1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một vài kinh nghiệm rèn kỹ năng làm kiểu bài so sánh văn học cho học sinh lớp 12 trung học phổ thông

17 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 41,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông, nghị luận văn học luôn là phần quan trọng và khó bởi dạng bài nghị luận văn học yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức tổng

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT LÊ LỢI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT VÀI KINH NGHIỆM RÈN KỸ NĂNG LÀM KIỂU BÀI SO SÁNH VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG

Người thực hiện: Nguyễn Tú Ngọc Hà Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THPT Lê Lợi SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn

THANH HOÁ, NĂM 2018

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông, nghị luận văn học luôn là phần quan trọng và khó bởi dạng bài nghị luận văn học yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức tổng hợp để tạo lập văn bản nghị luận, đặc biệt là dạng bài:

so sánh văn học đối với học sinh hiện nay đang còn là một vấn đề nan giải Ngày 01/4/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã gửi Công văn

số 1656/BGDĐT-KTKĐCLGD về việc hướng dẫn tổ chức thi tốt nghiệp Trung

học phổ thông (THPT) năm 2014, trong đó có nội dung: đề thi môn ngữ văn

có hai phần: Đọc hiểu và làm văn trong đó tỷ lệ điểm của phần nghị luận văn học chiếm 50% tổng số điểm bài thi Cũng từ năm đó dạng câu hỏi nghị

luận văn học đưa vào đề thi bắt đầu có sự thay đổi chuyển từ nghị luận về một tác phẩm văn học sang dạng nghị luận so sánh văn học( từ hai đoạn trích, hai tác phẩm văn học trở lên)

Trang 3

Đặc biệt tại đề thi minh họa của Bộ giáo dục chuẩn bị cho kỳ thi THPT Quốc gia năm học 2017- 2018, phần nghị luận văn học đã được ra dưới dạng câu hỏi liên hệ, so sánh Đây là xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá sự ghi nhớ những kiến thức của học sinh chuyển sang kiểm tra đánh giá năng lực Như vậy dạng đề nghị luận liên hệ, so sánh đang thay thế cho dạng câu hỏi tái hiện kiến thức Có thể nói đây là sự đổi mới tích cực trong cách

ra đề Ngữ văn theo định hướng mới Nếu dạng câu hỏi tái hiện kiến thức chỉ

có thể kiểm tra học sinh ở mức nhận biết, thông hiểu, có biết, hiểu, nắm

được những kiến thức văn học đã được dạy trong chương trình hay không thì

dạng câu hỏi nghị luận so sánh văn học đã nâng cao hơn một mức vận dung thấp, vận dụng sáng tạo, kiểm tra, phát triển được năng lực so sánh, liên hệ

các tác phẩm văn học, các chi tiết hoặc tư tưởng của một tác phẩm Có thể thấy, bên cạnh việc ôn tập, rèn kỹ năng viết phần tự luận thì việc ôn tập và rèn kỹ năng làm dạng bài nghị luận so sánh văn học là điều cần thiết phải trang bị cho học sinh

Kiểu bài nghị luận so sánh văn học là một dạng khá mới mẻ được

đưa vào đề thi THPT Quốc gia nên chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông Dạng này cũng không có nhiều tài liệu, bài viết chuyên sâu để tham khảo Chính vì thế mà không ít giáo viên ôn thi THPT Quốc gia tỏ ra lúng túng khi hướng dẫn học sinh làm bài Điều đó cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng, kết quả bài thi của học sinh

