Phương pháp này sử dụng những hình vẽ, quy ước, thiết kế mẫu bảng để mô hình hóa các bài học nhằm giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản về bài học[1].. Để sử dụng phương pháp sơ đ
Trang 11 Mở đầu:
1.1 Lý do chọn đề tài:
Bàn về vai trò và ý nghĩa của văn học, Rasul Gamzatop cho rằng:
“Người ta thường nói văn học là nhân học Tôi công nhận Nhưng với riêng tôi, văn học không chỉ là môn khoa học về con người Cái cốt lõi của nó là lòng nhân ái” Trải qua bao tháng năm, văn học đã chứng minh được sức mạnh
to lớn của mình Rằng không có một môn khoa học nào gần gũi với con người,ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm của con người như môn Ngữ văn.Học văn, chúng ta có thể có nhiều cảm xúc lẫn lộn: vui, buồn, yêu thương, cămghét, xót xa,…Văn học giúp chúng ta thanh lọc tâm hồn, giúp chúng ta sống tốthơn Đó là những điều không ai có thể phủ nhận
Thế nhưng để hiểu được các tác phẩm văn học lại là một vấn đề không hềđơn giản Đó là cả một quá trình tìm hiểu, khám phá, cảm nhận Nhà văn Nga
L.Tôn xtôi từng viết: " Cái quý nhất không phải là biết quả đất tròn mà là biết người ta đã tìm ra nó bằng cách nào" Việc đánh giá một tác phẩm văn học
cũng vậy, điều quan trọng không phải là biết nó hay mà phải biết nó hay như thếnào? Vì vậy, một trong những mục đích quan trọng hàng đầu của phương phápdạy học văn trong nhà trường phổ thông là qua việc học tập bộ môn này, nhà
trường dần dần hình thành cho học sinh khả năng tự tiếp nhận tác phẩm văn
chương một cách độc lập, không gò ép, suy diễn và quan trọng hơn là phải biếtphân tích, đánh giá tác phẩm một cách đúng hướng, nhất là khi bắt gặp nhữngtác phẩm mới
Tuy nhiên việc giảng dạy môn Ngữ văn hiện nay đang gặp rất nhiều khókhăn Đây là hiện tượng chung do nhiều nguyên nhân khác nhau mang lại Mộtphần do bản thân giáo viên chưa thực sự thu hút được học sinh “theo đuổi” mônhọc của mình Một phần do kỹ năng khai thác thông tin, cảm thụ tác phẩm củahọc sinh trong trường THPT còn nhiều lúng túng Xuất phát từ thực tế đó, bảnthân tôi luôn trăn trở, tìm tòi phương pháp, hướng khai thác tác phẩm để vậndụng trong từng bài dạy cụ thể nhằm tháo gỡ cho riêng mình những khó khănchung Một trong những vấn đề quan trọng của giáo dục là đổi mới phương phápdạy học Tinh thần của vấn đề này là biến quá trình dạy học thành quá trình tựhọc, tự tìm hiểu khám phá và xây dựng kiến thức của người học với vai trò dẫndắt khéo léo của người thầy[2] Trong những năm học qua, để góp phần thựchiện nhiệm vụ trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy học, bản thân tôi đã khôngngừng tìm tòi, sáng tạo để làm mới tiết dạy của mình Để những giờ học văn trôi
đi thật nhẹ nhàng mà hiệu quả lại cao
Chính vì lẽ đó, tôi mạnh dạn đề xuất một phương pháp Phương pháp nàytuy không mới nhưng phù hợp với đối tượng học sinh ở trường THPT ThạchThành 4 mà lại khơi gợi được xúc cảm và tạo được hứng thú cho các em trong
Trang 2mỗi giờ giảng văn, đó là: “Sử dụng hiệu quả phương pháp sơ đồ, bảng biểu trong dạy – học Ngữ văn 12” để nghiên cứu.
