Do vậy bản thân đã mạnh dạn vận dụng phương pháp gợi mở, “gợi” để “mở” qua việc lưu ý đến cách đặt đề mục trong dạy học, nhất là dạy học tác phẩm thơ trữ tình nhằm gây ấn tượng, tác động
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NGA SƠN
-*** -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP GỢI MỞ QUA CÁCH ĐẶT ĐỀ MỤC BẰNG HÌNH ẢNH TRONG DẠY HỌC
“BÀI THƠ SỐ 28” CỦA R.TA- GO
Họ và tên Chức vụ
: Mai Thị Tâm : Giáo viên - TTCM SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2019
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu……….1
1.1 Lý do chọn đề tài……… 1
1.2 Mục đích……… 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu……… 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu……… 2
2 Nội dung……… 2
2.1 Cơ sở lý luận………2
2.1.1 Phương pháp gợi mở……… 2
2.1.2 Đề mục……… 2
2.1.3 Tác phẩm thơ trữ tình và cách nói bằng hình ảnh trong văn học………4
2.2 Thực trạng………5
2.2.1 Thuận lợi……… 5
2.2.2 Khó khăn……… 6
2.3 Cách đặt đề mục trong dạy học thi phẩm trữ tình “Bài thơ số 28”… 7
2.3.1 Tính khoa học và tính nghệ thuật của đề mục……… 7
2.3.2 Đề mục khái quát và cụ thể……… 8
2.3.3 Cấu trúc và ý nghĩa của đề mục……….13
2.3.4 Hệ thống đề mục và sơ đồ tư duy (SĐTD)……… 13
2.4 Hiệu quả của SKKN……… 13
3 Kết luận, kiến nghị………14
Trang 3Tài liệu tham khảo Phụ lục
Danh mục đề tài SKKN
Trang 41 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Kích thích tư duy và sự chủ động của học sinh trong quá trình học tập nóichung và tìm hiểu môn Ngữ văn nói riêng là mục đích mà giáo dục đã và đanghướng tới Có như vậy học sinh mới trở thành trung tâm trong việc chiếm lĩnh,tiếp nhận và làm chủ tri thức
Đôi khi giáo viên còn có những sai lầm trong quan niệm lấy học sinh làmtrung tâm của hoạt động giáo dục Cho nên thường hiểu rằng cần phải tạo ra
những việc “to tát”, “lớn lao” thì mới có thể đưa học sinh lên vị trí trung tâm Vì
thế vô tình đã tạo nên rào cản của quá trình giáo dục tích cực này
Mặt khác sức ép về mặt thời gian, dạy- học phải bám sát, kịp tiến độ sovới PPCT và mức độ, khả năng tiếp thu kiến thức ở các em học sinh là khácnhau cũng không phải là điều kiện thuận lợi để tiến hành dạy và học theo hướng
mở Đặc biệt xu hướng lựa chọn các môn học tự nhiên là chủ yếu khiến cho tâm
lí, thái độ của học sinh khi học các môn xã hội trong đó có bộ môn Ngữ văn kháthờ ơ, thiếu quan tâm, thiếu tinh thần trách nhiệm
Nhận thức rõ được thực tế trên, người viết quan niệm rằng muốn đạt đượcmục đích lớn thì phải thực hiện từng mục tiêu nhỏ, ngay ở từng bài học, từngphần, từng mục Do vậy bản thân đã mạnh dạn vận dụng phương pháp gợi mở,
“gợi” để “mở” qua việc lưu ý đến cách đặt đề mục trong dạy học, nhất là dạy
học tác phẩm thơ trữ tình nhằm gây ấn tượng, tác động trực tiếp đến giác quan
và sau đó là đến nhận thức của học sinh, từ đó các em sẽ chú ý và tự giác hơnvới việc tìm hiểu bài học Ngữ văn
Khi “thử nghiệm” sáng kiến này, người viết đã nhận được những phản hồi
