1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao năng lực cảm thụ, thẩm bình tác phẩm tự sự cho học sinh lớp 12 thông qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc

18 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 155,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do trên, chúng tôi đề xuất đề tài Nâng cao năng lực cảm thụ, thẩm bình tác phẩm tự sự cho học sinh lớp 12 thông qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc.. Những điểm mới của sáng

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Lý do chọn đề tài

Dạy học môn văn trong nhà trường phổ thông luôn trở thành đề tài thu hút

sự quan tâm của xã hội Cứ sau mỗi kì thi lớn dư luận lại xôn xao với hàng loạt những bài báo, những ý kiến với cùng chung một mục đích tìm hiểu căn cốt, ngọn ngành của vấn đề dạy – học Văn Làm thế nào để học sinh yêu thích môn Văn? Môn Văn trong nhà trường cần được giảng dạy theo phương pháp nào để đạt hiệu quả? Văn và đời đã thực sự gắn kết? Theo khảo sát của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam, trong những năm gần đây chất lượng học văn của học sinh trung học phổ thông (THPT) đang ngày càng giảm sút, học sinh phần lớn không hứng thú, học theo kiểu “đối phó”, “lấy lệ”, thậm chí một bộ phận học sinh lệch lạc trong nhận thức về giá trị, chức năng của bộ môn, cho rằng môn Văn chẳng giúp ích gì Môn Văn đang mất dần vị thế, bạn đọc trong nhà trường thì lạnh nhạt, hờ hững, học theo kiểu bắt buộc, bạn đọc ngoài nhà trường thì không mặn mà, đôi khi

vô cảm Tình trạng học sinh không còn hứng thú với bộ môn đang ngày càng phổ biến Trước thực trạng này, đã có không ít những cuộc hội thảo, chuyên đề đổi mới phương pháp dạy – học Văn được tổ chức dưới nhiều cấp trong phạm vi cả nước Hàng loạt các phương pháp được đề xuất Nhưng căn bệnh chán học Văn của học sinh vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm

Có rất nhiều nguyên nhân để lý giải hiện tượng này, trong đó có lý do là hiện tượng đa số học sinh không đọc tác phẩm khi soạn bài Trong giờ học môn văn thường bỏ qua khâu rèn luyện đọc diễn cảm và hiếm khi học sinh có những giấy phút thăng hoa trong những lời bình ngắn gọn mà gợi nhiều chiêm nghiệm liên tưởng Khả năng cảm thụ, thẩm bình tác phẩm văn học của học sinh còn nhiều hạn chế Các em chưa có phương pháp hoặc có phương pháp nhưng còn nhạt và hời hợt trong cảm thụ, thẩm bình, chưa nêu được những cảm nhận riêng, độc đáo của cá nhân trước một chi tiết, một hình ảnh hay từ ngữ hay

Trong tạo lập văn bản thường khô khan, thiếu chất văn và chiều sâu trong cảm nhận cũng như thể hiện cảm xúc Phần lớn các em nắm khá vững nội dung kiến thức trọng tâm, tuy nhiên khi hành văn thường chỉ diễn xuôi lại, thiếu khả năng cảm thụ nên bài viết thường mờ nhạt, thiếu cảm xúc Bài viết thường không sai nhưng không hay cũng không đặc sắc, ít để lại ấn tượng cho người đọc Đặc biệt, ít có bài học sinh mạnh dạn thể hiện cách cảm nhận của bản thân, không thật

sự đột phá trong cách nêu vấn đề

Bộ môn đang có xu hướng bị biến thành môn công cụ bởi các kĩ năng hơn là nâng cao khả năng cảm thụ, năng lực thẩm bình Để đáp ứng nhu cầu của thi cử, kiểm tra đánh giá không ít giáo viên thường đưa ra những “kĩ thuật”, cách thức hơn là đi sâu vào cung cấp cho học sinh những khả năng để tự cảm thụ, thẩm bình

Trang 2

một tác phẩm Cũng bởi điều này nên hệ lụy là đa phần học sinh chỉ biết phân tích, cảm nhận tác phẩm đã được học dưới sự hướng dẫn của giáo viên, còn khi đối mặt với một tác phẩm mới ngoài chương trình lại lúng túng

Cần đưa bộ môn về đúng với bản chất và đặc trưng của nó là nâng cao khả năng cảm thụ, khả năng rung động, thẩm bình trước một tác phẩm, học sinh biết cách thể hiện cách cảm, cách nghĩ của mình trước một vấn đề đặt ra Và không chỉ tác phẩm trong nhà trường mà bất kì tác phẩm nào các em được tiếp xúc