Nghị luận so sánh văn học là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề thi THPT Quốc gia Phần này chiếm phần lớn số điểm toàn bài vì vậy có vị trí rất quan trong bởi nó quyết định điểm cao hay thấp trong một bài thi Nếu học sinh làm sai hết phần này thì chắc chắn điểm toàn bài còn lại dù có tốt mấy cũng chỉ đạt khoảng 4,0 hoặc 5,0 điểm Ngược lại nếu học sinh làm tốt phần nghị luận so sánh, văn học các em sẽ có nhiều cơ hội đạt điểm cao Như vậy phần nghị luận so sánh, liên hệ văn học góp phần không nhỏ vào kết quả thi môn Văn cũng như tạo cơ hội cao hơn cho các em xét tuyển Đại học Có thể nói ôn tập và làm tốt phần nghị luận so sánh, văn học chính là giúp các em đạt điểm cao cho bài thi của mình Vì vậy việc ôn tập bài bản để các em học sinh lớp 12 làm tốt phần nghị luận so sánh tác phẩm văn học, làm tốt bài thi của mình càng trở nên cấp thiết

Đối với học sinh trường THPT nhất là học sinh lớp 12, đây là phần kiến thức mà các em đang rất quan tâm, mong muốn được các thầy cô củng

cố để chuẩn bị cho kì thi THPT Quốc gia Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy cũng như vai trò của một giáo viên tâm huyết với nghề, nhiều năm ôn thi Tốt nghiệp, Đại học, đồng thời góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, tôi đã lựa

chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm : “Một vài kinh nghiệm rèn kỹ năng

làm kiểu bài so sánh văn học cho học sinh lớp 12 Trung học phổ thông”

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Thông qua việc hướng dẫn các em học sinh ôn luyện kiến thức lý thuyết cách làm bài, luyện tập các dạng đề nghị luận so sánh văn học, tôi muốn nâng cao chất lượng làm dạng bài so sánh, liên hệ tác phẩm văn học của học sinh THPT nói chung nhất là các em học sinh lớp 12 chuẩn bị bước vào kì thi THPT Quốc gia nói riêng Vì thế khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi đã hướng tới các mục đích cụ thể sau:

- Nắm vững những kiến thức lý thuyết cách làm bài so sánh văn học

- Rèn kĩ năng làm kiểu bài so sánh văn học cho học sinh

- Luyện tập một số đề nghị luận so sánh liên hệ tác phẩm văn học để rèn kĩ năng làm bài

- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Trang 4

- Học sinh trung học phổ thông, học sinh lớp 12 chuẩn bị thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn Trong ba năm ôn luyện dạng đề này tôi đã chọn 3 lớp để nghiên cứu: 12A2 (năm học 2015-2016)12A6 (năm học 2016-2017) 12A7 (năm học 2017-2018)

- Dạng câu hỏi nghị luận so sánh văn học

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp điều tra, thực nghiệm

PHẦN II: NỘI DUNG 1.Cơ sở lí luận

1.1.Khái niệm

Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ

biên thì “so sánh là nhìn vào cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém”.

Theo “Từ điển Tu từ - phong cách học - thi pháp học” của tác giả Nguyễn

Thái Hoà (NXB Giáo dục) thì “so sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem

sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe”.

Như vậy, so sánh là phương pháp nhận thức trong đó đặt sự vật này bên cạnh một hay nhiều sự vật khác để đối chiếu, xem xét nhằm hiểu sự vật một cách toàn diện, kỹ lưỡng, rõ nét và sâu sắc hơn Trong thực tế đời sống , so sánh trở thành một thao tác phổ biến, thông dụng nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức, đánh giá của con người trong nhiều lĩnh vực và hoàn cảnh

Từ những khái niệm trên vận dụng vào việc rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh, có thể thấy so sánh giúp cho học sinh hiểu rõ hơn đối tượng (có thể là những chi tiết, nhân vật, hình tượng, phong cách…) cảm nhận được những mới mẻ, độc đáo của đối tượng cũng như những sáng tạo của nghệ sĩ

Để rèn luyện và hướng dẫn học sinh thực hiện tốt phương pháp này nói riêng, cảm thụ văn học nói chung, về phía học sinh, giáo viên cần đặt ra những yêu cầu cụ thể

Với phân môn Làm văn trong nhà trường phổ thông, khái niệm so sánh văn học cần phải được hiểu theo hai lớp nghĩa khác nhau