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
1.3.1 Đối tượng
- Chương trình Ngữ văn 12 cơ bản
- Học sinh lớp 12 trường THPT Thạch Thành 4 năm học 2017 - 2018
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn 12 ở trườngTHPT Thạch Thành 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm:
2.1 Cơ sở lý luận:
2.1.1 Quan niệm về sơ đồ, bảng biểu.
Sơ đồ, bảng biểu là gì? “Sơ đồ là những hình vẽ quy ước, sơ lược nhằm
mô tả một đặc trưng nào đó của một sự vật hay một quá trình Sơ đồ, bảng biểu
là một trong những phương pháp thuộc nhóm phương pháp dạy học trực quan Phương pháp này sử dụng những hình vẽ, quy ước, thiết kế mẫu bảng để
mô hình hóa các bài học nhằm giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản về bài học[1]
Để sử dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu trong dạy học có hiệu quả trước tiên các kiến thức cơ bản cần được sắp xếp dưới dạng mô hình sơ đồ, bảng biểu Sơ đồ, bảng biểu tạo thành một tổ chức hình khối phản ánh cấu trúc
và lôgíc bên trong của một khối lượng kiến thức một cách khái quát, súc tích
và trực quan cụ thể nhằm giúp cho học sinh nắm vững kiến thức, khái quát được những nội dung cơ bản của bài học đồng thời qua đó mà phát triển được năng lực nhận thức của học sinh” [1].
Trang 3Dạy học theo sơ đồ, bảng biểu là cách thức hoạt động phối hợp thốngnhất giữa người dạy và người học, giúp người học hiểu được bản chất của các sựvật, hiện tượng liên quan đến nội dung, nhiệm vụ dạy học dựa vào sơ đồ, bảngbiểu[1].
2.1.2 Những ưu thế của phương pháp dạy học theo sơ đồ, bảng biểu.
Phương pháp dạy học theo sơ đồ, bảng biểu có thể phát huy được tính tíchcực của học sinh, huy động tối đa các giác quan của người học tham gia vào quátrình nhận thức, lĩnh hội kiến thức Kiến thức bài học được cụ thể hóa dưới dạngcác sơ đồ, bảng biểu ngắn gọn, dễ nhớ nên học sinh dễ dàng hơn trong việc pháttriển ý tưởng, tìm tòi và xây dựng kiến thức mới Khi giáo viên dùng sơ đồ, bảngbiểu để minh họa sẽ tạo được hiệu quả cao vì chỉ trong một thời gian rất ngắnhọc sinh có thể khái quát được một lượng kiến thức lớn vừa làm sáng tỏ bàigiảng vừa xâu chuỗi kiến thức lại với nhau[1]
Sử dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu trong dạy học sẽ tạo sự hứng thúcho học sinh trong giờ học, giúp tiết học trở nên sinh động, lôi cuốn hơn Đặcbiệt là giúp học sinh phát triển khả năng quan sát, kích thích tư duy, nhớ bài họclâu hơn
Sử dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu trong dạy học sẽ giúp học sinhkhám phá tri thức mới theo trình tự lôgíc, hiểu được bản chất của vấn đề, nắmchắc nội dung bài học, điều này rất thuận lợi cho quá trình tái hiện tri thức khicần thiết[1]
2.1.3 Những hạn chế của phương pháp dạy học theo sơ đồ, bảng biểu
Như chúng ta đã biết, bản chất của phương pháp này là kiến thức được
mô hình hóa bằng sơ đồ, bảng biểu nên thường ngắn gọn không thể chi tiết nếungười học không hiểu được bản chất sẽ gặp khó khăn trong quá trình học tập Ví
dụ: Khi tìm hiểu tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” – Tô Hoài Nếu chưa đọc văn bản,
chưa nắm được nội dung cơ bản thì trước một sơ đồ, bảng biểu học sinh đó vẫnlúng túng, ngỡ ngàng, bối rối Thậm chí không lí giải được vì sao lại như thế?
