1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một vài kinh nghiệm vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để khai thác tính thời sự và giáo dục kỹ năng sống khi dạy học các tiết văn bản nhật dụng

24 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 311,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.1.9 Cách khai thác tính thời sự và tìm thông điệp của văn bản nhật dụng, cách vậ dụng vào cuộc sống… Trang 6 Trang 6Trang 6 3.2 Định hướng kỹ năng đọc hiểu văn bản nhật dụng Trang 7 ,8

Trang 1

3.1 Khái niệm văn bản và văn bản nhật dụng

3.1.1 Văn bản

3.1.2 Văn bản nhật dụng

3.1.3 Nội dung văn bản nhật dụng thường đề cập

3.1.4 Đề tài trong văn bản nhật dụng

3.1.5 Phong cách viết văn bản nhật dụng

3.1.6 Ngôn ngữ văn bản nhật dụng

3.1.7 Đặc trưng văn bản nhật dụng

3.1.8 Cách phân văn bản nhật dụng và văn bản nghệ

thuật và cách nhận diện

3.1.9 Cách khai thác tính thời sự và tìm thông điệp của

văn bản nhật dụng, cách vậ dụng vào cuộc sống…

Trang 6 Trang 6Trang 6

3.2 Định hướng kỹ năng đọc hiểu văn bản nhật dụng Trang 7 ,83.3 Hướng dẫn học sinh tìm hiếu cấu trúc văn bản Trang 9

3.4 Cách khai thác nội dung văn bản nhật dụng Trang 9 + 103.5 Cách khai thác tính thời sự và tìm tầng ý nghĩa để định

hướng, giáo dục kỹ năng sống cho người học

Trang 10

Trang 2

Sở Giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy.

Trong chương trình Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông, hướng dẫn đọc

- hiểu các tiết văn bản nhật dụng là phân môn khó bởi đặc trưng của những tiết họcnày là yêu cầu học sinh không chỉ nắm được nội dung kiến thức ở văn bản cũngnhư nét đặc sắc về nghệ thuật mà còn phải khai thác được tính thời sự, tìm đượctầng ý nghĩa ẩn sâu trong văn bản rồi vận dụng kiến thức ở phần đọc hiểu văn bảnvào cuộc sống, tạo vốn sống, kĩ năng sống cho người học Ngoài ra còn để làm tốtphần bài văn, đoạn văn(200 chữ) nghị luận xã hội, chuẩn bị tốt cho kỳ thi THPTQuốc Gia

Hoạt động dạy và học một tiết đọc - văn chính là người thầy hướng dẫn cho trò

“ học phương pháp học”, tự tìm hiểu chiếm lĩnh tri thức trong các văn

bản nhà trường và tri thức xã hội loài người.Từ đó nâng cao hiểu quả giáo

dục nhằm đáp ứng yêu cầu nền giáo dục của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung Qua đó có thể đào tạo những con người có đủ đức, đủ tài để xây dựng

và phát triển xã hội Việc chọn các bài học văn bản nhật dungjtrong chươngtrình trung học phổ thông là một bước đột phá của nguyên tắc giảng dạy Ngữvăn gắn với đời sống, là điều kiện cần và thiết thực thực hiện mục tiêu giáo dụcphổ thông.Văn bản nhật dụng giúp học sinh hiểu biết, tiếp cận, cập nhật nhữngthông tin, hoà nhập cuộc sống nhanh chóng, chủ động, tự tin, vào đời sống xãhội hiện đại Điều đó chứng tỏ rằng đưa văn bản nhật dụng vào dạy, học trongchương trình phổ thông là rất cần thiết và cần được chú trọng Học sinh hiện nay

ít có những hiểu biết có căn cứ, sâu sắc về những vấn đề xã hội Hơn thế, vốnhiểu biết về lịc sử đạo lý làm người lại càng mờ nhạt, kỹ năng ứng xử cho hợpchuẩn nét văn hóa người Việt lại đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội Bêncạnh đó, các em thường ít quan tâm đến những vấn đề có tính thời sự, đặc biệt làcác vấn đề văn hóa, giáo dục, chính trị, đạo đức…Vì thế học sinh thường không

có hứng thú học văn, thấy khô khan khi học các tiết văn bản nhật dụng

Xuất phát từ tình hình thực tế đó, và căn cứ vào sự đổi mới phương pháp

dạy học của hệ thống giáo dục hiện nay có đề cập đến tính thời sự trong văn

bản văn học để hình thành kỹ năng sống cho học sinh – nhất là thế hệ trẻ đầu thế

kỷ XXI , thời đại công nghệ thông tin 4.0 bùng nổ tôi đã có một vài kinh nghiệmtrong tiết đọc hiểu văn bản nhật dụng: khai thác tính thời sự trong văn bản nhậtdụng giúp học sinh có hứng thú hơn trong giờ học, hướng học sinh đến việc hiểuvấn đề xã hội trong nước và quốc tế về mọi mặt, hình thành ở học sinh cách

Trang 3

nhìn, cách đánh giá đa chiều, đa phương diện Từ đó, giúp học sinh hình thànhnhân cách và sống có trách nhiệm với bản thân, xã hội hơn.