Đọc hiểu và cảm thụ được vẻ đẹp của tác phẩm văn học vốn không phải là một công việc mang tính khuôn mẫu, bởi mỗi văn bản có một chìa khóa riêng để giải mã chiều sâu cảm xúc và nội hàm giá trị nhân văn, nhân sinh của nó Để làm được công việc mang tính thẩm mĩ này, cần căn cứ vào đặc trưng thể loại, khuynh hướng nghệ thuật của tác giả, giai đoạn văn học… và quan trọng hơn hết là bản thân ngôn từ của tác phẩm văn chương Với tác phẩm tự sự, ngôn từ tạo nên chi tiết, từ chi tiết mà cấu thành sự kiện, cảnh huống; kết nối sự kiện, cảnh huống thì tạo nên cốt truyện; từ chi tiết mà xây dựng chân dung nhân vật; từ chi tiết mà sắc thái thẩm mỹ độc đáo của mỗi thiên truyện được bộc lộ Mỗi chi tiết như một

tế bào cấu thành sự sống của tác phẩm văn chương Theo các tác giả cuốn Lí luận văn học (NXB Giáo dục 1997): yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện

ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý Nhiều khi, truyện ngắn

sống được là nhờ vào những chi tiết hay, chi tiết phát sáng, chi tiết đắt giá “Ở truyện ngắn, mỗi chi tiết đều có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong bài thơ tứ tuyệt Trong đó những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như những nhãn tự trong thơ vậy” [10] Một thói quen của nhiều người viết khi tiếp cận văn bản tự sự là chỉ

quan tâm đến cốt truyện, nhân vật, tình huống và những đề kiểm tra của học sinh cũng thường xoay quanh các vấn đề trên, đó đã là nguyên nhân làm cho bài viết của học sinh trở nên ít mới mẻ và sâu sắc Trong khi đó các chi tiết trong mỗi tác phẩm mới thực sự là tế bào, là mạch máu tạo nên sức sống và vẻ đẹp của từng thiên truyện Những bài viết biết khai thác chi tiết thường tạo nên những nét riêng, nét mới mẻ và cá tính vì trong mỗi chi tiết luôn chứa đựng những lớp trầm tích càng khai thác càng thấy giá trị

Với những lý do trên, chúng tôi đề xuất đề tài Nâng cao năng lực cảm thụ,

thẩm bình tác phẩm tự sự cho học sinh lớp 12 thông qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc.

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nâng cao năng lực cảm thụ, thẩm bình tác phẩm văn học cho học sinh lớp 12 THPT

- Nâng cao kĩ năng đọc, viết, trình bày, cảm thụ, bình giảng một tác phẩm văn chương thông qua chi tiết đặc sắc

Trang 3

- Trang bị một số phương pháp để giảng bình, cảm thụ một tác phẩm văn chương

để học sinh có thể tự tin nêu cách cảm nhận riêng của mình

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Cảm thụ, thẩm bình tác phẩm tự sự thông qua chi tiết nghệ

thuật trong chương trình Ngữ văn lớp 12

- Đối tượng khảo sát: HS lớp 12 trường THPT Chu Văn An

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, cụ thể:

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: nhằm đi tới một giải pháp phù hợp và hiệu quả cho việc nâng cao năng lực cảm thụ, thẩm bình tác phẩm văn chương cho học sinh lớp 12

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh với các hình thức khác để thấy tác dụng của việc sử dụng hoạt động được đề xuất đối với việc nâng cao năng lực và hiệu quả cảm thụ, thẩm bình cho học sinh

- Phương pháp nêu số liệu: trên cơ sở những thực nghiệm, khảo sát chúng tôi đưa ra những kết luận cần thiết qua bảng tổng hợp số liệu để thấy được hiệu quả của việc

sử dụng giải pháp

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:

- Từ việc nghiên cứu các cơ sở lý luận liên quan tới vấn đề vấn đề cảm thụ, thẩm

bình tác phẩm văn chương trong nhà trường THPT; khảo sát đánh giá thực trạng của vấn đề; tìm hiểu khái niệm và đặc điểm của chi tiết , vai trò các chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong một tác phẩm tự sự chúng tôi đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả, năng lực cảm thụ, thẩm bình tác phẩm cho học sinh lớp

12 cấp THPT

- Đưa ra cơ sở quan trọng để giúp học sinh lớp 12 làm tốt được dạng đề nghị luận

về chi tiết trong tác phẩm tự sự lớp 12, đặc biệt là dạng đề thi THPTQG minh họa của Bộ năm 2019

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Trong công trình nghiên cứu Phương pháp dạy học văn, GS Phan Trọng

