vì, các em ít được tiếp xúc với các giá trịvăn hóa hoặc có tiếp xúc nhưng chưa nhận diện được bản chất giá trị của nó
Để góp phần khắc phục thực trạng trên, đồng thời, nhằm giúp các em cóđược ít nhiều vốn hiểu biết về văn học dân gian của dân tộc mình (dân tộc Thái),
cụ thể là ca dao, tục ngữ, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài Nâng cao ý thức giữ gìn,
phát huy giá trị ca dao, tục ngữ dân tộc Thái cho học sinh trường THPT Thường Xuân 2 qua cái nhìn so sánh.
Trang 72.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề.
Phần thực trạng, đã khẳng định: việc giúp cho học sinh được tiếp xúc vớivăn hóa, văn học dân gian của dân tộc mình (dân tộc Thái) là điều hết sức cầnthiết Và thiết nghĩ, điều đó hoàn toàn có thể làm được Bản thân tôi là người
dân tộc Thái, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương Quế Ngọc Châu
Thường Tôi yêu quê hương mình, tôi tự hào về các giá trị văn hóa của dân tộc
mình, trong đó có giá trị đặc sắc của văn học dân gian Vì lòng đam mê, vì ýthức giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc, tôi đã tham gia học lớp chữ Thái tại Trung
tâm giáo dục Thường Xuyên huyện Thường Xuân và đạt loại Giỏi Trong suốt
khóa học, bản thân tôi không những biết, hiểu về chữ viết dân tộc mình mà cònhọc được rất, rất nhiều điều thú vị từ ca dao, tục ngữ và các thể loại VHDG kháccủa dân tộc Thái Chính điều đó đã thôi thúc tôi lựa chọn đề tài này với hi vọngcung cấp cho học sinh của mình một vốn tri thức cần thiết về ca dao, tục ngữ củadân tộc mình Từ đó, giáo dục ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa đặcsắc của dân tộc cho các em
Với ý thức đó, tôi đã tìm hiểu, sưu tầm được một khối lượng ca dao, tụcngữ dân tộc Thái tương đối lớn Từ đó, khảo sát cả ca dao, tục ngữ dân tộc Kinh
để học sinh có cái nhìn đối chiếu Từ cái nhìn so sánh, học sinh sẽ nhận diệnđược sự giống và khác nhau về cách cảm, cách nghĩ, cách khám phá thế giới tựnhiên, xã hội, con người… giữa hai dân tộc này
Trong quá trình lao động sản xuất và giao tiếp ứng xử, người Thái quanhiều thế hệ đã tích lũy kinh nghiệm, tạo nên một nguồn tri thức phong phú, đó
là những câu tục ngữ, ca dao
Đi sâu tìm hiểu ca dao, tục ngữ của người Thái với người Kinh, chúng tathấy có nhiều nét tương đồng Sự tương đồng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực: từsản xuất đến đời sống, từ tư tưởng đến tình cảm, thế giới quan đến quan niệmsống, quan niệm về giá trị đạo đức, nhân văn…
2.3.1 Nâng cao nhận thức về ý nghĩa, giá trị của Ca dao.
Ca dao là lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễnxướng, được sáng tác nhằm diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm củanhân dân trong các mối quan hệ lứa đôi, gia đình, quê hương, đất nước…
Ca dao có nhiều âm sắc, điệu hồn, lời thơ nên vô cùng phong phú Cónhững lời ca mang âm điệu buồn thương, xót xa khi cuộc sống còn nhiều đaukhổ, cay đắng; Có những lời ca mang tình cảm yêu thương, đằm thắm ân tình;Lại cũng có những lời ca vui tươi, hài hước, dí dỏm mang tinh thần lạc quan củangười lao động
Ca dao của dân tộc Thái cũng không nằm ngoài biểu hiện chung đó.Trong SGK Ngữ văn 10 tập 1, học sinh được học cả 3 chùm ca dao với nhữngbài đặc sắc, tiêu biểu Khi học những bài ca dao này, giáo viên có thể kết hợpgiới thiệu với các em những bài ca dao có nội dung tương tự của dân tộc Thái.Học sinh sẽ nhận ra dân tộc Thái cũng có kho tàng VHDG phong phú, cũng cónhững câu ca dao đặc sắc mà nếu không được giới thiệu, chắc chắn các em sẽkhông biết
Trang 82.3.1.1 Những lời ca yêu thương tình nghĩa.