2 MỤC ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI:

Trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp trong việc dạy học giờ dạy Ngữ

văn ở cấp Trung học phổ thông Đặc biệt là đọc hiểu các văn bản nhật dụng có

tính thời sự và tiềm ẩn tầng ý nghĩa nhân văn từ việc tiếp cận, đọc hiểu có thể vận dụng giáo dục kỹ năng sống cho người học Giúp giờ văn bớt nhàm chán,

gây hứng thú cho học sinh; giúp các em có thêm vốn sống góp phần vào tiếntrình đổi mới phương pháp dạy học giờ Ngữ văn

Đọc - hiểu một tác phẩm văn học theo thể loại thông thường (Truyện, thơ )đã làkhó đối với học sinh Trung học phổ thông bởi có đặc thù riêng: học sinh tiếp cậnkiến thức bằng con đường “ Học trong sách vở” biết và cảm nhận cuộc sống từ tácphẩm văn học Việc đọc hiểu một văn bản nhật dụng lại càng khó hơn Là giáo viên

trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 11, 12, tôi đã thực nghiệm đề tài: “Một

vài kinh nghiệm vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để khai thác tính thời sự và giáo dục kỹ năng sống khi dạy học các tiết văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THPT - lớp 11 và lớp 12”.

2.1 Ý nghĩa lý luận:

Vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để khai thác tính thời sự

và truyền tải ý nghĩa giáo dục khi dạy học các tiết văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn cho học sinh Trung học Phổ thông là một bước hiện thực

hóa quan điểm đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đổi mới chương trình sáchgiáo khoa, đổi mới phương pháp học tập theo tính tự chủ, lấy học sinh là trung tâm,thầy là người thiết kế, trò là người thi công, Đồng thời đảm bảo mục tiêu chung

của giáo dục “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện”.Biết nhận thức,

biết trình bày quan điểm, đánh giá về vấn đề đời sống, tư tưởng, đạo lý xã hội đúngqui trình, đúng phương pháp

2.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Với đối tượng học sinh Trung học phổ thông hiện nay, kiến thức trong các emphần lớn từ sách vở, từ các tác phẩm văn học Kiến thức về cuộc sống rút ra từ thựctiễn, từ đọc hiểu các văn bản nhật dụng phần đa rất hạn chế, kỹ năng khai thác tínhthời sự , thẩm thấu tầng ý nghĩa rồi tích cóp, tạo “vốn” để ứng dụng vào cuộc sống,

làm bài văn nghị luận xã hội lại càng yếu hơn Nên “kinh nghiệm vận dụng

phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để khai thác tính thời sự và truyền tải ý nghĩa giáo dục khi dạy học các tiết văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THPT” cho các em là rất cần thiết, từ đó giúp các em nâng cao khả

năng đọc hiểu văn bản, kỹ năng sống, hiểu biết, trình bày vấn đề hiểu biết , về đời

sống xã hội, hiểu người, hiểu mình, tự tin bước vào cuộc sống Mặt khác, khai thác

tính thời sự và truyền tải ý nghĩa giáo dục khi dạy học các tiết văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THPT sẽ bổ trợ kiến thức làm bài văn nghị

luận xã hội mang tính thiết thực giúp học sinh chuẩn bị tốt cho kì thi Trung họcphổ thông Quốc gia và dự điểm xét tuyển và các trường Đại học , Cao đẳngthuộc khối C, D (Bởi trong đề thi môn Ngữ văn, phần viết đoạn văn nghị luận xã

hội chiếm 2/10 điểm toàn bài) Vậy khai thác tính thời sự và giáo dục kỹ năng

Trang 4

sống khi dạy học các tiết văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn cho

học sinh Trung học Phổ thông có ý nghĩa thiết thực nâng cao chất lượng giảngdạy phân môn đọc hiểu văn bản, nâng kỹ năng sống cho con người, góp phầnđào tạo đội ngũ cán bộ phát triển toàn diện cho quê hương và đất nước trongtương lai

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Học sinh cấp THPT và đặc biệt đối với học sinh lớp 12, 11, học sinh chuẩn

bị cho kỳ thi học kỳ, thi THPT Quốc gia

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Làm đề tài này, tôi đã vận dụng nhiều phương pháp Dưới đây là nhữngphương pháp chủ yếu:

*Phương pháp tích hợp kiến thức

*Phương pháp bổ trợ kiến thức

* Phương pháp học tập, rút kinh nghiệm qua giờ dạy của đồng nghiệp

*Phương pháp thực nghiệm qua tiết dạy - học chính khóa

*Phương pháp so sánh

5 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

Kinh nghiệm này rút ra từ thực tế giảng dạy, từ vận dụng các kỹ thuật dạyhọc tích cực, những lần dạy tiết đọc văn tìm tòi, sáng tạo, rút kinh nghiệm tạonên những điểm mới

Kinh nghiệm vận dụng các phương án vào các giờ học chính khóa để học sinh

có hứng thú, tạo tâm thế cho bài học từ đó xây dựng tính tự học, tự tích lũy, tựtìm ra bài học để hoàn thiện nhân cách

Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh tự học, tự tích lũy, bổ trợ, tự thẩm địnhnhững kiến thức về văn học

Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh chủ động tổ chức giờ học trên tinh thần cóhướng dẫn

PHẦN NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được thể hiệntrong Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khóa X

về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông: “Xây dựng một nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới” Văn bản đồng thời yêu cầu: “Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt về mục tiêu, yêu cầu về nội dung phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong giáo dục, khắc phục những mặt hạn chế của chương trình, sách giáo khoa, tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học, coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, bổ sung những thành tựu khoa học

và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh ”.

Cùng với việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là đổi mới sáchgiáo khoa phổ thông phù hợp với mục tiêu giáo dục quy định trong luật giáo

dục Sách giáo khoa Ngữ văn THPT đã quan tâm đúng mức đến việc “dạy chữ”

Trang 5

và “dạy người” nên dành thời lượng đáng kể cho các tiết văn bản nhật

dụng.Việc đổi mới chương trình sách giáo khoa đã đặt trọng tâm vào việc đổimới phương pháp dạy học Đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác địnhtrong Nghị quyết trung ương 4 khóa VII (Tháng 01 năm 1993), Nghị quyếtTrung ương 2 khóa VIII (Tháng 12 năm 1996) được thể chế hóa trong luật giáodục (2005) được cụ thể hóa các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đặc biệt là

chỉ thị số 14 (Tháng 4 năm 2018) Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng cấp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”.

Quán triệt thực hiện nghị quyết 37/2004/ QH11 ngày 03 tháng 12 năm

2004 của Quốc hội về giáo dục “Tiếp tục cải tiến công tác thi cử theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả, thiết thực” Ngành giáo dục và đào tạo chủ trương: Nâng cao chất lượng thi cử, kiểm tra đánh giá để đảm bảo đây là khâu quan trọng tác động tích cực mạnh mẽ trong quá trình dạy và học, phải đồng thời vừa đổi mới kiểm tra đánh giá thường xuyên, định kì ở các bậc học, vừa đổi mới kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông, thi tuyển sinh và Đại học, Cao đẳng

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo quyết định số

16/2006/QĐ – BGD&ĐT xác định rõ:“Môn Ngữ văn ở cấp Trung học phổ thông nhằm giúp học sinh: Có những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại hệ thống về văn học và Tiếng Việt Hình thành và phát triển các năng lực ngữ văn với yêu cầu cao hơn cấp THCS bao gồm: Năng lực sử dụng Tiếng Việt (thể hiện bốn kĩ năng cơ bản: đọc, viết, nghe, nói), năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ, thẩm mĩ, năng lực tự học, năng lực thực hành ứng dụng, năng lực bàn luận, đánh giá, biện luận, ”

2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:

Xuất phát từ thực trạng dạy - học các văn bản nhật dụng trong chương trình Trung học phổ thông: khi đọc - hiểu văn bản nhật dụng chỉ chú trọng nắm bắt nội dung, đặc điểm nghệ thuật, hoặc hình thức của văn bản mà

chưa quan tâm đến tính thời sự, ý nghĩa giáo dục của văn bản mà tác giả muốntruyền tải

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy trong nhiều năm qua đã được thựchiện đối với môn Ngữ Văn nói riêng và các môn học khác nói chung trongchương trình THPT Nhiều phương pháp tiên tiến, nhiều kĩ thuật dạy học tíchcực hiện đại, đã được tiến hành Giáo viên còn gặp nhiều bỡ ngỡ lúng túng khidạy đọc-hiểu văn bản nhật dụng Kiểu bài này hoàn toàn mới đối với giáo viên

và học sinh Tuy nhiên kết quả giảng dạy trong trường THPT còn ở mức độthấp Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó đòi hỏi phải có những sáng tạo khi thiết kếbài dạy sao cho phù hợp với đối tượng học sinh nhằm làm sáng tỏ các phươngdiện khác nhau của dạng văn bản này từ khái niệm đến các đặc điểm về nộidung và hình thức cũng như khai thác tính thời sự, ý nghĩa của văn bản lúcđương thời và hiện nay

Khi dạy -học các tiết về loại Văn bản nhật dụng theo phương pháp truyền thống,thông thường gặp những vướng mắc như sau:

Trang 6

2.1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung theo bố cục văn bản mà không khai thác được tính thời sự là cốt lõi, mục tiêu của người viết loại văn bản nhật dụng muốn hướng tới, mong đạt được.