Thứ nhất, so sánh văn học là một thao tác lập luận cạnh các thao tác lập

lụân khác như: phân tích, chứng minh, bác bỏ, bình luận… đã được đưa vào SGK Ngữ văn 11

Thứ hai, nó được xem như một phương pháp, một cách thức trình bày khi

viết bài nghị luận văn học, tức là một kiểu bài nghị luận văn học Tuy nhiên, so sánh văn học như một kiểu bài nghị luận văn học lại chưa được cụ thể bằng một bài học độc lập trong chương trình ngữ văn THPT

Vì vậy, từ việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu bài, mục đích yêu cầu, đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết

Trong chuyên đề này khái niệm so sánh văn học chủ yếu được hiểu theo nghĩa là một kiểu bài nghị luận,

2 Cơ sở thực tiễn

Thực tế những năm gần đây, các kỳ thi học sinh giỏi cũng như thi THPT Quốc gia môn Văn,thường xuất hiện dạng đề so sánh văn học Mục đích so sánh văn học là để thấy được điểm tương đồng và khác biệt nhằm làm sáng tỏ những điểm mới, kế thừa của tác phẩm, hoặc đánh giá những chuyển biến trong tư tưởng và phong cách của một cây bút trong những tác phẩm viết cùng

Trang 5

một đề tài, một chủ đề…ở nhiều thời điểm khác nhau Có khi so sánh chỉ để làm nổi bật một vài chi tiết, hình ảnh, từ ngữ nào đó của tác phẩm Tuy nhiên đây là dạng nghị luận mới nên gây khó khăn, lúng túng cho cả giáo viên và học sinh

Đối với giáo viên trong phân phối chương trình, kiểu bài so sánh văn học không hề được đưa vào nên chưa bao giờ nó được xuất hiện trong tiết Làm văn như một bài học độc lập tương đương như những dạng bài khác hoặc được giới

thiệu qua các tài liệu tự chọn của Bộ Giáo dục Vì vậy, việc “rèn kĩ nănglàm kiểu bài so sánh văn học cho học sinh lớp 12 THPT” gặp phải không ít khó

khăn, nhất là tư liệu dạy học ít Đặc biệt do phân phối chương trình và thời gian trên lớp hạn chế, nên hầu hết giáo viên chỉ chú ý đi sâu, đào kĩ vào các vấn đề trọng tâm của tác phẩm, không có điều kiện so sánh, đối chiếu tác phẩm này với tác phẩm kia, nếu có cũng chỉ mang tính chất liên hệ, mở rộng chứ không

có thời gian để đối chiếu ở từng phương diện cụ thể Vì thế, trong trong dạy học môn ngữ văn ở trường PTTH, giáo viên và học sinh ít có thời gian bàn về

so sánh văn học

Đối với học sinh còn lúng túng, chưa có kĩ năng so sánh văn học, tài liệu tham khảo ít, việc hướng dẫn của giáo viên về kiểu bài này còn khá mỏng và hạn chế Nên hầu hết học sinh thường gặp khó khăn, và rất ngại làm kiểu bài nghị luận so sánh văn học do chưa nắm rõ kĩ năng làm bài

Từ những nguyên nhân trên mà hầu hết học sinh rất lúng túng trước kiểu bài so sánh văn học Vì thế khi gặp đề bài này, học sinh chỉ biết đơn thuần cảm thụ lần lượt hai đối tượng chứ không biết chỉ ra từng đặc điểm giống nhau và khác nhau, đặc biệt rất hiếm trường hợp học sinh biết lí giải nguyên nhân giống

và khác nhau ấy là do đâu, dựa trên cơ sở nào để giải thích

III CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

• Biện pháp 1: Rèn kỹ năng nhận diện kiểu bài so sánh

Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra ở các tác phẩm của cùng một tác giả, nhưng cũng có thể diễn ra ở những tác phẩm của các tác giả cùng hoặc không cùng một thời đại, giữa các tác phẩm của những trào lưu, trường phái khác nhau của một nền văn học Vì vậy ta có thể chia ra thành các kiểu bài so sánh văn học như sau:

• So sánh hai đoạn thơ, đoạn văn.