Luận đã phân định năng lực văn thành 3 loại năng lực: năng lực sáng tác, năng nghiên cứu phê bình và năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học Nhà nghiên cứu đồng

thời khẳng định “giữa người sáng tác, nghiên cứu văn học và người đọc (bạn đọc) cũng có những chỗ khác nhau nhất định về năng lực chuyên biệt” [6] Ở đây, chúng

tôi đi nghiên cứu bạn đọc trong nhà trường phổ thông và năng lực văn của học sinh trong nhà trường phổ thông Năng lực văn của học sinh trong nhà trường phổ thông cũng có một sự phân chia khá rõ dựa trên phương diện hoạt động Theo đó, chúng

ta có: năng lực văn cần cho việc làm văn; cho việc sản sinh ra văn bản (nghị luận); năng lực văn trong việc sáng tác thơ, văn; năng lực văn trong việc chiếm lĩnh một

Trang 4

văn bản văn học, lí luận văn học hoặc văn học sử trong chương trình sách giáo khoa…

Để tiếp nhận và lĩnh hội văn học, người thầy cần hình thành cho học sinh khá nhiều năng lực như: năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm văn học; năng lực tái hiện hình tượng; năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học; năng lực lực nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận; năng lực cảm xúc thẩm mĩ; năng lực tự nhận thức; năng lực tự đánh giá… Trong số các năng lực đó không thể không nói đến năng lực thụ cảm, thẩm bình cụ thể kết hợp với năng lực khái quát hóa các chi tiết nghệ thuật của tác phẩm trong tính chỉnh thể của nó

Như chúng ta đều biết, tác phẩm văn học là một chỉnh thể Tác phẩm có chất lượng cao thì tính chỉnh thể cũng cao Mỗi từ, mỗi chi tiết, hình ảnh, nhân vật… đều là những yếu tố hợp thành của một chỉnh thể do nhà văn sáng tạo nên Hơn nữa, trong một tác phẩm văn học tính cảm tính cụ thể bao giờ cũng kết hợp hữu cơ với tính khái quát Đó là đặc trưng của phương thức phản ánh của văn học Cho nên muốn hiểu biết một tác phẩm không thể làm công việc nắm bắt một cách vụn vặt, ngẫu nhiên, rời rạc, phi chỉnh thể, đồng thời cũng không thể tiếp nhận mỗi yếu tố trong cấu trúc của tác phẩm văn học như một chi tiết cụ thể, cảm tính, rời rạc, vụn vặt không mang một ý nghĩa khái quát gì theo ý đồ sáng tạo của tác giả Tóm lại, muốn nắm bắt được tác phẩm văn học không thể không bám vào các chi tiết trong quan hệ chỉnh thể tác phẩm Tư tưởng chủ đề là linh hồn của tác phẩm, là sợi chỉ đỏ đan kết mọi yếu tố hình thành tác phẩm Năng lực tiếp nhận tác phẩm chính là năng lực phát hiện, nắm bắt được các chi tiết trong hệ thống và cắt nghĩa được ý nghĩa khái quát của các yếu tố đó

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Do áp lực về thời lượng, số tiết, đặc biệt là chương trình còn quá nặng, các tiết giảng thường chỉ đủ đáp ứng chuẩn kiến thức kĩ năng, chưa thực sự đi vào chiều sâu Giáo viên nhiều khi rất tâm đắc, muốn dừng lại ở những chi tiết đặc sắc

để hướng dẫn học sinh cảm thụ, bình giá hoặc cho học sinh phát hiện ra điểm sáng thẩm mĩ để từ đó trình bày cách cảm, cách hiểu của bản thân, tuy nhiên do áp lực

về thời gian nên thường phải trượt qua rất nhanh Thực tế, có không ít những người thầy giỏi chỉ cần qua một vài chi tiết có thể vừa truyền tải tư tưởng, chủ đề tác phẩm cho học sinh, vừa truyền được cảm hứng, chất văn của mình cho học sinh Nhưng số này không nhiều, đó phải là người thầy tài năng và từng trải trong nghề

Một số giáo viên lại xa vào ôm đồm, dàn trải vì muốn truyền tải nên đã xé vụn các chi tiết, đánh mất tính chỉnh thể trong quá trình phân tích khiến nội dung rời rạc, không thống nhất Hoặc một số người thầy không xác định được chi tiết chính, đặc sắc của tác phẩm nên chưa nổi bật được vấn đề

Giáo viên thường làm thay việc cảm thụ tác phẩm cho học sinh Cách dạy này vô tình không thể tránh khỏi áp đặt đồng thời gây ra hệ lụy học sinh cũng không dám phát biểu, tranh luận với giáo viên Từ đó dẫn đến việc tiếp thu một

Trang 5

chiều, sự tương tác, đối thoại trong không gian lớp học mất đi Vai trò của người học không còn là trung tâm Học sinh dần rơi vào thụ động, mất khả năng tranh luận cũng như cảm thụ, thẩm bình

2.3 Giải pháp nâng cao năng lực cảm thụ, thẩm bình tác phẩm tự sự cho học sinh lớp 12 thông qua các chi tiết nghệ thuật đặc sắc.