Ví dụ : khi đọc - hiểu văn bản: Về luân lý xã hội ở nước ta

( Trích Đạo đức và luân lý đông tây-Phan Châu Trinh)

Dựa theo Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ văn lớp 11- BộGiáo dục và Đào tạo ban hành tháng 01 năm 2010 giáo viên soạn bài giảng thì chỉchuyển tải được các vấn đề:(Tóm tắt nội dung bài dạy như sau:)

Đoạn 1: Hiện trạng của vấn đề- luân lý xã hội của nước ta

Đoạn 2:Những biểu hiện cụ thể

Đoạn 3:Nêu giải pháp:

2 Nghệ thuật:

- Nghệ thuật viểt văn chính luận

2.2 Những điểm chưa làm được:

Học sinh chưa học được ở bài luận những thông tin có tính thời sự của văn bản mà chỉ:

- Học sinh chủ yếu hiểu nội dung văn bản viết gì, bàn về vấn đề gì? Hiểu xuôichiều vấn đề văn bản

- Học sinh thường sa vào liệt kê luận điểm của văn bản nhật dụng

2.3 Học sinh chưa biết bóc tách vấn đề , tích hợp kiến thức để tìm ra những giá trị mà ngôn ngữ văn bản tiềm ẩn.

Tổng hợp kết quả kiểm chứng bằng bài viết 10 phút sau mỗi tiết dạy - học văn

bản nhật dụng bằng câu hỏi đối với các lớp không thẩm định như sau:

? Theo em tính thời sự có ở văn bản nhật dụng này là gì? Biểu hiện rõ nét ở luận điểm nào?Giá tri ( ý nghĩa) của văn bản với đương thời và hiện nay?

+ Lớp 11( Tiết PPCT:103,104 -Về luân lý xã hội ở nước ta)

+ Lớp 12( Tiết PPCT:15 -Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 01/12/2003) như sau:

Trang 7

Từ cơ sở lý luận và thực trạng này của học sinh tôi đã vạch kế hoạch thực nghiệm :

vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để khai thác tính thời sự

và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khi dạy học các tiết văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THPT và có hiệu quả.

3 GIẢI PHÁP VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Để thực hiện được đề tài, yếu tố đầu tiên mà tôi quan tâm đó là đối tượnghọc sinh trung học phổ thông Học sinh vùng nông thôn, miền trung du, kinh tế

xã hội còn khó khăn, năng lực cảm thụ văn học còn nhiều hạn chế Tâm lýchung của các em là lười suy nghĩ, ít hiểu biết các vấn đề xã hội Chưa có ý thứclần mò, đam mê tìm hiểu nội dung nghĩa của một câu tục ngữ, câu châm ngôn.Chính vì vậy các em rất thiếu hiểu biết sâu về các vấn đề cuộc sống lại nhútnhát, ngại bày tỏ những nhận xét đánh giá trước mọi người Muốn học sinh họctốt các tiết học loại văn bản nhật dụng đòi hỏi học sinh phải nắm được kháiniệm, đặc điểm chung của loại văn bản, từ đó học sinh mới biết cách khai thác,khám phá và vận dụng vào cuộc sống hoặc cao hơn là sau đó các em có thể tựtạo (viết) văn bản nhật dụng Nên giải pháp đầu tiên là tôi hướng dẫn các emphải thực hiện yêu cầu sau một cách nghiêm ngặt:

3.1.Thứ nhất, hướng dẫn học sinh nhớ lại lý thuyết, nắm được khái niệm ngay

từ khâu hướng dẫn chuẩn bị bài: Văn bản và văn bản nhật dụng:

3.1.1 Văn bản:

Theo từ điển Tiếng Việt văn bản được hiểu: “Văn bản là chuỗi kí hiệungôn ngữ hay nói chung những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó, làm thànhmột chỉnh thể mang ý nghĩa trọn vẹn.”[10; 1136]

Như vậy đặc trưng đáng chú ý của văn bản đó chính là tính hoàn chỉnh vềhình thức và trọn vẹn về nội dung