tích cực từ đồng nghiệp và học sinh Cũng từ đó bản thân có ý thức tìm hiểu vềvấn đề đặt đề mục trong dạy học môn Ngữ văn nhưng hiện tại vẫn chưa tìm thấytài liệu nào đi sâu nghiên cứu vấn đề Đây vừa là thử thách nhưng cũng là cơhội, là động lực để người viết chuyển thành đề tài SKKN với hy vọng chia sẻ vànhận được những góp ý khách quan, ý nghĩa
Trang 51.2 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài “Vận dụng phương pháp gợi mở qua cách đặt đề mục trong
dạy học tác phẩm trữ tình “Bài thơ số 28” của R Ta- go”, người viết mong
muốn nâng cao tinh thần tự học, tự bồi dưỡng; góp phần truyền cảm hứng họcVăn cùng phương pháp tư duy chủ động, khoa học cho học sinh; chia sẻ kinhnghiệm với đồng nghiệp trong quá trình dạy học bộ môn Ngữ văn ngày càngkhông dễ dàng ở hoàn cảnh xã hội cụ thể hiện nay
Mục đích của đề tài hướng tới những đối tượng có liên quan trực tiếpcùng các mối quan hệ mật thiết: giáo viên- học sinh- người nghiên cứu… nhằmcùng thực hiện mục tiêu cuối cùng của giáo dục, lấy học sinh làm trung tâm, tạodựng nền tảng cho nhận thức và ý thức tự giác, tự chủ của các em trong học tập
và cũng như trong cuộc sống sau này
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu xuất phất từ việc vận dụng phương pháp gợi mởqua cách thức cụ thể của phương pháp là đặt đề mục trong quá trình dạy học tác
phẩm thơ trữ tình, ở đề tài khoa học này là “Bài thơ số 28” của R Ta- go Nghĩa
là một tác phẩm văn học và con đường để tìm hiểu, khám phá nó đã trở thànhđối tượng nghiên cứu chủ yếu của SKKN
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, người viết đã vận dụng linh hoạt nhiều phương phápnghiên cứu nhằm phát huy hiệu quả tổng hợp từ ưu thế của từng phương pháp:phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết, phương pháp điều tra khảosát thực tế, thu thập thông tin, phương pháp tâm lý, phương pháp so sánh và một
số thao tác có liên quan
2 Nội dung
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Phương pháp gợi mở
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng- người rất quan tâm đến nền giáo dục nước
nhà đã từng khẳng định “Dạy học phải chăng trước hết là dạy suy nghĩ, tìm tòi,
Trang 6sáng tạo” Trên thế giới, các nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo dục cũng
có những ý kiến tương đồng nhằm thúc đẩy hiệu quả tích cực của phương phápgợi mở Giáo sư, tiến sỹ I.A.Rez đã nhận thấy ở phương pháp này có những khả
năng mà phương pháp khác không thể có: “Sự chiếm lĩnh và phân tích tác phẩm
thường gắn liền với việc giải quyết các vấn đề về nghệ thuật, đặc điểm xã hội hoặc triết học do nhà văn đặt ra Nhiệm vụ của giáo viên là giúp học sinh phát hiện ra các vấn đề đó, tìm thấy con đường giải quyết chúng trong văn bản nghệ thuật dạy các em phân tích tác phẩm, dạy các em suy luận, phát biểu những suy nghĩ của mình bằng một ngôn ngữ nói hoặc viết trôi chảy, nhất quán, có sức thuyết phục Phương pháp gợi tìm sẽ giúp làm việc đó”.
Phát triển các quan điểm trên, tiến sỹ Nguyễn Văn Đường khẳng định:
“Phương pháp gợi mở là phương pháp chủ công, cốt lõi và hữu hiệu của đổi
mới phương pháp dạy học từ cải cách giáo dục”.