Ví dụ 1: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

(Vội vàng– Xuân Diệu, Ngữ văn 11, Tập 2, NXB Giáo dục 2011) Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

(Từ ấy– Tố Hữu, Ngữ văn 11, Tập 2, NXB Giáo dục 2011)

Ví dụ 2: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:

“Ngày tết, Mị cũng uống rượu Mị nén lấy hũ rượu cứ uống ừng ựng từng bát Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng ” (Vợ chồng APhủ - Tô Hoài)

“ Phải uống thêm chai nữa Và hắn uống Nhưng tức quá, càng uống lại càng tỉnh ra Tỉnh ra chao ôi buồn! Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành Hắn ôm mặt khóc rưng rức ” ( Chí Phèo - Nam Cao)

Trang 6

1.2 So sánh các vấn đề nội dung tư tưởng của tác phẩm (hoặc đoạn trích).

Những đề văn thuộc dạng này có thể yêu cầu phân tích, so sánh các

phương diện, nội dung tư tưởng như: giá trị hiện thực, tư tưởng nhân đạo, chủ nghĩa yêu nước…

Ví dụ 1: Cảm hứng quê hương đất nước trong các bài thơ Việt Bắc của Tố

Hữu và đoạn trích Đất nước (trích Trường ca mặt đường khát vọng) của

Nguyễn Khoa Điềm

Ví dụ 2: Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao qua truỵên ngắn “Chí Phèo”

và Kim Lân qua truyện ngắn “Vợ nhặt”.

1.4 So sánh các vấn đề về hình thức nghệ thuật của tác phẩm (hoặc của đoạn trích)

Đề bài có thể yêu cầu phân tích, so sánh các phương diện hình thức nghệ thuật như nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, nghệ thuật sử dụng ngôn từ, nghệ thuật kết truyện…và cũng có thể là toàn bộ các yếu tố thuộc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm

Ví dụ 1: Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện trong “Vợ nhặt” của

Kim Lân và “Chữ người tử tù”của Nguyễn Tuân.

Ví dụ 2: So sánh cách kết thúc hai tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam

và Chí Phèo của Nam Cao

Ví dụ 3: So sánh cái kết trong tác phẩm “Chí Phèo” (Nam Cao) với sự

xuất hiện trở lại của “cái lò gạch cũ” và cái kết trong Vợ nhặt (Kim Lân) với hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”

1.5.So sánh về các hình tượngvăn học

Có thể là hình tượng nhân vật, hình tượng thiên nhiên, hình tượng cái

“tôi” trữ tình hoặc một hình tượng nào đó trong thế giới nghệ thuật của tác

phẩm

Ví dụ 1: Cảm nhận về vẻ đẹp người con gái Việt Nam thời chiến qua

hai nhân vật Chiến trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi và Dít trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành

Ví dụ 2: So sánh nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù”

và nhân vật ông lái đò trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” để làm rõ sự khác biệt trong cách xây dựng hình tượng nhân vật của Nguyễn Tuân trước

và sau Cách mạng tháng Tám 1945

1.6.So sánh về các chi tiết trong tác phẩm

Dạng đề này thường hướng đến các chi tiết trong tác phẩm văn xuôi

Ví dụ 1: Cảm nhận của anh(chị) về hình ảnh bát cháo hành của Thị Nở trong

“Chí phèo” (Nam Cao) và nồi cháo cám của bà mẹ Tứ trong tác phẩm “ Vợ nhặt” của Kim Lân

Ví dụ 2: Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui

vẻ quá” mà nhân vật Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp Thị Nở (Chí Phèo

- Nam Cao) và chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bồi hồi” mà nhân

vật Mị nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ -Tô Hoài)