2.3.1 Chi tiết nghệ thuật và việc khai thác chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm

tự sự

2.3.1.1 Chi tiết trong tác phẩm văn học

Theo Từ điển thuật ngữ văn học chi tiết nghệ thuật là Các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng [1] Tuỳ theo sự thể hiện cụ thể,

chi tiết nghệ thuật có khả năng thể hiện, giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả trong tác phẩm Chi tiết nghệ thuật gắn với “quan niệm nghệ thuật” về thế giới con người, với truyền thống văn hoá nghệ thuật nhất định Chi tiết nghệ thuật là những yếu tố nhỏ

lẻ của tác phẩm nhưng mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng Sức chinh phục của hình tượng nghệ thuật là ở sự truyền cảm thì góp phần quyết định tạo ra sức truyền cảm hấp dẫn, lôi cuốn người đọc là nhờ chi tiết Tất nhiên không phải mọi chi tiết trong tác phẩm đều có vai trò, vị trí và giá trị như nhau Có chi tiết chỉ đóng vai trò vật liệu xây dựng, làm tiền đề cho cốt truyện phát triển thuận lợi và hợp lý, nhưng cũng có không ít chi tiết thể hiện tập trung cho cấu tứ của tác giả Chi tiết nghệ thuật trước hết mang bản chất sáng tạo của người nghệ sĩ, bản chất văn hóa của một cộng đồng Như vậy trong làm văn, sự dụng công hướng vào việc tìm

ra chi tiết Chi tiết càng có sức biểu hiện càng góp phần nâng cao giá trị tác phẩm Không bao giờ có một tác phẩm hay mà chi tiết lại nhạt nhẽo, nông cạn, thiếu sức sống

2.3.1.2 Khai thác chi tiết trong truyện ngắn tự sự

Bởi chi tiết phong phú và đa dạng nên khi phân tích tác phẩm văn học, tác phẩm tự sự, đặc biệt là truyện ngắn chúng ta cần phải cân nhắc cẩn thận trong việc lựa chọn chi tiết phù hợp Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến truyện ngắn vì trong chương trình Ngữ văn 12, các tác phẩm tự sự chủ yếu thuộc thể loại truyện ngắn Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, diễn tả một cái khoảnh khắc, chốc lát của cuộc sống vì vậy chi tiết phải cô đúc, ngôn ngữ mang nhiều ẩn ý, tạo ra cho tác phẩm những chiều sâu về nội dung và nghệ thuật cần phải tìm hiểu Nhà văn Vũ

Thị Thường khẳng định: “Ở truyện dài có thể có những chương “độn” nhưng ở truyện ngắn chỉ cần viết một nửa trang lỏng lẻo là truyện đổ liền Những chi tiết hay đến mấy đi chăng nữa mà không phục vụ chủ đề, thì cũng trở nên vô ích” [7] Hoặc như ý kiến của nhà văn Nguyễn Công Hoan: “Muốn truyện là truyện ngắn, chỉ nên lấy một ý chính làm chủ đề cho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy Không có chi tiết thừa, rườm rà, miên man Mỗi truyện cần

có một ý, một ý thôi Ý ấy là ý chính của truyện nhưng thật ra đó là ý định của tác

Trang 6

giả làm nổi được ý ấy cho độc giả hiểu thì truyện sẽ hay” [7] Truyện ngắn là

một khối thống nhất, hoàn chỉnh, chặt chẽ từ nội dung, tư tưởng chủ đề đến hình thức diễn đạt, ở truyện ngắn không có một cái gì là thừa Vì vậy, viết truyện ngắn là một điều vô cùng khó khăn Khác với truyện dài, truyện ngắn tuy nhỏ bé hơn nhiều

về số lượng trang, chữ, về đối tượng phản ánh (cái chốc lát, cái khoảnh khắc của cuộc sống, một ý tưởng v.v ) nhưng lại đòi hỏi, yêu cầu rất cao về nghệ thuật diễn đạt Ở truyện ngắn dĩ nhiên là truyện ngắn hay không có những yếu tố thừa Cho nên khi phân tích truyện ngắn, chúng ta cần phải lựa chọn các chi tiết biểu hiện, là những chi tiết tiêu biểu quan trọng để thể hiện đúng và đầy đủ giá trị nội dung và nghệ thuật tác phẩm Bỏ qua hoặc quên đi một số chi tiết dù chỉ nhỏ bé nhưng lại có ý nghĩa quan trọng và sẽ làm hạn chế giá trị biểu hiện của tác phẩm