Nếu sử dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu cho một lượng kiến thức quálớn thì người học không biết bắt đầu từ đâu để ghi nhớ và liên tưởng các phầnkiến thức với nhau
Nếu sử dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu không đúng lúc, đúng chỗhoặc quá lạm dụng sẽ làm cho học sinh mất phương hướng, từ đó sẽ không hứngthú với việc tiếp thu bài giảng
Vì vậy giáo viên cần có trình độ chuyên môn vững vàng, học sinh phải có
tư duy sáng tạo, nhạy bén thì mới vận dụng tốt phương pháp này[1]
Trang 42.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Dưới 5 (%)
5 - 6 (%)
7 - 8 (%)
9 - 10 (%)
12A1
(48)
1021,0%
18 37,5%
1633,3%
4 8,2%
64
12A3
(49)
1224,5%
18 36,73%
1632,65%
36,12%
61
12A4
(39)
25,12%
10 25,0%
1949,0%
820,88%
76
Từ kết quả khảo sát ở mục 2.2.1 chúng ta nhận thấy, trong nhiều nămtrở lại đây, theo xu thế của thời đại, đa số học sinh không học khối C mà chỉchạy theo những môn khoa học tự nhiên để sau này ra trường dễ kiếm công ănviệc làm Và học sinh trường THPT Thạch Thành 4 chúng tôi cũng không ngoại
lệ Gần như học sinh không chú ý học môn Ngữ văn mà chỉ coi môn Ngữ vănnhư là một môn điều kiện để xét tốt nghiệp
Nếu như trước kia, môn Ngữ văn được coi là một môn nghệ thuật, hướnghọc sinh tới những giá trị “Chân - Thiện - Mĩ”, những giá trị tốt đẹp của conngười thì giờ đây Ngữ văn đã trở thành một môn học bị coi nhẹ trong nhàtrường Vậy có phải chăng vì môn văn không còn được coi trọng nên chúng tathấy rất nhiều học sinh bị suy thoái về mặt đạo đức, có thể nói tục chửi thề ở bất
cứ nơi nào Ở trường các em học một cách cầm chừng, hờ hững, kết quả khôngcao Sống thì không mơ ước, không khát vọng,…
2.2.2 Những khó khăn trước mắt.
Thạch Thành 4 là một trường THPT miền núi nằm ở phía Tây của huyệnThạch Thành với thời gian thành lập chưa lâu, cơ sở vật chất còn thiếu thốn vềnhiều mặt, cụ thể như cả trường chỉ có một phòng máy chiếu Điều này ảnhhưởng rất lớn tới hoạt động dạy và học của nhà trường
Kiến thức môn Ngữ văn thì nhiều đặc biệt là lớp 12, bên cạnh đó vẫn cònmột vài giáo viên còn ngại khó, ngại khổ trong việc sử dụng sơ đồ, bảng biểuvào giảng dạy Bởi để có đồ dùng dạy học tốt phù hợp buộc giáo viên phải có sựđầu tư tâm huyết, thời gian, công sức,
Hơn thế học sinh trường THPT Thạch Thành 4 chiếm hơn 80% là học
sinh dân tộc Mường Nhiều em nói tiếng phổ thông còn chưa thạo Chất lượng
đầu vào lớp 10 rất thấp, đa số các em đều bị hổng kiến thức Vì thế nên quá trình
Trang 5tiếp thu kiến thức của học sinh rất chậm, khả năng ghi nhớ bài kém Cơ bản họcsinh chưa xác định được mục đích học tập nên chưa thể hiện được ý thức phấnđấu vươn lên trong học tập cũng như trong cuộc sống[3].