Trang 8

3.1.2 Văn bản nhật dụng:

“Nhật dụng có nghĩa là gì?” Theo từ điển tiếng Việt “nhật dụng” có nghĩa

là “dùng đến hàng ngày” Trong các tài liệu ở nước hiện nay chưa chính thứcđưa ra khái niệm về văn bản nhật dụng Khái niệm về văn bản nhật dụng khôngphải khái niệm thuộc về thể loại, cũng không chỉ kiểu văn bản Văn bản nhậtdụng chỉ đề cập đến chức năng, đề tài cũng như tính cập nhật của nội dung vănbản

3.1.3 Nội dung được đề cập tới trong văn bản nhật dụng là những đề tài gần gũi

với cuộc sống,vì vậy nó có tính thời sự, hàm chứa giá trị văn học và mang ýnghĩa nhân loại Những đề tài thường thấy trong văn bản nhât dụng: văn hóa, ditích lịch sử, danh lam thắng cảnh , thiên nhiên và con người, vai trò của phụ nữ,quyền trẻ em, dân số, bài trừ tệ nạn ma túy, viết về các danh nhân thế giới vàViệt Nam, về vấn đề quyền sống của con người, bảo vệ hòa bình, chống chiếntranh Nội dung trong văn bản nhật dụng được người viết trình bày dưới nhiềuhình thức như: nhận xét, lý giải, đánh giá những quy luật của tự nhiên và conngười

3.1.4 Đề tài trong văn bản nhật dụng rất phong phú, nó bao hàm mọi mặt của

đời sống

3.1.5 Phong cách văn bản nhật dụng thuộc mọi phong cách của ngôn ngữ.

Trong một văn bản nhật dụng có thể sử dụng một phong cách hoặc có sự kết hợpnhiều phong cách khác nhau

3.1.6 Ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản nhật dụng là ngôn ngữ tường minh.

Nội dung của văn bản nhật dụng thường mang tính đơn nghĩa Tính đơn nghĩathể hiện ở mặt từ vựng và cú pháp khi diễn đạt nội dung và đích của văn bản

3.1.7 Đặc trưng chung của văn bản nhật dụng: hoàn chỉnh về hình thức và trọn

vẹn về nội dung, tính liên kết chặt chẽ đều nhằm hướng tới một mục đích thôngtin nhất định và đều dùng ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt

3.1.8 Cách phân biệt và nhận dạng văn bản nhật dụng và văn bản nghệ

thuật:

Có nhiều văn bản nhật dụng sử dụng các biện pháp nghệ thuật Vậy muốn phân biệt sự khác nhau giữa văn bản nhật dụng với văn bản nghệ thuật chúng ta dựa

vào đâu? Đó là sự khác nhau về đích sử dụng: Nếu như trong văn bản nghệ

thuật biện pháp nghệ thuật này chính là đích của văn bản thì trong văn bản nhật

dụng các biện pháp nghệ thuật lại không phải là đích của văn bản Đích của văn

bản nhật dụng chính là thông tin đựợc truyền đạt trong văn bản hay còn gọi là tính thời sự và thông điệp cuộc sống từ văn bản.

Văn bản nhật dụng trước hết là một phần của văn bản văn học Tuy nhiên

nó có những điểm khác nhau cơ bản Trong văn bản văn học nội dung được mãhóa bằng kí hiệu thông thường, đồng thời nội dung đó còn được mã hóa bằngchính nội dung của các kí hiệu mang lại còn có một thông tin khác đứng sau cácdòng chữ có tính chất xuyên suốt toàn bộ văn bản Nội dung trong văn bản nhậtdụng thường mang tính đơn nghĩa và tường minh

Tóm lại: việc chỉ ra những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa văn bản và vănbản nhật dụng sẽ là cơ sở quan trọng để tìm ra hướng dạy học văn bản nhật dụng vàkhai thác tính thời sự, ý nghĩa, giá trị của văn bản

Trang 9

3.1.9 Tính thời sự trong văn bản nhật dụng là tính cập nhật kịp thời, đáp ứng

yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống hằng ngày, cuộc sống hiện đại gắn với nhữngvấn đề cơ bản của cộng đồng xã hội

3.2 Thứ hai, định hướng kĩ năng đọc – hiểu văn văn bản nhật dụng:

Như chúng ta vừa tìm hiểu ở phần trên đọc – hiểu văn bản nhật dụng tức

là giải quyết các vấn đề tương quan trong cấu trúc văn bản Văn bản nhật dụngmang đầy đủ đặc trưng của văn bản nói chung ở các phương diện: cấu trúc, nộidung và ý nghĩa vì vậy hoạt động đọc hiểu nên tuân theo quy trình đọc hiểu vănbản nói chung Đọc - hiểu văn bản nhật dụng cũng phải quan tâm khám phá cấutrúc văn bản, nội dung văn bản, ý nghĩa văn bản