2 Biện pháp 2: Rèn kỹ năng so sánh:

- So sánh phải dựa trên cùng một tiêu chí, cùng một bình diện để tránh khập khiễng

- So sánh trên nhiều cấp độ: nhỏ nhất là giữa các chi tiết, từ ngữ, hình ảnh; lớn hơn là các nhân vật, sự kiện, tác phẩm, tác giả và phong cách…

- So sánh thường đi đôi với nhận xét, đánh giá thì so sánh đó mới trở nên sâu sắc

Để thực hiện tốt các thao tác so sánh đòi hỏi học sinh:

+ Phải có vốn tri thức rộng về văn chương kết hợp với trí tụê sắc sảo và năng khiếu liên tưởng, tưởng tượng

+ Phải có khả năng nắm vấn đề cụ thể, chi tiết đồng thời có khả năng khái quát, tổng hợp

Trang 7

+ So sánh để làm nổi bật đối tượng, phải tự nhiên, phù hợp không gượng ép

Như vậy, kiểu bài so sánh văn học ít nhất phải từ hai tác phẩm (hoặc hai đoạn trích) trở lên Đối với kiểu bài này, người làm bài phải biết phân tích các đối tượng trong thế so sánh để tìm ra những chỗ giống nhau, khác nhau, từ đó hiểu rõ hơn về cái hay, cái đẹp của các tác phẩm, nét độc đáo trong phong cách của mỗi tác giả…

Kiểu bài này đòi hỏi người làm bài phải có kiến thức lí luận văn học, kiến thức về văn học sử (tác phẩm và tác giả) phong phú và phải có năng lực khái quát tổng hợp vấn đề cao Trong quá trình rèn luyện kỹ năng làm bài cho học sinh, nếu chúng ta biết chọn và đưa ra nhiều đề văn thuộc dạng này không chỉ giúp các em củng cố được thao tác phân tích, tổng hợp, khái quát nâng cao vấn

đề mà còn là cơ hội để các em biết xâu chuỗi và vận dụng một cách nhuẫn nhuyễn các kiến thức đã học, phát huy năng lực sáng tạo của các em

3.Biện pháp 3: Rèn kỹ năng nhóm các tác phẩm có chung đề tài, chủ đề 3.1.Nhóm các tác phẩm

GV có thể hướng dẫn HS tập hợp các tác phẩm đã học thành những đề tài, chủ đề lớn, nhỏ: Đất nước, tình yêu, người lính, số phận con người, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ…

Có thể nhóm một số tác phẩm theo chủ đề, đề tài như sau:

Về nhân dân, đất nước:

- Đất nước (Nguyễn Đình Thi)

- Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)

- Việt Bắc (Tố Hữu)

Về người phụ nữ, người nông dân:

- Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)

- Vợ nhặt (Kim Lân)

- Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)…

Về người lính:

- Tây Tiến (Quang Dũng)

- Việt Bắc (Tố Hữu)

- Đất nước (Nguyễn Đình Thi

Cảm hứng nhân đạo:

- Hai đứa trẻ (Thạch Lam)

- Chí Phèo (Nam Cao)

- Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)

- Vợ nhặt (Kim Lân)

Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:

- Tây tiến (Quang Dũng)

- Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)

- Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)

3.2 Rèn kỹ năng tự thiết lập bộ đề

Sau khi nhóm các tác phẩm theo chủ đề, đề tài, giáo viên nên yêu cầu học sinh tự thành lập các đề văn cảm thụ trong thế đối sánh (thiết lập ngân hàng đề)

Cách làm như sau: Giáo viên hướng dẫn học sinh cách thiết lập các đề theo dạng: cùng viết về một đề tài….nhưng mỗi tác phẩm, tác giả lại có những cách khám phá, thể hiện mới mẻ đặc sắc…chứ không đơn thuần: nêu cảm nhận của anh/chị về hai nhân vật, hai đoạn văn, đoạn thơ, hai chi tiết, hai hình

ảnh…

Từ đó, các em sẽ thấy rằng các tác phẩm khi được đặt trong thế đối sánh thì các đối tượng nên cùng loại (gần nhau) để nhận thức được những điều khác biệt Tuy nhiên cần xác định được điểm chung, tiêu chí và mục đích của sự đối sánh trước khi ra đề, sẽ tránh sự khập khiễng, gượng ép khi đặt các đối tượng

Trang 8

cảm thụ quá khác xa nhau trong một đề văn.