Từ những khó khăn trên thì có một vấn đề đặt ra với người giáo viên dạyvăn là phải thay đổi cách dạy như thế nào cho phù hợp với đối tượng học sinhmền núi để từng bước nâng dần chất lượng cũng như sự rèn luyện của các em.Trong năm học vừa qua, bản thân tôi đã trăn trở nhiều về cách dạy, cách học Vìthế, một mặt tôi động viên các em cố gắng học tập, mặt khác tôi mày mò tìmcách đổi mới phương pháp dạy học như áp dụng công nghệ thông tin vào giờdạy nhiều hơn, vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực vào giờ dạy nhiều hơn.Đặc biệt là sử dụng những sơ đồ, bảng biểu Và kết quả bước đầu thu được rấtkhả quan, các em hiểu bài hơn, học tập sôi nổi, hăng say hơn
2.3 Giải pháp của đề tài :
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực trạng của vấn đề về dạy - học Văntrong các nhà trường nói chung và ở trường THPT Thạch Thành 4 nói riêng như
đã trình bày ở trên, bản thân tôi đã mạnh dạn đưa ra vấn đề: Sử dụng hiệu quả phương pháp sơ đồ, bảng biểu trong dạy – học Ngữ văn 12 Để một tiết học
thành công, tôi phải đầu tư thời gian, tâm huyết vào việc nghiên cứu chuẩn bịnhững sơ đồ, bảng biểu cần thiết Trường THPT Thạch Thành 4 là một ngôitrường mới thành lập nên cơ sở vật chất còn hạn chế Cả trường mới chỉ có mộtphòng máy chiếu nên việc dạy – học còn gặp nhiều khó khăn Với những tiếtđược học ở phòng máy thì việc soạn bài, chuẩn bị hệ thống sơ đồ, bảng biểu nhẹnhàng hơn vì đã có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin còn ngược lại với nhữngtiết dạy bình thường trên lớp, tôi phải tự chuẩn bị những sơ đồ, bảng biểu trêngiấy A0 Để góp phần vào công cuộc đổi mới phương pháp nói chung, bản thântôi đã không ngừng tìm tòi, nghiên cứu cho mình những phương pháp hữu íchphù hợp với học sinh miền núi Đặc biệt là sử dụng những sơ đồ, bảng biểu phùhợp với từng tiết học, từng bài, từng đối tượng học sinh Cụ thể như sau:
2.3.1 Người giáo viên dạy V ăn phải thấy được sự hữu ích, ý nghĩa to lớn của việc sử dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu trong dạy học.
Sơ đồ, bảng biểu là những hình vẽ quy ước, sơ lược nhằm mô tả một đặctrưng nào đó của một sự vật hay một quá trình Sơ đồ, bảng biểu là một trongnhững phương pháp thuộc nhóm phương pháp dạy học trực quan Phương phápnày sử dụng những hình vẽ, quy ước, thiết kế mẫu bảng để mô hình hóa các bàihọc nhằm giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản về bài học[1]
Đây là những công cụ hỗ trợ rất hiệu quả trong tiết dạy, góp phần làmcho tiết học trở nên sinh động, hấp dẫn Trong xu thế phát triển mới của thời đại,
Trang 6kiến thức môn Ngữ văn thì nhiều, đa dạng Đặc biệt đề thi ngày càng bao quát,
rộng gồm cả trương trình 12,11 ( Đề thi THPT Quốc gia năm 2017-2018), dự kiến là cả ba khối 10,11,12 (Năm 2018-2019) Kiến thức phần đọc –hiểu cũng
tương đối nhiều, Để cải thiện thiện tình hình đó thì sử dụng sơ đồ, bảng biểutrong dạy học là một phương pháp khả quan mang lại nhiều công dụng Nóicách khác sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Ngữ văn là điều kiện, làphương tiện để đổi mới phương pháp dạy học Tuy nhiên, thực tế hiện nay sơ