Dựa vào đặc trưng riêng của văn bản nhật dụng khi dạy học sinh tiêp cậnvăn bản nhật dụng phải phù hợp với đặc trưng riêng của văn bản này, trước tiênphải chú trọng đến yêu cầu đọc hiểu cấu trúc của văn bản

Như vậy mục đích của một bài dạy văn bản nhật dụng là giúp học sinh đọc

và hiểu văn bản đó Có nghĩa là giúp học sinh nắm bắt thông tin và hiểu thông tincủa văn bản Từ đó tác động đến các em về mặt nhận thức, tình cảm, ý thức, bổtrợ kiến thức về ngôn ngữ, đời sống Qua đó giúp các em hiểu được quy trìnhcũng như nguyên tắc tạo lập văn bản, có kỹ năng tạo lập một văn bản nhật dụng.Văn bản đó phải có mục đích cụ thể , sử dụng phương tiện ngôn ngữ phù hợp vớinội dung, đối tượng để tạo nên khả năng tác động trực tiếp đến người đọc, ngườinghe Văn bản đó tuân thủ những nguyên tắc tạo lập văn bản nói chung, trong đóchú ý đến phong cách chức năng của ngôn ngữ

Ví dụ: Khi đọc - hiểu văn bản: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003

Đối với mọi văn bản văn học việc nắm bắt thông tin, sự kiện của văn bảnchính là tìm hiểu thông tin thẩm mĩ, thông tin về những vấn đề có thật trongcuộc sống Mục đích của văn bản nhật dụng nhằm cung cấp nội dung thông tin

sự kiện.Từ những nội dung đó, hướng người tiếp nhận vào hoạt động thực tiễn.Nhưng đối với một văn bản nhật dụng trong chương trình Trung học phổ thôngngoài việc thực hiện nhiệm vụ dạy- học tìm hiểu mục đích viết văn bản cònphải khai thác tính thời sự, ý nghĩa giáo dục của văn bản Ngoài việc cung cấptri thức và rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh còn phải rèn luyện kĩ năng tạo lập

văn bản cho học sinh Ví dụ sau khi dạy bài: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống HIV-AIDS, 1-12-2003 ngoài việc hướng dẫn học sinh nắm được

những nội dung mà văn bản đã cung cấp giáo viên cần rèn luyện kĩ năng khaithác tính thời sự, tạo lập văn bản cho học sinh qua đề kiểm tra Ví dụ như: “Anh(chị) hãy thử viết một bản thông điệp trong khuôn khổ 500 chữ về một vấn đề

mà mình cho là nóng bỏng hiện nay ở quê hương mình ?”

Vấn đề đặt ra ở đây là rèn luyện kĩ năng khai thác tính thời sự, tạo lập vănbản cho học sinh được thực hiện như thế nào trong giờ học? Kĩ năng này phảiđược thực hiện trong cả quá trình đọc hiểu văn bản, tóm tắt lại nội dung của vănbản cũng chính là một cách rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản cho học sinh.Đồng thời kĩ năng này củng được củng cố rèn luyện sau mỗi bài học thông quaviệc giáo viên yêu cầu học sinh của mình chuẩn bị tư liệu viết một văn bản theovăn phong của văn bản nhât dụng, văn bản đó phải có sự đầu tư, sáng tạo, có sức

Trang 10

thuyết phục Từ đó phát huy được tính chủ động sáng tạo trong quá trình tiếp thucủa học sinh Gắn liền quá trình học tập với thực tiễn đời sống, tạo hứng thú chohọc sinh đối với môn học, đồng thời nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dụctrong thời đại mới Học sinh không chỉ tiếp thu thụ động mà biết vận dụng linhhoạt kiến thức học được vào thực tiễn đời sống.

Tóm lại đọc hiểu văn bản nhật dụng chính là quá trình phân tích văn bản

để chiếm lĩnh tri thức đồng thời qua đó rèn luyện tư duy khoa học : phân tích,tổng hợp,…đạt được nhiệm vụ của quá trình nhận thức

3.3 Thứ ba, hướng dẫn học sinh đọc-hiểu cấu trúc của văn bản nhật dụng:

Văn bản nhật dụng mang đặc trưng chung của văn bản: hoàn chỉnh vềhình thức, trọn vẹn về nội dung Để đảm bảo được những yêu cầu đó văn bảnnhật dụng phải có bố cục rõ ràng Để tìm ra nội dung ý nghĩa của văn bản nộidung ý nghĩa của văn bản nhật dụng giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm racấu trúc của văn bản dựa trên bố cục, nội dung của văn bản