Đi sâu vào các biện pháp của phương pháp này, chúng ta có kỹ năng đàm
thoại với hệ thống câu hỏi “biết hỏi là biết dạy”, các bài làm độc lập (bài tập)…
Tuy vậy cho đến nay, việc vận dụng phương pháp này vẫn chưa đồng bộ
và hiệu quả vì gần như chúng ta vẫn đang ở trong quá trình tìm đường cho nềngiáo dục nói chung, dạy học bộ môn Ngữ văn nói riêng, ở đây là giới hạn trongphạm vi tìm hiểu tác phẩm thơ trữ tình Với cách thức, biện pháp đặt đề mụctrong bài học cụ thể, người viết mong muốn góp phần làm sáng rõ, gần gũi, hiệu
quả hơn cho phương pháp gợi mở vốn vẫn “khiêm tốn” ẩn mình trên lý thuyết
mà chưa được vận dụng sâu rộng trong thực tế dạy- học
2.1.2 Đề mục
Cần phân biệt rõ khái niệm tiêu đề, đề mục để tránh nhầm lẫn “Tiêu đề”
là lời đề ở đầu một tác phẩm, nêu nội dung chủ yếu; cũng có thể là phần in sẵn ởbên trên các giấy tờ hành chính, giấy tờ giao dịch thương mại, ghi tên cơ quan,
thường có kèm địa chỉ “Đề mục” là tên gọi từng phần lớn trong một bài viết,
một công trình nghiên cứu
Trang 7Linh hoạt vận dụng khái niệm “đề mục” vào bài học Ngữ văn thì đề mục
chính là tên gọi từng phần của nội dung bài học, ở đây chủ yếu là ở phần đọchiểu văn bản Nếu tích hợp tri thức từ phân môn Làm văn, chúng ta hoàn toàn cóquyền coi đề mục là các luận điểm, luận cứ hay ý lớn, ý nhỏ trong bài học Quansát nhanh các đề mục này sẽ kịp thời nắm được nội dung cơ bản của bài học.Như vậy đề mục có vai trò khá quan trọng trong việc gợi mở, thể hiện và chuyểntải ý tưởng của bài học
2.1.3 Tác phẩm thơ trữ tình và cách nói bằng hình ảnh trong văn học
Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện tư tưởng, tình cảm, nhưng tác phẩmloại trữ tình lại bộc lộ, biểu hiện tình cảm theo cách riêng Khi nói đến tác phẩmtrữ tình thì không phải chỉ có thơ trữ tình, còn có tùy bút, thơ văn xuôi… Nhưngtrong đề tài này người viết muốn nhấn mạnh thơ trữ tình- trữ tình tâm tình nhưmột thể loại tiêu biểu nhất của phương thức sáng tác trữ tình Mọi sự phân loạichỉ mang tính tương đối và đôi khi có sự chồng chéo Do vậy cần căn cứ vào tácphẩm cụ thể để có cách thức tìm hiểu phù hợp, đảm bảo đặc thù bộ môn với tưduy hình tượng
Thơ trữ tình tâm tình bắt nguồn từ tình cảm qua các mối quan hệ của conngười trong cuộc sống hằng ngày: tình yêu trai gái, tình cảm vợ chồng, tình chacon, bè bạn… Giá trị của loại trữ tình tâm tình giúp cho người đọc ý thức sâusắc hơn những tình cảm gần gũi, thông thường
Đặc điểm cơ bản của tác phẩm trữ tình là sự thổ lộ ý nghĩ, cảm xúc trướcthế giới, trong đó tình cảm là mạch phát triển then chốt của tác phẩm Mà tình
cảm, cảm xúc không phải là yếu tố đơn giản, dễ dàng để gọi tên theo kiểu “vật
chất hóa” Như vậy phải có phương pháp gợi mở hợp lí bắt nguồn từ nhận thức
đúng đắn của chúng ta về đặc trưng thể loại tác phẩm văn học
Cơ sở của phương pháp này xuất phát từ đặc trưng của văn học mà không
một bộ môn khoa học nào cần có, là vấn đề nói bằng hình ảnh, mô tả, diễn đạt,
minh họa và cả lí luận nữa, cũng phải bằng hình ảnh Đúng như giáo sư Vũ
Ngọc Khánh từng khẳng định: “Không có hình ảnh là không có văn chương”.
Trang 8Chúng ta có thể lấy dẫn chứng về cách diễn đạt bằng hình ảnh của nhà thơ Tố
Hữu trong bài thơ Việt Bắc:
Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.