4.Biện pháp 4: Rèn kỹ năng làm bài so sánh văn học

4.1.Rèn kĩ năng phân tích đề:

Phân tích đề là một trong những khâu quan trọng quyết định chất lượng bài văn Vì vậy, giúp học sinh có được kĩ năng này giáo viên cần trang bị cho học sinh những kĩ năng cụ thể như:

4.1.1- Rèn kỹ năng phân tích các đối tượng và so sánh để thấy được nét chung, nét riêng

Ví dụ 1: Cùng viết về đất nước và nhân dân trong cuộc kháng chiến

chống thực dân Pháp nhưng tác phẩm: “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi và

“Việt Bắc” của Tố Hữu là hai thế giới hình tượng riêng, hai giọng điệu trữ tình riêng, chứa đựng những nỗi niềm riêng của mỗi hồn thơ Anh/chị hãy phân tích hai bài thơ trong quan hệ đối sánh để chỉ ra nét riêng của mỗi tác phẩm

Học sinh biết cách phân tích từng đối tượng so sánh sau đó nhận xét đánh giá về những điểm tương đồng và khác biệt của các đối tượng so sánh

4.1.2 Kỹ năng xác định yêu cầu của đề:

Trước hết, cần xác định đối tượng cảm thụ - đối sánh, phạm vi kiến thức

cần huy động sao cho đúng và trúng.

Muốn vậy cần rèn cho các em thói quen đọc kĩ đề, gạch chân những từ ngữ quan trọng Có thể đưa ra một loạt đề cảm thụ trong thế đối sánh cùng về hai tác giả, tác phẩm, chỉ thay đổi cách hỏi, câu lệnh để rèn cho học sinh kĩ năng xác định trọng tâm vấn đề

Trước một đề văn cần đặt các câu hỏi: Tại sao đề lại yêu cầu cảm thụ các đối tượng đó trong thế đối sánh? giữa chúng có những điểm gì chung lớn nhất (cùng đề tài, cảm hứng, thể loại, giai đoạn…)sự khác biệt nổi bật giữa chúng?

từ sự giống và khác nhau ấy, đề văn muốn chúng ta khẳng định vấn đề gì? (về đặc điểm giai đoạn, trào lưu, bản chất nghệ thuật, sự sáng tạo của người nghệ

sĩ, tiến trình phát triển của lịch sử văn học? ) Những câu hỏi ấy sẽ giúp học sinh xác định mục đích, yêu cầu của đề văn và thâm ý của người ra đề

4.1.3 Rèn kỹ năng xác định thao tác nghị luận cơ bản:

Một bài văn cần phối hợp rất nhiều thao tác nghị luận song cần lưu ý học sinh xác định đâu là thao tác nghị luận chính, đâu là thao tác nghị luận bổ trợ Trong bài nghị luận so sánh văn học thao tác cơ bản là phân tích và so sánh Có nhiều học sinh chỉ nặng về đối sánh mà quên mất cảm thụ , có học sinh thì ngược lại Xác định được thao tác chính học sinh sẽ có cơ sở để xây dựng hệ thống luận điểm hợp lí và khoa học cho bài viết

4.1.4 Rèn kỹ năng xác định phạm vi giới hạn đề ( phạm vi tư liệu)

Các em cần xác định đúng phạm vi giới hạn đề thuộc đoạn trích( tác phẩm) nào để định hướng sử dụng phạm vi tư liệu dẫn chứng đúng tránh lan man ,xa đề