Trong kho tàng ca dao của người Thái và người Kinh, số lượng ca dao nói
về tình đoàn kết gia đình, đoàn kết cộng đồng khá phong phú Qua đó thấy đượctinh thần đoàn kết được xây dựng bản mường từ gia đình - tế bào của xã hội -được người Thái và người Kinh rất coi trọng Nó là bài học của con người quaquá trình đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và chống kẻ thù để bảo vệ cuộcsống bình yên Vì thế, tình cảm gia đình là một tình cảm rất thiêng liêng, rấtđáng trân trọng
Đó là tình cảm mẹ dành cho con qua lời ru yêu thương, tha thiết:
Nón sé nờ lực ới Mè pảy hày chằng pộc á xày cày pà má hả Mè pảy ná chằng pộc á mè pả đúc má hơ
(Hội văn nghệ dân gian, 2012 - Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái – NXB Văn hóa
dân tộc, Hà Nội)
(Ngủ ngoan nhé con ơi/Mẹ đi rẫy lấy trứng gà về đón/Mẹ đi ruộng bắt cá trê đem về con ăn)
Đây cũng chính là tình cảm của người mẹ trong ca dao của người Việt:
Cái ngủ mày ngủ cho say
Mẹ còn đi cấy đồng sâu chưa về Bắt được con trắm con trê
Cầm cổ lôi về cho cái ngủ ăn
Đó là lời hứa thủy chung của đôi trai gái yêu nhau:
(Bao giờ nước sông Mã cạn bằng đĩa/ Nước sông Chu cạn bằng đũa/ Cá bu
nhảy đớp sao/ Thì ta hãy quên nhau) Người Thái có cách nói, cách nghĩ với lối tư duy giàu hình ảnh, rất cụ thể, sinh
động và độc đáo Sự so sánh rất dễ hình dung: Sông Mã cạn bằng đĩa, sông Chu
cạn bằng đũa… Cũng với nội dung tương tự, ca dao người Việt có bài:
Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau đi nữa thì cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa
Đó còn là nỗi nhớ da diết trong tình yêu đôi lứa:
Háu cảy khá Bưởn dù tắng hủa mí nghến lứm hùng Mọc dù hủa ban lứm hun cảng phá Đẹt hưn tếng ná mết cứn hùng lứm nón
Trang 9(Hội văn nghệ dân gian, 2012 - Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái – NXB Văn hóa dân
Mặt trăng sánh với mặt trời
Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng
Mình ơi! có nhớ ta chăng?
Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời
Ngoài ra, trong ca dao người Thái còn có rất nhiều bài nhắc đến tình bạn,tình yêu đôi lứa, nỗi nhớ thương gắn với hình ảnh chiếc khăn, tấm áo:
“Ai dược á nóong mứa tằm hục máy, dược á nóong mứa xay hục phá, dược đay
la boc máy mứa tènh hướn chái”
(Anh muốn đưa em về xe tơ dệt lụa, muốn đưa em về ngồi canh cửi dệt chăn, muốn cùng em xây mái nhà hạnh phúc mai sau tươi đẹp).
Hay: Tả nghến tằm ngà món, tả nghến chón nhọt bỏn, cán cuôi ma léo pán yểu
cú ới; Cái chớ ní leo là cốn là pán, pớ cò xọc hả táng quang đỉ nờ, hơ mèn hủa
chở pán yểu nờ (Nguồn Internet).
(Mặt trời sắp ngả ngọn dâu, sắp chạm ngọn khoai, ngọn chuối rồi bạn yêu ơi; Chiều đến rồi giờ khắc này phải chia tay thôi, ai cũng tìm đường rộng thênh thang, đi theo con đường mơ ước, nhưng đừng quên nhau bạn yêu quý nhé).