Trong bốn câu thơ trên, có hai chữ thật là quan trọng: chữ “về” và chữ
“lên” Chữ “về” gợi ra chiều dài trong không gian Chữ “lên”, lại gợi ra một
chiều cao: từ đáy thung lũng hay đáy biển sâu lên đến những đỉnh núi ngất
thiêng của đất nước “Trông về” là cái thế đứng của người từ xa, xuyên suốt đường muôn dặm dài theo đất nước “Nhìn lên” lại là cái thế đứng của những
người ở dưới đáy, vươn lên đến những tầm cao bay bổng tuyệt vời Câu thơ đãbao quát cả không gian, có bề rộng, bề sâu, chiều dài, chiều sâu Đó mới là cáilớn lao, cái sâu sắc của hình tượng Việt Bắc trong tấm lòng người dân Việt Nam
ở khắp mọi miền Còn “u ám quân thù” là quang cảnh hiện hữu, “đau đớn
giống nòi” lại là một hình ảnh sâu lắng, thấm thía cả một nỗi niềm Chỉ bằng
một số hình ảnh, nhà thơ đã đưa ta vào cả một thế giới vừa bao la, vừa sâu rộng,
có cả cuộc sống bên ngoài và cuộc sống bên trong Cần nhận thức được sự thật:sức mạnh kì diệu của thơ thuộc về hình ảnh thơ mà không phân biệt đó là thơxưa hay thơ nay, thơ Việt Nam hay thơ thế giới
2.2 Thực trạng vấn đề
2.2.1 Thuận lợi
Mặc dù theo xu hướng hiện nay, đa số học sinh muốn hoặc bị bắt buộctheo ý muốn của cha mẹ và đã lựa chọn học các môn tự nhiên là chủ yếu nhưngvẫn còn có những học sinh yêu thích và học tốt môn Ngữ văn với những pháthiện độc đáo, thông minh, tinh tế; với những bài kiểm tra xuất sắc; với nhữngbài thi học sinh giỏi khiến cho thầy cô phải khâm phục, ngưỡng mộ, tự hào.Chừng ấy thôi cũng đủ lí do để chúng tôi vẫn quan tâm đến văn học, đến thơ trữtình
Trang 9Ngoài ra Ngữ văn cũng là một trong ba môn thi bắt buộc trong kì thiTHPT Quốc gia cho nên dù ít hay nhiều học sinh không thể bỏ qua để chạy theothời thế một cách thực dụng.
Văn học, trong đó có thơ trữ tình mang lại cho học sinh và cả giáo viên,những bạn đồng nghiệp dự giờ không ít giây phút thoải mái, sống có cảm xúcvới cả những nhận thức mới mẻ, thú vị Do đó mà Ngữ văn là bộ môn giúp chomọi người có được sự cân bằng trong tri thức và ý thức; trong học tập và cuộcsống
Phương pháp gợi mở đã tạo cơ hội thực sự cho học sinh được đàm thoại,được hỏi, được trả lời, được thể hiện mình và là chính mình Điều này đã kíchthích niềm hứng khởi, nguồn năng lượng tích cực ở mỗi học sinh trong giờ họcmôn Ngữ văn
2.2.2 Khó khăn
Sức ép về thời gian của một tiết học, mức độ tiếp nhận không đồng đềucủa học sinh, quan niệm sai lầm về vai trò môn học, tâm lí khi học, phương phápchưa phù hợp… là những khó khăn có thực, đã và đang tồn tại trong môi trườnggiáo dục
Khi tìm ra phương pháp phù hợp thì việc vận dụng còn nửa vời, chưa có
“sức bền” Bên cạnh đó áp lực cuộc sống cũng tác động không nhỏ tới thời gian
và tâm huyết mà giáo viên dành cho một dung lượng kiến thức, bài học, tiết học,môn học
Theo CTGD, thi phẩm “Bài thơ số 28” là một bài thuộc tiết đọc thêm, là
thơ nước ngoài Ngay cả giáo viên chứ chưa nói đến học sinh vẫn thường chorằng bài đọc thêm không quan trọng nên không chú ý, lại là thơ nước ngoài nên
lại “ngại” tìm hiểu Vì thế dạy và học đôi khi còn sơ sài theo kiểu “cưỡi ngựa
xem hoa” Riêng “Bài thơ số 28” về hình thức thuộc thể thơ tự do- mà những gì
được coi là “tự do” thì khó nắm bắt Khi cái “tự do” ấy lại được kết hợp với tính
triết lý sâu sắc, thâm thúy thì dường như thi phẩm đã vượt qua ngoài tầm kiểmsoát của người dạy và người học
Trang 10Tất cả những khó khăn đó là trở ngại không nhỏ khiến cho giáo viên Ngữvăn nói chung và bản thân người viết nói riêng chưa thành công thực sự trongnhiều bài giảng Nhưng những trở ngại đó, cũng chính là động lực thúc đẩy mỗingười cầm phấn cần cố gắng hơn nữa để chinh phục tri thức, vượt qua chínhmình, đem đến cho học sinh cảm hứng, tình yêu dành cho văn học Khi đã yêuthì sẽ tìm cách để hiểu, nghĩa là các em chủ động khám phá.