2.3.1.3 Đặc điểm và vai trò của chi tiết trong tác phẩm tự sự

2.3.1.3.1 Tính tạo hình của chi tiết nghệ thuật

Hình tượng nghệ thuật cụ thể, gợi cảm, sống động nhờ các chi tiết về môi trường, phong cảnh, chân dung, nội thất, cử chỉ, phản ứng nội tâm, hành vi lời nói Trong tác phẩm tự sự chi tiết có khả năng gợi ra hình ảnh về sự vật, cảnh vật, con người… đặc biệt là vai trò khắc hoạ tính cách nhân vật Nhà văn sử dụng rất nhiều chi tiết - những nét cụ thể để miêu tả ngoại hình, nội tâm, hành động của nhân vật, cũng như cảnh vật, sự kiện có liên quan đến nhân vật đó Đan dệt hàng loạt các chi tiết với nhau mới có được một bức tranh bằng ngôn ngữ có thể tạo nên một ấn tượng tương đối xác định về nhân vật

2.3.1.3.2 Chi tiết gắn với quan niệm nghệ thuật về con người

Quan niệm về con người trong văn học của mỗi một thời kì là khác nhau nên việc xây dựng chi tiết cũng khác nhau Truyện cổ tích, văn học trung đại, văn học hiện đại những năm 1930-1945, 1945 - 1975 mỗi một giai đoạn đều có những quan niệm nghệ thuật về con người khác nhau dẫn đến việc xây dựng chi tiết trong tác phẩm cũng khác nhau Văn học giai đoạn 1945-1954: với quan niệm con người riêng - chung, con người nhỏ bé bất hạnh trong xã hội cũ được đổi đời trong xã hội mới Hạnh phúc của họ tìm thấy trong hạnh phúc chung của dân tộc Xuất phát từ quan niệm này nên số phận của nhân vật có khác so với nhân vật trong văn xuôi hiện thực phê phán 1930-1945 là do cách lựa chọn chi tiết kết thúc khác nhau Kết thúc của Chí Phèo là bi kịch với chi tiết cái lò gạch cũ, còn Tràng trong “Vợ nhặt” chắc chắn sẽ có một tương lai tươi sáng được kết chi tiết lá cờ đỏ sao vàng bay trong gió Văn học kháng chiến 1945-1975: với quan niệm con người mang tính sử thi, tạc dáng đứng hào hùng vào lịch sử do vậy việc lựa chọn chi tiết để xây dựng nhân vật cũng khác, nhà văn chọn những chi tiết để lí tưởng hoá nhân vật, nhân vật toả ánh hào quang, họ đẹp ở mọi phương diện trong chiến đấu và trong cả đời thường Trong truyện “Rừng xà nu”, Tnú là một nhân vật anh hùng toàn diện Tnú anh hùng từ nhỏ, lớn lên trở thành người chiến sĩ cách mạng kiên trung và còn

là người chồng người cha giàu yêu thương Việt, Chiến ở “Những đứa con trong

Trang 7

gia đình” cũng đẹp ở mọi phương diện và nhà văn cũng đã lựa chọn những chi tiết tiêu biểu để khắc hoạ vẻ đẹp lí tưởng ấy Văn xuôi sau 1975 vận động đổi mới theo hướng dân chủ hoá và trên tinh thần nhân bản sâu sắc, văn học hướng tới hiện thực

đa chiều, con người đa diện Mọi mặt của đời sống con người được văn học quan tâm phản ánh: con người cá nhân, đời thường, con người với cả hạnh phúc và bi kịch, con người phi lí tưởng, nhân loại, tự nhiên bản năng… Do vậy việc lựa chọn chi tiết để khắc hoạ nhân vật cũng khác với văn học giai đoạn trước Số phận của

Mị trong “Vợ chồng A Phủ” có khác với người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền thuyền ngoài xa” bởi do xuất phát từ quan niệm nghệ thuật về con người có khác nhau nên cách chọn chi tiết kết thúc truyện cũng khác nhau Mị được đổi đời trong xã hội mới với chi tiết Mị giải thoát cho APhủ và chạy theo APhủ tới Phiềng

Sa và hai người được tham gia vào đội quân giải phóng quê hương Người đàn bà hàng chài cuối cùng vẫn phải cam chịu chấp nhận số phận không dám rời bỏ người chồng vũ phu, chấp nhận cảnh đòn roi như cơm bữa “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” và con thuyền gia đình chị vẫn đang chao đảo trong cơn bão

Gắn với quan niệm nghệ thuật về con người do vậy chi tiết nghệ thuật có vai trò quan trọng làm nên diện mạo nhân vật văn học của từng thời Khi phân tích nhân vật cần phải đặt nó trong típ người của từng thời kì văn học và cần phải lựa chọn những chi tiết nghệ thuật tiêu biểu để thẩm bình, làm nổi bật đặc điểm của nhân vật