Tất cả những lời ca, câu hát đều thấm đẫm tình cảm yêu thương, nỗithương nhớ, gắn bó sâu nặng, lòng thủy chung ngàn vạn năm không quên… Đóchính là tình cảm chân thành, mộc mạc, chân chất của người dân lao động Thái
từ thuở xa xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị
2.3.1.2 Những lời than thân mang niềm xót xa, cay đắng
Ca dao Thái không chỉ là những lời yêu thương tình nghĩa mà còn lànhững lời tâm sự tận cõi lòng được bật ra khi cuộc sống không được xuôi chèomát mái, khi đâu đó vẫn còn những nỗi đau khiến con người bị tổn thương
Đó là lời trách móc khi đối phương không chung thủy, không gắn kết:
Ai bà nắm noóng cổn cò đếch đăng sản hẻ thoi hàng
Ai bà nắm noóng cổn cò dàng đăng sản pối xờ hỉn
Xản xờ hỉn tấng phả nhắng lọt tấng cón
Xản xờ chón tố nói nhắng lọt tấng tổi
(Anh nói với em như đan chài sót mắt /Anh nói với em như đan sọt sót nan /Đan thành sọt bỏ đá lọt cả hòn, bỏ con ton lọt cả đôi /Lời anh như giọt sương /Chưa nắng đã tan…)
Hay: Mồng hển cúp, cúp pìn hau hướn / Mồng hển bưởn tấng đảo
Bướn đảo tang pìn mốn hau pha / Mồng hển la bọc máy tang cồng cúp cải
(Nhìn thấy nón /Nón xoay che khuất nhà /Nhìn thấy trăng /Trăng sao luồn vào mây /Nhìn thấy lưng áo em /Em quay mặt không nhìn…)
Đó là những lời đau khổ, nuối tiếc khi duyên phận dở dang:
Trang 10Ào tớng nắm, ai bò tam mồng mứa ná
Ào tớng xút tớng phá bò tam mồng mứa ban
Mồng hển quan hướn noóng
Ai bò tam ngằm họt chan mòn
Noóng đà mi hướn mí giao
(Nhớ bờ sông anh không dám trông bờ suối / Nhìn thấy cát, thấy cuội
Anh không dám nhìn bờ ruộng, bờ mương / Nhớ màn, thương chăn
Anh không dám nhìn lên nương em / Nhìn thấy nhà em, anh không dám nhớ Anh tiếc thay em đã có chồng…)
(Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái – NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)
Lời than ấy nghe đau đó phảng phất tâm sự của chàng trai trong bài ca dao: Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay…
Còn đây là lời tâm sự của một chàng trai và cũng là nỗi lòng của cô gái Họ yêunhau nhưng cô gái phải theo chồng vì sự gả ép của cha mẹ:
Xẻ hénh ai phắn máy cư cảng kem / Nở cằm coóng tác bò lắc
Tì lớ náng ược tắc ược tải / Mè náng bò hơ
Tì lớ ơi mứng hay tò bơ / Mè xồn lẳng mứa
(Lòng anh định chặt một cây / Sao cây không ngã, gió lay sớm chiều
Nơi em đã trọn tình yêu / Mong sớm chẳng được, mong chiều cũng không.
Nơi em nước mắt ròng ròng/ Cha mẹ em ép, buộc lòng em theo)
Đó cũng là nỗi lòng của biết bao đôi trai gái trong xã hội phong kiến xưa dù yêuthương tha thiết nhưng không đến được với nhau do sự cấm đoán của cha mẹ
Họ không có quyền lựa chọn hạnh phúc cho riêng mình Chính vì vậy, khi đếntuổi yêu đương, họ mới lo lắng đến thế:
Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi không yên một bề
Nói chung, qua sự khảo sát về mảng ca dao, chúng ta thấy ca dao ngườiThái vô cùng phong phú, đa dạng, phản ánh được nhiều phương diện trong đờisống của con người Đặc biệt, thể hiện sâu sắc vẻ đẹp trong tâm hồn, tình cảm,trí tuệ của đồng bào Thái Đồng thời, chúng ta cũng nhận ra có sự tương đồng vềnội dung của ca dao Thái và ca dao của người Việt
Nhìn vào những dẫn chứng đã nêu, chúng ta dễ dàng nhận thấy, ca daocủa người Thái cũng thể hiện những tình cảm yêu thương tình nghĩa và nhữnglời than thân với nhiều cung bậc tâm trạng của con người trong cuộc sống Điểmkhác biệt của ca dao dân tộc Thái là ở cách nói, cách bộc lộ, thể hiện đời sống,tâm tư tình cảm bằng lối diễn đạt mộc mạc, nôm na, giàu hình ảnh so sánh, sinhđộng, thể hiện rất rõ lối nghĩ, lối tư duy của người dân tộc
2.3.2 Nâng cao giá trị nhận thức về tục ngữ:
Trong kho tàng VHDG, tục ngữ là một thể loại vô cùng phong phú, đadạng Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, hàm súc, phần lớn có hình