đồ, bảng biểu dùng dạy học của môn Ngữ văn rất hạn chế Vì vậy, để có phươngtiện dạy học giáo viên cần thiết phải đầu tư thời gian, tâm huyết để sưu tầm,nghiên cứu
Như chúng ta đã biết sơ đồ, bảng biểu luôn là công cụ hỗ trợ hiệu quả, đắclực trong các tiết dạy Nó làm cho tiết học trở nên sinh động, hấp dẫn, dễ hiểuhơn Lý thuyết được kết hợp với thực hành giúp cho học sinh nhớ kiến thức lâu
và sâu sắc hơn Bởi sơ đồ, bảng biểu chính là những hình ảnh trực quan, nó sẽ
in đậm vào tâm trí học sinh, giúp các em khắc sâu kiến thức của từng bài, từngphần[1]
Trong quá trình dạy học, người giáo viên được ví như một thuyền trưởngchèo lái con thuyền lớn Con thuyền ấy có cập bến an toàn, tốt đẹp hay không lànhờ vào công sức của người thầy Để làm được điều này, đòi hỏi người giáoviên phải có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, biết khai thác và sử dụng hiệuquả các sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Từ đó mà phát huy được tính tích cực,chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập và sâu xa hơn là kích thích niềmđam mê văn học đối với các em
Vì vậy việc sưu tầm, nghiên cứu để tự làm những sơ đồ, bảng biểu phục vụcho giờ dạy không chỉ là trách nhiệm của giáo viên mà hơn hơn thế nó còn làđam mê, là niềm hạnh phúc của mỗi giáo viên yêu nghề, tâm huyết
sử dụng sơ đồ, bảng biểu thì sẽ phản tác dụng Sau đây là những trường hợp cóthể vận dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu để giúp học sinh hứng thú khi tìmhiểu bài và ghi nhớ kiến thức một cách sâu sắc
2.3.3.1 Dạng 1: Những bài Khái quát văn học (Văn học sử)
Trang 7Ví dụ trong chương trình Ngữ văn 12, khi dạy bài “Khái quát văn học Việt nam từ cách mạng tháng tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX” Tôi đã vận dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu ở mục I.2 - Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu của văn học việt nam từ cách tháng tám năm 1945 đến 1975, với mẫu bảng như sau:[1], [4,5]
Giai
đoạn
Thể loại Chủ đề
luận, phê bình, nghiên cứu
1945 –
1954
- Tập trung phảnánh cuộc khángchiến chống Pháp
- Truyện và
Ký là nhữngthể loại mởđầu
- Đạt đượcnhiều thànhtựu
- Chưa pháttriển nhưng
đã có một sốtác phẩm và
sự kiện quantrọng
1955 –
1964.
- Ca ngợi côngcuộc đi lên xâydựng xã hội chủnghĩa ở miền Bắc,phản ánh nỗi đauchia cắt nước nhà
- Mở rộng đềtài, mở rộngphạm vi thâmnhập đến từngngóc ngáchcủa đời sống
xã hội
+ đề tài khángchiến chốngPháp
+ đề tài hiệnthực cuộcsống
+công cuộcxây dựng chủnghĩa xã hội
- Có sự kếthợp giữa yếu
tố lãng mạn
và yếu tố hiệnthực: gió lộng,ánh sáng vàphù sa, riêngchung
- Chưa thực
sự phất triểnmạnh
1965 –
1975.
- Ca ngợi tình thầnyêu nước và chủnghĩa anh hùngcách mạng
+ Miền Nam:
phản ánh cuộcchiến đấu giannan của miềnNam:rừng xà
- Phát triểnvới khuynhhướng đào sâuvào hiện thựcvới những cái
- Có nhiềuphát triển ví
dụ như kịchquê hươngViệt Nam,
Trang 8nu, người mẹcầm súng.