2.3.1.3.3 Chi tiết có vai trò biểu lộ tư tưởng, chủ đề tác phẩm

Chi tiết nghệ thuật trong văn xuôi không chỉ có giá trị tạo hình mà nó còn có một đặc điểm vô cùng quan trọng là bản chất sáng tạo, khái quát, biểu hiện, khả năng nói nhiều bản thân nó Tuỳ theo sự thể hiện cụ thể, chi tiết nghệ thuật trở thành tiêu điểm, hội tụ tư tưởng của tác giả trong tác phẩm Tuy ngắn gọn cô đúc, nhưng chi tiết nghệ thuật lại chứa đựng một chiều sâu ý nghĩa khôn cùng mà dường

như ta khơi mãi cũng không thấy đáy “Chi tiết nghệ thuật như một giọt nước mà qua đó ta thấy được cả đại dương” Chi tiết nhỏ nhưng lại làm nên nhà văn lớn.

Với bản chất sáng tạo chi tiết nghệ thuật có vai trò quan trọng làm nên tiếng nói nghệ thuật độc đáo của nhà văn Chi tiết được tạo thành phải qua quá trình thai nghén của nhà văn Để làm nên một chi tiết nhỏ đòi hỏi nhà văn phải có sự thăng hoa về cảm xúc và tài năng nghệ thuật chân chính Chi tiết là điểm sáng nhất trong tác phẩm tự sự, nó giúp nhà văn thể hiện ý đồ nghệ thuật mà mình muốn biểu đạt, giúp bạn đọc thoả mãn sự khám phá mong muốn khám phá tận cùng ý nghĩa tác phẩm và nó cũng biểu hiện được phần hồn của tác phẩm, tạo nên những tầng sâu khai phá Nhưng muốn tạo được chiều sâu khôn cùng của tác phẩm tự sự, tức là

“phần chìm”, ý nghĩa biểu trưng, nhà văn không chỉ biết tạo ra những chi tiết

đắc địa mà còn phải có biệt tài trong lựa chọn giữa dòng đời xuôi ngược một khoảnh khắc thời gian mà ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa

và nhiều áp lực buộc con người phải bộc lộ phần sâu kín nhất của tâm hồn mình

Trang 8

Chi tiết cô đúc ngắn gọn nhưng lại chứa đựng tầng sâu khôn cùng Nghệ thuật là lĩnh vực đặc thù, tầm vóc của người nghệ sĩ có thể làm nên từ những điều nhỏ nhất Nhà văn có khả năng sáng tạo ra những chi tiết nhỏ có giá trị góp phần đắc lực trong việc thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm Do vậy để tạo nên những chi tiết đắc địa đòi hỏi nhà văn phải có đủ ba yếu tố: tài, tâm và tầm Một chi tiết hay không phải chỉ hay ở xác chữ mà là cái “đẹp” trong hồn văn Đó phải là sự trăn trở không ngừng của nhà văn trước cuộc đời, là sự thăng hoa trong cảm xúc đến cao và

là sự dung nạp của một ngòi bút tài hoa Chi tiết có vai trò quan trọng đúng như

giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh từng nói: “Ở truyện ngắn, mỗi chi tiết có vị trí quan trọng như một chữ trong bài thơ tứ tuyệt, trong đó có những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như những nhãn tự trong thơ vậy” [10] Chi tiết tiếng sáo trong truyện

ngắn “Vợ chồng A Phủ”, chi tiết bát bánh đúc trong truyện “Vợ nhặt” là những

chi tiết “nhãn tự” đặc sắc Bát bánh đúc trong “Vợ nhặt” cho thấy được số

phận thảm thương tội nghiệp của người được ăn - thị vợ nhặt và vẻ đẹp của tình người hào hiệp ở người cho ăn đó là Tràng Chi tiết nhỏ nhưng lại có vai trò lớn để soi sáng chủ đề của tác phẩm: phản ánh số phận thảm thương tội nghiệp của người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, đồng thời còn làm sáng lên vẻ đẹp trong tâm hồn của người lao động trước Cách mạng Và nếu đem so sánh với bát cháo hành trong “Chí Phèo” thì bát bánh đúc cũng là chi tiết thể hiện tiếng nói nghệ thuật độc đáo của Kim Lân khi viết về người nông dân