4 2 Rèn kĩ năng lập ý - lập dàn ý:

4.2.1.Các bước lập ý:

Bước 1: Trước hết, cần phân tích đối tượng thành nhiều bình diện để cảm

thụ đối sánh Trên đại thể, hai bình diện bao trùm là nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Tuỳ từng đối tượng được yêu cầu so sánh mà có cách chia

tách ra các khía cạnh nhỏ khác nhau Cách chia tách phải căn cứ vào đặc trưng loại thể hoặc các khía cạnh của nội dung tư tưởng: ngôn từ, hình ảnh, chi tiết, kết cấu, âm hưởng, giọng điệu, đề tài, chủ đề, tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật

Bước 2: Nhận xét, đối chiếu để chỉ ra điểm giống và khác nhau Học sinh

cần có sự phát hiện chính xác, có tiêu chí so sánh rõ ràng, diễn đạt thật nổi bật,

rõ nét, tránh chung chung, mơ hồ

Bước 3: Đánh giá, nhận xét, lí giải nguyên nhân của sự giống và khác

nhau Bước này đòi hỏi những tiêu chuẩn rõ ràng, nền lí luận vững chắc, kiến

Trang 9

thức văn học sâu rộng, tránh những suy diễn tuỳ tiện, chủ quan, thiếu sức thuyết phục

4.2.2.Cách thức trình bày ý:

Vì là một bài nghị luận nên bố cục một bài văn so sánh văn học cũng có 3 phần: mở bài, thân bài và kết bài Tuy nhiên chức năng cụ thể của từng phần lại

có những điểm khác biệt so với kiểu bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích, thơ hay nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi

Các cách làm bài dạng đề so sánh văn học: thường có hai cách:

- Cách nối tiếp : Lần lượt phân tích hai văn bản rồi chỉ ra điểm giống và

khác nhau

- Cách song song : Tìm ra các luận điểm giống và khác nhau rồi lần lượt

phân tích từng luận điểm kết hợp với việc lấy song song dẫn chứng của cả hai văn bản minh họa

* Cách 1: Phân tích theo kiểu nối tiếp: Đây là cách làm bài phổ biến của

học sinh khi tiếp cận với dạng đề này, cũng là cách mà Bộ giáo dục và đào tạo định hướng trong đáp án đề thi đại học - cao đẳng Bước một lần lượt phân tích từng đối tượng so sánh cả về phương diện nội dung và nghệ thuật, sau đó chỉ ra điểm giống và khác nhau Cách này học sinh dễ dàng triển khai các luận điểm trong bài viết Bài viết rõ ràng, không rối kiến thức nhưng cũng có cái khó là đến phần nhận xét điểm giống và khác nhau học sinh không thành thạo kĩ năng, nắm chắc kiến thức sẽ viết lặp lại những gì đã phân tích ở trên hoặc suy diễn một cách tùy tiện Mô hình khái quát của kiểu bài này như sau:

Mở bài:

- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)

- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh

Thân bài

- Làm rõ đối tượng so sánh thứ 1 (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)

- Làm rõ đối tượng so sánh thứ 2 (bước này vận kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)

- So sánh:

+ Nhận xét nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả các bình diện như chủ đề, nội dung hình thức nghệ thuật (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích và thao tác lập luận so sánh)

+ Lý giải sự khác biệt: Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…(bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)

Kết bài:

- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu

- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân

*Cách 2: Phân tích song song: được hiểu song hành so sánh trên mọi bình

diện của hai đối tượng Cách này hay nhưng khó, đòi hỏi khả năng tư duy chặt chẽ, lôgic, sự tinh nhạy trong phát hiện vấn đề học sinh mới tìm được luận diểm của bài viết và lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu phù hợp của

cả hai văn bản để chứng minh cho luận điểm đó

- Ví dụ, khi so sánh hai bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm Ứng dụng cách viết này học sinh không phân tích lần lượt từng tác phẩm như cách một mà phân tích so sánh song song trên các bình diện: Xuất xứ - cảm hứng - hình tượng - chất liệu và giọng điệu trữ tình