+ Miền Bắc:
kí chống mỹ,truyện ngắncủa Vũ ThànhLong
tên như Phạmtiến Duật,Nguyễn KhoaĐiềm, ChínhHữu…
thời tiết ngàynay
Với mẫu bảng biểu trên sẽ giúp học sinh nắm được: Văn học Việt namthời kì này đã theo sát từng chặng đường phát triển của lịch sử dân tộc, theo sát
từng nhiệm vụ chính trị của đất nước (Ví dụ giai đoạn từ 1945-1954: Cuộc
kháng chiến chống Pháp; Giai đoạn từ 1955 -1964: Những đổi thay của đất nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, miền Nam với nỗi đau chia cắt; Giai đoạn từ 1965-1975: Đất nước tập trung vào cuộc kháng chiến chống Mĩ)
Như vậy văn học Việt nam từ cách mạng tháng tám năm 1945 đến hết thế
kỉ XX đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ chính trị của đất nước – phục vụ khángchiến, cổ vũ nhân dân chiến đấu Đồng thời chúng ta cũng thấy được nhữngthành tựu về mặt nghệ thuật – đó là sự phát triển phong phú, đa dạng các thể loạivăn học, nhất là thể loại văn xuôi và thơ ca
2.3.3.2 Dạng 2: Những bài có sự đối sánh, liên tưởng.
Trong chương trình Ngữ văn lớp 12 có nhiều bài có sự đối sánh, liêntưởng mà chúng ta có thể áp dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu
Ví dụ 1: Khi dạy bài thơ “Sóng” (Xuân Quỳnh): Trước đây tôi thường
dạy theo từng khổ mà bài thơ dài tới 9 khổ vì thế cách đặt câu hỏi không tránhkhỏi sự lặp lại, nhàm chán Nhưng khi sử dụng phương pháp “Sơ đồ, bảng biểu”vào giảng dạy, tôi đã khắc phục được những hạn chế đó
“Sóng” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh Trong bàithơ tác giả đã sử dụng hình ảnh ẩn dụ “sóng” để diễn tả tâm hồn, tính cách, tâmtrạng, những trạng thái tình cảm của người con gái trong tình yêu Vì vậy hìnhtượng “sóng” và “em” luôn song hành cùng nhau “sóng” là “em” mà “em” cũng
là “sóng” Qua mỗi khổ thơ “sóng” lại được khám phá, phát hiện để diễn tảnhững tình cảm, trạng thái tâm hồn của người con gái khi yêu
Sau khi giới thiệu về bài thơ, giáo viên nên cho học sinh xem một số hìnhảnh minh họa để kích thích sự hứng thú học tập của các em[1]
Trang 9Hình ảnh minh họa Hình ảnh minh họa
Trong suốt bài thơ hai hình tượng sóng và em luôn hài hòa, quấn quýt, bổ sung cho nhau, cùng tôn lên vẻ đẹp cho nhau Qua đó chúng ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ: Thiết tha, dịu dàng, nhân hậu, thủy chung, yêu bằng cả trái tim sôi nổi của mình Xuất phát từ ý nghĩa đó, tôi đã sử dụng mẫu bảng và sơ đồ tư duy sau: [4,5]
Khổ
thơ
Sóng Em
Khổ 1
- Con sóng với những trạng thái
đối lập: dữ dội - dịu êm
- Tâm hồn người phụ nữ khôngchịu chấp nhận sự chật hẹp, tùtúng, khát khao vươn tới mộttình yêu đích thực, vững bền
Khổ 2
- Biển là hình ảnh của sự bất diệt,
biển ngàn đời vẫn cồn cào, xáo
động
- Tình yêu muôn đời vẫn bồihồi vỗ sóng “trong ngực trẻ.-> sự bất diệt của khát vọngtình yêu
Khổ
3,4
- Sóng đi tìm lời giải đáp về quá
trình hình thành của mình nhưng
không có câu trả lời
- Nỗi băn khoăn muốn kiếm tìmcội nguồn của tình yêu nhưngcũng bất lực
Khổ 5 - Sóng thì thao thức nhớ bờ ngày
đêm không ngủ được