2.3 Cách đặt đề mục trong thi phẩm trữ tình “Bài thơ số 28”
2.3.1 Tính khoa học và tính nghệ thuật của đề mục
* Văn học cũng là một bộ môn khoa học nghiên cứu về thế giới tinh thần,cảm xúc, tư tưởng, tình cảm, tâm lí bên trong con người với tất cả sự bí ẩn, phứctạp Vậy phương pháp, cách thức tìm hiểu về nó cũng phải khoa học, phù hợp,chính xác Tính khoa học được thể hiện qua tri thức được truyền tải (nội dung),qua cấu trúc câu ở đề mục
Nhưng văn học trong đó có thơ trữ tình cũng là một loại hình nghệ thuậtvới những đặc thù riêng như cảm xúc- tình cảm, tư duy hình tượng, tính thẩm
mỹ trong câu từ, hình ảnh…
Riêng với thơ trữ tình, trước tiên giáo viên phải gợi mở để học sinh xác
định được nhân vật trữ tình- nhân vật trong thơ trữ tình trong tác phẩm sau khi
đã chỉ ra cảm xúc chủ đạo của thi phẩm.
Kết hợp cơ sở khoa học và nghệ thuật, chúng ta xác định được trong “Bài
thơ số 28” những “từ khóa” quan trọng được thống kê ở bảng dưới đây:
Cảm xúc chủ đạo Cảm nhận, suy nghĩ, quan niệm về tình
yêuNhân vật trữ tình- nhân vật trong
thơ trữ tình
“Anh” và “Em”
Hình ảnh biểu trưng Đôi mắt em và trái tim anh
Tính chất hình ảnh
- Đôi mắt – băn khoăn- buồn
- Trái tim- vô biên- trường cửu- ở gần
Trang 11* Khi đã tìm được từ khóa quan trọng, chúng ta phải phát hiện và chỉ ramối quan hệ giữa chúng cũng như mối quan hệ tồn tại bên trong, tức là tìm racác tiểu đề mục (ý nhỏ).
Mối quan hệ lớn Mối quan hệ nhỏ
Em và anh hay đôi mắt và trái tim
- Đời- trái tim
- Trái tim- tình yêu
- Tình yêu- anh
* Cuối cùng chúng ta có hệ thống đề mục tương đối hoàn chỉnh, mangtính khoa học và nghệ thuật, vừa thể hiện được đầy đủ các mối quan hệ, vừa tạonên sợi dây liên kết giữa các đề mục trong toàn bài, kích thích và khơi gợi sự tò
mò, hứng thú của học sinh
2.3.2 Đề mục khái quát và cụ thể
BÀI THƠ SỐ 28
Hoạt động của GV và HS Nội dung
- Nhà văn, nhà văn hóa lớn của Ấn Độ
- Sáng tác ở nhiều lĩnh vực và thể loại
Trang 12Sao anh tin lời nói
Mà không nhìn mắt em?
Qua hình ảnh đôi mắt và NT
so sánh, tác giả muốn thể
hiện điều gì?
Tại sao không phải là người
con trai băn khoăn?
Hiểu dược điều đó chứng tỏ
“anh”- NVTT là người ntn?
Anh đã làm gì để giải tỏa
nỗi băn khoăn?
Chỉ có thể giải thích bản
chất, ý nghĩa của nghịch lí
qua việc tìm hiểu bản chất
- Người châu Á đầu tiên nhận giải thưởng Nôben văn học
1.2 Tập thơ “Người làm vườn”
- Thi nhân là người hát ca, chăm sóc, vun xớicho vườn hoa cuộc đời
- Tiêu biểu cho giọng thơ trữ tình- triết lí; thểhiện tâm hồn Ấn Độ và tinh thần nhân loại
- Hình ảnh đôi mắt: băn khoăn, buồn, muốn
nhìn sâu và cách so sánh: trăng- biển
Khao khát tìm hiểu, khám phá về tìnhyêu, về người yêu của người con gái
- Nhân vật trữ tình là người tinh tế, biết quantâm, biết yêu; có khao khát được giãi bày, chia
sẻ “trần trụi”, “không giấu”.
Xảy ra nghịch lí “em không biết gì” Và
nghịch lí chính là vẻ đẹp và quy luật củatình yêu
2.2 … Đến trái tim anh (anh nhìn vào chính mình)