- Mô hình khái quát của kiểu bài này như sau:

Trang 10

Mở bài:

- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)

- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh

Thân bài:

-Giới thiệu vị trí, sơ lược về hai đối tượng cần so sánh

-So sánh nét tương đồng và nét khác biệt giữa hai hay nhiều đối tượng theo từng tiêu chí trên cả hai bình diện nội dung, nghệ thuật Ở mỗi tiêu chí tiến hành phân tích ở cả hai tác phẩm để có thể thấy được điểm giống, điểm khác Học sinh có thể dựa vào một số tiêu chí sau để tìm ý (tất nhiên tùy từng đề

cụ thể có thể thêm, hoặc bớt các tiêu chí)

+ Về nội dung: Đề tài, chủ đề, hình tượng trung tâm (tầm vóc, vai trò, ý nghĩa của hình tượng), cảm hứng, thông điệp của tác giả…

+ Về hình thức nghệ thuật: Thể loại, hệ thống hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu, giọng điệu, biện pháp, nghệ thuật

+ Lí giải vì sao có điểm giống, điểm khác này, nguyên nhân chủ yếu: + Do hoàn cảnh lịch sử

+ Do hoàn cảnh sống của mỗi cá nhân

+ Do sự chi phối của ý thức hệ và thi pháp hệ thống quan điểm thẩm mĩ + Do cá tính của tác giả

+ Cơ sở lí luận văn học: Mỗi tác phẩm là số phận của một cá nhân cụ thể, tác phẩm muốn tồn tại phải có cái khác người, độc đáo, có sự sáng tạo

Kết bài

- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu

- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân

Cách này hay nhưng khó, nó khắc phục được tất cả các nhược điểm của cách thứ nhất đòi hỏi học sinh phải có tư duy chặt chẽ logic để tách vấn đề, không

có sự tinh tế trong việc lựa chọn các yếu tố để cảm thụ thì bài viết hoặc sẽ rối hoặc thiên về liệt kê so sánh đối chiếu khô cứng Thường những học sinh giỏi,

có năng khiếu môn văn làm theo cách này

* Hai cách làm bài của kiểu đề so sánh văn học là vậy, mỗi cách làm đều có mặt mạnh, mặt yếu khác nhau Trong thực tế không phải đề nào chúng ta cũng có thể áp dụng theo đúng khuôn mẫu cách làm như đã trình bày ở trên Phải tùy thuộc vào cách hỏi trong mỗi đề cụ thể mà ta áp dụng theo cách nào

và áp dụng sao cho linh hoạt, phù hợp

Tuy nhiên, khi triển khai đề so sánh văn học đối với đề thi đại học, cao đẳng, chúng ta triển khai theo cách làm thứ nhất để phù hợp với đông đảo đối tượng học sinh phổ thông cũng như đáp án của Bộ Giáo dục và Đào tạo

IV KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1.Kiểm chứng

1.1.Đối tượng kiểm chứng: Học sinh lớp 12A6, 12A7 Đây là 2 lớp có

lực học khá, giỏi và tương đối đồng đều 100% đạt học sinh khá giỏi, trong đó 45% học sinh giỏi, 100% học sinh thi khối C, D Nên các em nhận thức, tiếp thu rất nhanh Đây là điều kiện rất thụân lợi cho giáo viên

1.2.Thời gian kiểm chứng: Qua một số tiết viết bài và trả bài trong năm

học 2017-2018

1.3.Nội dung kiểm chứng:

Đề 1: Cảm nhận của anh/ chị về hình ảnh bát cháo hành trong truyện

“Chí Phèo” (Nam Cao) và nồi cháo cám trong truyện “Vợ nhặt” (Kim Lân).

§Ò 2: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

“Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w