- Em nhớ đến anh cả trong mơcòn thức
Trang 10-> Nhân hóa hình tượng sóng ->Tình yêu luôn gắn liền với
nỗi nhớ
Khổ 6 - Sóng luôn hướng đến bờ - Em thì hướng về phương anh
-> Sự thủy chung, son sắt trongtình yêu
Khổ 7 - Sóng vượt qua giới hạn, cách trở
của tình yêu
- Em luôn có niềm tin tình yêu
sẽ chiến thắng cái hữu hạn củađời người
Sơ đồ tư duy bài Sóng
Ví dụ 2: Khi dạy đến tác phẩm “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân),
chúng ta sẽ bắt gặp hình ảnh về một con sông Đà không phải là thiên nhiên vôtri, vô giác, mà là một sinh thể có hoạt động, có tính cách, cá tính, có tâm trạnghẳn hoi và khá phức tạp Nó có hai nét tính cách cơ bản đối lập với nhau - nhưtác giả nói - "hung bạo và trữ tình" Lúc trở mặt hung bạo, nó cứ như là "kẻ thù
số một" của con người Nhưng lúc trữ tình thì lại đầy chất thơ, rất đỗi dịu dàng,thân thiết, giống như một người tình, một "cố nhân" gặp thì mừng vui, xa thìnhớ nhung, lưu luyến Hai nét tính cách này đã khơi đúng vào cảm hứng nghệ
Trang 11thuật của Nguyễn Tuân - một cây bút vốn luôn luôn khao khát những cảm giác,
cảm xúc mới lạ, nồng nàn, say đắm [1], [4,5]
Hình ảnh: Sông Đà hung bạo Hình ảnh: Sông Đà trữ tình
Khi dạy phần hình tượng con Sông Đà, tôi sẽ sử dụng mẫu bảng biểu và
sơ đồ sau để làm nổi bật tính hai tích cách trên của Sông Đà: [4,5]
-Vách đá: “đá bờ sông dựng vách
thành”.
-Gió trên sông Đà: Dài hàng cây
số nước xô đá, đá xô sóng, sóng
xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn
ghè suốt năm - Những hút nước ở
quãng Tà Mường Vát: nước ở
đây thở và kêu như cửa cống cái
bị sặc, chỗ giếng nước sâu ặc ặc
lên, những cái hút nước lôi tuột
bè gỗ xuống hoặc hút những
chiếc thuyền xuống rồi đánh
chúng tan xác
- Âm thanh thác nước sông Đà:
oán trách, van xin, khiêu khích,
- Màu sắc dòng sông thay đổi theo mùa:+ Mùa xuân xanh màu ngọc bích, khác vớisông Gâm, sông Lô màu xanh canh hến.+ Mùa thu nước sông lừ lừ chín đỏ như damặt một người bầm đi vì rượu bữa -> Sông
Đà mỗi mùa mang một vẻ đẹp riêng,quyến rũ và tình tứ
- Nguyễn Tuân nhìn sông Đà như một cốnhân với những cảnh quan hai bên bờ cực
kì gợi cảm: lá non nhú trên những nươngngô, những con hươu ngẩng đầu nhungkhỏi áng cỏ sương
- Dòng sông Đà như gợi những nỗi niềm
Trang 12-> Sông Đà hung dữ như muốn
ăn tươi nuốt sống con người
sâu thẳm trong lịch sử đất Việt: Bờ sônghoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồnnhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa
Sơ đồ tư duy: Sông Đà hung bạo
Sơ đồ tư duy: Sông Đà trữ tình
Cũng ở bài này, khi dạy đến mục hình tượng người lái đò vượt thác tôi
sẽ sử dụng hình ảnh và bảng biểu sau để giúp học sinh có cái nhìn đối sánh vàkhắc ghi kiến thức hơn [1], [4,5]
Trang 13
Hình ảnh: Sông Đà hùng vĩ, dữ dội Hình ảnh: Người lái đò vượt thác
+ Trùng vi thạch trận
thứ I:
- Sông Đà chia thànhnăm cửa trận, trong đó cóbốn cửa tử và một cửasinh, cửa sinh được nguỵtrang nằm lập lờ bí hiểmphía tả ngạn
xông vào “đá trái”,
“thúc gối vào bụng, vào hông thuyền”