2.3.1.3.4 Chi tiết đóng vai trò làm tiền đề cho sự phát triển của cốt truyện

Mọi chi tiết trong tác phẩm tự sự không phải đều có vai trò, vị trí và giá trị như nhau Có chi tiết đóng vai trò vật liệu xây dựng, làm tiền đề cho cốt truyện phát triển thuận lơi và hợp lí Vì vậy khi phân tích tìm hiểu tác phẩm văn học, ta không thể không chú ý đến các chi tiết đó Chi tiết Mị cắt dây trói giải thoát cho A Phủ, rồi cùng APhủ trốn khỏi Hồng Ngài là những chi tiết có vai trò lớn trong việc thúc đẩy của cốt truyện Nếu Mị không chạy theo A Phủ chắc chắn Mị phải chết và như vậy câu chuyện sẽ không có phần sau Điều này đồng nghĩa với ý đồ tư tưởng

là ca ngợi công lao trời biển của Đảng mà Tô Hoài muốn giử gắm vào tác phẩm sẽ không thành Như vậy chi tiết có vai trò quan trọng cho sự phát triển của cốt truyện

2.3.2 Các giải pháp cụ thể.

2.3.2.1 Chuẩn bị tư liệu

Để khơi dậy năng lực cảm thụ, thẩm bình thông qua một chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong một tác phẩm tự sự nào đó, một trong những khâu quan trọng của người thầy là tiếp cận, xử lý và chọn được những chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc vừa góp phần thể hiện được tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, đồng thời phải có khả năng đánh thức, khơi dậy tiềm năng thụ cảm thẩm mĩ của học sinh “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”, không cần ôm đồm quá nhiều chi tiết, chỉ nên dừng lại ở

việc lựa chọn chi tiết có tính chất tiêu biểu Ví như, trong truyện Vợ chồng A Phủ

Trang 9

của nhà văn Tô Hoài, với tài năng của mình nhà văn đã giăng “thiên la địa võng” với rất nhiều những chi tiết đặc sắc từ các chi tiết gắn liền với cuộc sống sinh hoạt, làm việc (tảng đá, tàu ngựa…), căn buồng kín mít nơi Mị nằm; tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân,… cho đến chi tiết Mị cởi trói, chạy theo A Phủ Có rất nhiều chi tiết đặc sắc trong tác phẩm, tuy nhiên trong quá trình giảng dạy, hướng dẫn học sinh thẩm bình người thầy cần chọn ra được những chi tiết tiêu biểu, đặc sắc Đó là những chi tiết góp phần thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm đồng thời là những chi tiết góp phần thúc đẩy cốt truyện phát triển Trong đó không thể không phân tích chi tiết: tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân, chi tiết Mị cởi trói cứu A Phủ, chi tiết Mị chạy theo A Phủ sau khi cởi trói

Chọn được chi tiết hay, đặc sắc sẽ góp phần cho việc phân tích, cảm thụ nhanh đến đích và đạt được hiệu quả

2.3.2.2 Đọc văn bản

Đọc văn bản nói chung và đọc chi tiết nói riêng là khâu quan trọng không thể thiếu Việc đọc có nhiều cách khác nhau: từ đọc nhanh, đến đọc chậm, từ đọc thầm đến đọc diễn cảm… nhưng cuối cùng vẫn là đọc ra được tinh thần của văn bản nói riêng và chi tiết nghệ thuật nói chung Thực tế giảng dạy cho thấy, việc đọc truyền cảm, chính xác cái thần của chi tiết sẽ giúp cho học sinh hứng thú, sẵn sàng cho việc đi vào khám phá cái hay, cái đẹp của tác phẩm Do đó, giáo viên cần yêu cầu học sinh trở đi trở lại với các chi tiết mà các em cho là tiêu biểu, từ đó phát hiện,

“đọc” ra được ý nghĩa tư tưởng mà nhà văn gửi gắm Ví như, với chi tiết tiếng sáo

trong đêm tình mùa xuân trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài.

Chỉ một đoạn văn ngắn nhưng tác giả cho chi tiết tiếng sáo trở đi trở lại nhiều lần

và sau mỗi lần xuất hiện nó đã đánh thức con người tâm linh trong Mị sống dậy, giúp Mị đi từ cõi quên ra cõi nhớ, làm cho con người trước đây của Mị - con người chỉ có một ý niệm duy nhất – ý niệm về thân phận trâu ngựa bắt đầu thay đổi Để rồi như một ngọn lửa dưới lớp tro tàn nguội lạnh, chỉ cần một trận gió lành nó đã thổi bùng lên mãnh liệt thành sức mạnh tự giải phóng

2.3.2.3 Cách cảm thụ, thẩm bình

Người thầy cần định hướng cách cắt nghĩa, cảm thụ, thẩm bình một tác phẩm

tự sự nói chung và một chi tiết nghệ thuật nói riêng, cần cung cấp cho học sinh những phương pháp để học sinh chủ động trong việc cảm nhận Có khá nhiều cách

để cảm thụ, thẩm bình một tác phẩm tự sự, nhưng chúng tôi đề xuất sử dụng các cách sau làm định hướng cho học sinh:

2.3.2.3.1 Cảm thụ, thẩm bình bằng cách đặt chi tiết nghệ thuật vào chỉnh thể nghệ thuật

Tác phẩm đặc sắc luôn được đan dệt bởi các chi tiết nghệ thuật đặc sắc Những chi tiết này góp phần thể hiện ý đồ cũng như tư tưởng chủ đề của nhà văn

Chẳng hạn chi tiết mở đầu tác phẩm Vợ chồng A Phủ là một chi tiết đầy dụng ý của

nhà văn đã mở đầu để ngầm dự báo về thân phận bất hạnh trong chốn địa ngục trần

Trang 10

gian nhà thống lý Pá Tra của Mị Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lý Pá Tra thường trông thấy một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy lúc nào cũng cúi, mặt buồn rười rượi [3] Trước hết

là các chi tiết được đặt cạnh Mị như: tảng đá, tàu ngựa Dường như Mị cũng âm

thầm, lặng lẽ như đá núi cao nguyên và số phận vất vả không khác trâu, ngựa Hàng

loạt công việc: quay sợi, thái cỏ, dệt vải, chẻ củi, cõng nước… cũng nối tiếp diễn

ra, quanh năm suốt đời, suốt tháng như thế Đó là cái guồng quay không biết ngơi

nghỉ Thêm vào đó là chi tiết mặt cúi, mặt buồn rười rượi Tất cả như ngầm dự báo

về một thân phận, một số phận bất hạnh, trắc trở

Tuy nhiên, khi cảm thụ, thẩm bình các chi tiết nghệ thuật cần đặt nó trong chỉnh thể, không được xé lẻ, cắt rời, tránh rơi vào suy diễn, chủ quan Muốn vậy, giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc và nắm vững tác phẩm; phải nắm chắc đề tài,

tư tưởng chủ đề, sự vận động của cốt truyện, hệ thống các tình tiết chính, giọng điệu cơ bản chi phối tác phẩm… Việc đặt chi tiết trong chỉnh thể là vô cùng cần thiết, sẽ giúp chúng ta cảm thụ, cắt nghĩa đúng nhất Phân tích chi tiết phải thấy đuộc hoàn cảnh xuất hiện chi tiết, nguyên nhân, hệ quả của chi tiết Để cảm thụ chi

tiết Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương… trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành chúng ta phải đặt trong chỉnh thể để

hiểu rằng, nhà văn miêu tả số phận của rừng xà nu cũng chính là số phận của người dân làng Xô man trong chiến tranh Chiến tranh với sức hủy diệt ghê gớm đã tàn phá, gây đau thương cho người dân Xô man nói riêng và người dân Tây Nguyên nói chung Bởi vậy, rừng xà nu vừa dữ dội, đau thương vừa hùng tráng, mạnh mẽ, tràn đầy sức sống mãnh liệt, là biểu tượng đầy ý nghĩa cho số phận và phẩm chất của cộng đồng, của dân tộc Hiểu như vậy, học sinh mới cảm nhận, phát hiện ra hết tầng ý nghĩa tiềm ẩn trong từng chi tiết khi nhà văn miêu tả cây xà nu Hay, muốn cảm thụ, cắt nghĩa chi tiết Mị cắt dây trói cứu A Phủ, học sinh phải đặt trong chỉnh thể để hiểu rõ thân phận đau khổ, bị áp bức, bị áp chế của Mị trong nhà thống lý Pá Tra, phải hiểu trong Mị luôn tiềm ẩn một sức sống, một khả năng phản kháng mãnh liệt… Có như vậy, học sinh mới bình giảng được chi tiết ấy, hành động ấy một cách thấu đáo, nhận ra sự vận động phù hợp với tâm trạng, tính cách của Mị

2.3.2.3.2 Cảm thụ, thẩm bình bằng cách tìm ra điểm sáng, dụng ý nghệ thuật của nhà văn trong hệ thống các chi tiết nghệ thuật

Như đã nói, tác phẩm tự sự được dệt bởi hệ thống chi tiết chằng chịt nhưng không phải chi tiết nào cũng là chi tiết chính của tác phẩm, không phải chi tiết nào cũng có vai trò ngang nhau Việc quan trọng trước khi phân tích, cảm nhận là phải phát hiện ra được những chi tiết đặc sắc Việc phát hiện được những chi tiết đặc sắc

sẽ giúp tiệm cận, đến gần hơn với tư tưởng nghệ thuật, tài năng cũng như phong cách của nhà văn Một con đường nhanh nhất để “đọc” ra giá trị của tác phẩm cũng như cái “tạng”, cái hồn cốt của nhà văn Bởi trong chi tiết đặc sắc luôn chứa đựng

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w