Bố cục của văn bản đó được chia thành mấy phần, mấy đoạn, nội dung chínhcủa từng đoạn, trọng tâm của văn bản được thể hiện trong nội dung nào, lời vănđược tác giả sử dụng Trên cơ sở đó bước đầu tìm hiểu cấu trúc và nội dung vănbản, người đọc bắt đầu tìm hiểu nội dung văn bản theo bố cục đã xác định Ngườiđọc tìm ra những thủ pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong đó, tác dụng của

nó trong việc thể hiện nội dung văn bản

Mỗi văn bản có sự phân chia bố cục khác nhau : văn bản có thể được phânchia theo không gian, thời gian, tuyến nhân vật, sự kiện… Đối với văn bản kívăn bản thường được phân chia theo dòng cảm xúc của nhân vật chính trong tácphẩm

Ví dụ: * Văn bản: Thông điệp ngày thế giới phòng chống HIV-AIDS, 1-12-2003 Có bố cục rất rõ ràng: theo trật tự thời gian:

+ Đặt vấn đề: Các quốc gia nhất trí thông qua: “Tuyên bố về Cam kếtphòng chống HIV/AIDS”

+ Thực trạng vấn đề:(1) Các nguồn lực được tăng lên phục vụ cho phòngchống HIV/AIDS; (2) Đại dịch HIV/AIDS vẫn đang hoành hành dữ dội trêntoàn cầu; (3) Những mục tiêu đặt ra trong “Tuyên bố về Cam kết phòng chốngHIV/AIDS” không được hoàn thành

+ Nhiệm vụ cấp bách đặt ra: (1) Đặt vấn đề AIDS lên hàng đầu trongchương trình nghị sự và hành động;(2) Đánh đổ thành lũy của sự im lặng, côngkhai lên tiếng về HIV/AIDS; (3) Xóa bỏ sự kì thị và phân biệt đối xử

+ Kết luận: Cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chúng ta

3.4 Thứ tư, hướng dẫn và tổ chức học sinh đọc-hiểu nội dung văn bản:

Đối với văn bản nghệ thuật việc đọc hiểu văn bản phải đi từ những hướngkhác nhau: theo bố cục văn bản, theo tuyến nhân vật, tư tưởng, không gian nghệ

thuật, theo dòng tâm trạng xúc cảm tác giả … Đối với văn bản nhật dụng trong

chương trình Ngữ Văn THPT thường có cấu trúc rõ ràng, nội dung mạch lạc thìviệc đọc hiểu nội dung nên bám sát cấu trúc của văn bản Bắt đầu tìm hiểu nộidung của văn bản theo từng phần, từng đoạn của văn bán sau đó tổng hợp vàkhái quát nội dung trên toàn văn bản Từ việc tìm hiểu nội dung để khám phá tưtưởng, tình cảm của tác giả gửi gắm qua tác phẩm.Trong quá trình đọc hiểu văn

Trang 11

bản cũng cần tìm hiểu phương thức diễn đạt được sử dụng trong toàn văn bản:các biện pháp, cách thức sử dụng ngôn ngữ và lời văn của tác giả trong việcbiểu đạt nội dung.

Trong suốt quá trình tìm hiểu nội dung từng phần, từng đoạn của văn bản,người đọc cũng tìm ra những phương thức nghệ thuật được dùng trong văn bản:những biện pháp tu từ, cách thức sử dụng ngôn ngữ, lời văn của tác giả trongviệc biểu đạt nội dung

Giáo viên đưa câu hỏi để học sinh tìm hiểu nội dung? nghệ thuật? tínhthời sự? của văn bản theo một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực saocho linh hoạt, hiệu quả đối với từng bài?

* Yêu cầu chung của việc đặt câu hỏi: đảm bảo được sáu yêu cầu cơ bản sau:

Một là câu hỏi phải đạt được mục đích kích thích sự cảm thụ của người đọc

với tác phẩm

Hai là câu hỏi phải xác định được cảm xúc và rung động thẩm mĩ có tính chất

trực giác của người đọc

Ba là việc đưa ra câu hỏi phải xác định được bức tranh nghệ thuật toàn cảnh

có diện và có điểm để giờ học văn có trọng tâm, những điểm sáng thẩm mĩ phảiđược khai thác sâu sắc hơn, khắc phục được giờ văn bàng bạc nhạt nhẽo

Bốn là câu hỏi phải xác định sự hiểu biết của người đọc từ mức độ từ dễ đến

khó

Năm là câu hỏi phải giúp người đọc phát hiện hết chi tiết nghệ thuật có giá trị

và toàn bộ cấu trúc tác phẩm

Sáu là mã hóa lượng thông tin một cách đơn giản phù hợp sát thực tế thể loại,

nội dung thể loại, nội dung cụ thể và tâm lý lứa tuổi

Tóm lại đây là sáu nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng hệ thống câuhỏi trong dạy học văn bản nhật dụng