- Nước như một đô vật
“túm thắt lưng ông đò đòi vật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt” rồi
đánh miếng “đòn hiểm’
vào chỗ “hạ bộ”
-Bị trúng đòn, mắtngười lái đò như thấy
“một cửa bể đom đóm” nhưng ông vẫn “cố nén
vết thương”, “hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái”
-Trên “con thuyền sáubơi chèo” vẫn nghe rõ
“tiếng chỉ huy ngắn gọntỉnh táo” của ông
-Ông lái đò thật sự làmột con người lãoluyện, luôn bình tĩnh,dũng cảm, biết nén mọiđau đớn để chiến thắngđối chủ hiểm ác củamình
-Kẻ địch thay chiến -Ông lái đò đã “nắm
Trang 14-“Đám thuỷ quân” định
“níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử”
chắt binh pháp của thần sông thần đá” nên đã
“nắm chặt được bờmsóng đúng luồng” rồi
lái đò là một con người
có nhiều kinh nghiệm,
có hành động chuẩn xác,mau lẹ, quyết đoán, mộtông lão thông minh tàigiỏi
+ Trùng vi thạch trận
thứ III:
- Ít cửa hơn nhưng “bên
phải, bên trái đều là nguồn chết cả” Cửa sinh
nằm giữa bọn đá hậu vệcủa con thác
-Ông lái đò như một chỉhuy dạn dày kinh
nghiệm:“Cứ phóng
thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa” mà
vượt qua cổng đá, cánh
mở, cánh khép
“Thuyền như một mũi tên xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được Thế là hết thác.”
- Đến đây, trình độ chèothuyền lái đò vượt tháccủa người lái đò đã đạtđến mức độ tài hoa, đãnâng lên thành nghệthuật chèo đò, là một tay
Trang 15chèo điêu luyện, mộtnghệ sĩ trên sông nước.Nói như Nguyễn Tuân
đó là “một tay lái rahoa”
Sau khi tìm hiểu xong cảnh vượt thác của ông lái đò qua bảng biểu trên,học sinh sẽ khắc ghi vào tâm trí mình hình ảnh về một dòng Sông Đà hung bạo,nham hiểm, xảo quyệt,… hình ảnh về một người lái đò ngoan cường, lòng dũngcảm, ý chí, nghị lực; sự tài chí, kinh nghiệm lão luyện Qua đó rút ra đượcnhững bài học về ý chí, nghị lực của con người để vượt qua mọi thử thách trongcuộc sống Khi các em hiểu được những điều đó, tức là phương pháp sơ đồ,bảng biểu đã phát huy được hết lợi thế của mình
2.3.3.3 Dạng 3: Những phần tổng kết, những bài ôn tập.
Trường hợp tổng kết nội dung một bài học: có thể sử dụng phương pháp
sơ đồ, bảng biểu cho nhiều bài Ở đây tôi xin đưa ra một vài ví dụ:
Ví dụ: Bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”(Hoàng Phủ Ngọc Tường)
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường Hình ảnh sông Hương xứ Huế
Sau khi học xong bài, tôi sẽ yêu cầu học sinh khắc họa lại vẻ đẹp độc
đáo, đa dạng của sông Hương qua bài kí Khi các em đã nhận xét xong, tôi sẽcung cấp bảng biểu sau để các em tham khảo và giúp các em nhớ bài tốt hơn [1],[4,5]
Lê Thị Tuyến Trường THPT Thạch Thành 4 15
Sông Hương – Bản trường ca của rừng già
Sông Hương – Cô gái Di – gan phóng khoáng
Sông Hương – Người tình dịu dàng, chung thủy
Sông Hương – là một bản hùng ca ghi dấu những chiến công oanh liệt của dân tộc
Sông Hương – dòng sông thi ca, là nguồn cảm hứng bất tận cho người nghệ sỹ
Sông Hương khi chảy vào
thành phố Huế
Sông Hương với lịch sử, thi
ca và cuộc đời