3.5 Thứ năm, hướng dẫn cách khai thác tính thời sự, tầng ý nghĩa văn bản

và giáo dục kỹ năng sống cho người học:

Ý nghĩa của văn bản nhật dụng thực chất là công việc thâu tóm nội dungvăn bản, cảm nhận những điều mà tác giả gửi gắm trong văn bản, hiểu được giátrị văn bản đối với thời đại đương thời, mọi thời đại và bản thân Đây là phầngiành nhiều thời gian cho học và tự bộc lộ suy nghĩ của bản thân về những gìvừa tiếp thu được từ đó thâu tóm và ghi nhớ nội dung văn bản

Nội dung văn bản đề cập luôn là những vấn đề mang tính chất thời sự và

có ý nghĩa cho tương lai Ở đây luôn nhấn mạnh ý nghĩa đích thực của văn bảnnhật dụng trong việc phát triển xã hội trong cả hiện tại và tương lai Vì vậy từ ýnghĩa văn bản người đọc sẽ hiểu hơn về những vấn đề cấp thiết trong xã hội vàrút ra những bài học bổ ích cho chính bản thân mình

Để thực hiện được hành động này người đọc phải huy động toàn bộ kiếnthức, vốn văn hóa, kinh nghiệm sống, năng lực tư duy của bản thân để đánh giávăn bản Bởi trên thực tế cho thấy văn bản thường có nội dung phong phú,những nội dung trong văn bản có thể đúng hoặc có thể sai với hiện thực Vì vậykhông phải lúc nào cũng thừa nhận trong tiếp nhận đích văn bản như một cái gì

đã có sẵn giúp ta hành động

Trang 12

Trên cơ sở lý thuyết tiếp cận văn bản nhật dụng bản sáng kiến kinhnghiệm đưa ra năm bước: nhận diện ngôn ngữ, sau đó làm rõ nội dung và ýnghĩa văn bản Ba bước này có quan hệ biện chứng lẫn nhau Xét theo chứcnăng một bước tạo ra phương tiện để người đọc tiếp nhận văn bản ở dạng ngônngữ làm rõ ý của người viết Hai bước tiếp theo thực hiện đọc hiểu người đọc cóđiều kiện rèn luyện, bồi dưỡng tính chủ động sáng tạo trong tư duy trong quátrình đánh giá hồi đáp nội dung và đích tác động của văn bản Để cụ thể hóa,

kinh nghiệm vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để khai thác tính thời sự và giáo dục kỹ năng sống khi dạy học các tiết văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THPT” tôi thiết kế một giáo án dạy thực nghiệm

theo tinh thần tự chọn:

3.6* * Giáo án thực nghiệm :

(Tự chọn tiết103 - Ngữ văn 11 - chương trình chuẩn)

VỀ LUÂN LÝ XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

( Trích Đạo đức và luân lý Đông Tây- Phan Châu Trinh)

A MỤC TIÊU BÀI HỌC: Giúp học sinh:

1 Về kiến thức:

- Vạch trần thực trạng đen tối của xã hội đương thời, đề cao tư tưởng đoàn thể vì

sự tiến bộ, hướng vef một ngày mai tươi sáng của đất nước

- Phong cách chính luận độc đáo : lúc từ tốn mềm mỏng, lúc kiên quyết đanhthép, lúc mạnh mẽ, lúc nhẹ nhàng

2 Về kỹ năng:

- Đọc - hiểu văn bản chính luận.

- Rèn kỹ năng viết đoạn văn, bài văn nghị luận cho học sinh lớp 11

3 Thái độ: Thái độ chân trọng cái tâm, cái tài của nhà văn, nhận thức về tính

thời sự và giá trị, ý nghĩa của bài luận với đương thời và hiện nay

B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN:

- Giáo viên: Thiết kế bài giảng bằng giáo án điện tử, sách giáo khoa, máy tính,

Đối với GV: Văn bản nhật dụng mới được đưa vào chương trình học phổ

thông Văn bản nhật dụng không phải là khái niệm thể loại, không chỉ kiểu văn

bản mà chỉ đề cập đến chức năng, đề tài và tính cập nhật ( tính thời sự)của

nội dung văn bản mà thôi Đề tài của văn bản nhật dụng thường đề cập đến

những lĩnh vực: thiên nhiên, môi trường, văn hóa, giáo dục, chính trị, xã hội,đạo đức, nếp sống…Văn bản nhật dụng vừa có tính cập nhật, vừa có tính lâu dài,

tính thời sự.

Bài mới:

Hoạt động của Nội dung kiến thức cần đạt

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w