Song, môn Ngữ văn lại là môn có nhiều ưu thế trong việclồng ghép tích hợp giáo dục kĩ năng sống nói chung và lí tưởng sống nói riêngcho học sinh.. Đúng như trong “Chương trình giáo dục p
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Lí tưởng sống quyết định sự thành công trong cuộc đời mỗi con người Lítưởng dẫn dắt sự nghiệp, tăng thêm sức mạnh để chúng ta đạt đến thành công.Không những vậy, lí tưởng còn đem lại cho ta sức mạnh vượt qua khó khăn, thử
thách trong cuộc sống Đúng như L.Tolstoi đã khẳng định: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không có lý tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống” Thế hệ học sinh là những chủ
nhân tương lai của Đất nước cũng cần phải có lí tưởng sống đúng đắn Vì vậy,việc giáo dục lí tưởng sống trong nhà trường là vô cùng quan trọng và cần thiết
Ở nhà trường, tất cả các môn học đều có nhiệm vụ cung cấp tri thức vàgiáo dục nhân cách Song, môn Ngữ văn lại là môn có nhiều ưu thế trong việclồng ghép tích hợp giáo dục kĩ năng sống nói chung và lí tưởng sống nói riêngcho học sinh Bởi, đây là một môn nghệ thuật - nghệ thuật ngôn từ Và giáo dụcbằng nghệ thuật là cách giáo dục hiệu quả nhất, vì người được giáo dục thôngqua sự hứng thú, say mê, thăng hoa cùng nghệ thuật mà hình thành và phát triểnnhân cách Đúng như trong “Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn”,
các nhà nghiên cứu đã khẳng định: “môn Ngữ văn bồi dưỡng cho học sinh tình
yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa; tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước; lòng
tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự cường; lí tưởng xã hội chủ nghĩa; tinh thần dân chủ, nhân văn; giáo dục cho học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị
và hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa” [2, tr 5].
Việc giảng dạy lí tưởng sống qua các tác phẩm văn học không chỉ giúp học sinhhiểu và cảm nhận được nội dung của tác phẩm mà còn hình thành lối sống đẹp và
ý thức trách nhiệm đối với đất nước
Tuy nhiên, thời đại mới với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thôngtin, sự thay đổi của cách sống và quan niệm thẩm mĩ của con người hiện đại cóảnh hưởng rất lớn tới suy nghĩ của học sinh Nhịp sống hiện đại cũng khiếnnhiều em thờ ơ với những giá trị mà môn Ngữ văn mang lại Các em không cònrung động trước một bài thơ hay, một câu chuyện hấp dẫn, lạnh lùng với số phậnnhân vật, thờ ơ trước cảnh đời Nhiều em thích cuộc sống hưởng thụ, vị kỉ màkhông có sự nỗ lực phấn đấu trong học tập và ý chí vươn lên trong cuộc sống
Do vậy, hơn lúc nào hết, người thầy cần phải khơi dậy tình cảm nhân văn, địnhhướng nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn cho các em ngay từ khi còn ngồi trên ghếnhà trường
Trong chương trình Ngữ văn lớp 11 có rất nhiều văn bản để tích hợp giáodục lí tưởng sống cho học sinh Với kinh nghiệm giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp
11 bản thân tôi nhận thấy dạy bài “Từ ấy” của Tố Hữu, đặc biệt là dạy tích hợp
“Giáo dục lí tưởng sống cho học sinh qua bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu (Chương trình Ngữ Văn 11 - Cơ bản)” đem lại hiệu quả cao cho giờ học đồng
thời giúp các em học sinh có cách nhìn mới về nội dung của bài và hình thànhthêm về lí tưởng sống cao đẹp
Trang 21.2 Mục đích chọn đề tài
- Đưa ra những phương pháp tích hợp giáo dục lí tưởng sống cho học sinhlớp 11 qua giảng dạy bài thơ “Từ ấy” (Tố Hữu) Trên cơ sở đó, góp phần đổimới phương pháp dạy học bộ môn trong nhà trường là đề cao vai trò chủ động,tích cực và phát huy năng lực cảm thụ và ứng dụng kiến thức đã học vào thựctiễn cuộc sống Từ đó mà hiệu quả dạy học bộ môn cũng được nâng cao
- Góp phần giáo dục lí tưởng sống cho học sinh, hình thành nhân cách chohọc sinh qua bài học: biết đặt ra mục tiêu, có ý chí nỗ lực và sống có trách nhiệm
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Giáo dục lí tưởng sống cho học sinh lớp 11 qua bài thơ “Từ ấy” của nhàthơ Tố Hữu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí thuyết: Những tài liệu có liên quan đến lí tưởngsống, bài thơ “Từ ấy”
- Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin lớp 11
- Phương pháp thống kê xử lý số liệu: cho học sinh làm bài kiểm tra
- Tiến hành thực nghiệm trong tiết dạy: Đan lồng giáo dục lí tưởng sốngtrong giảng dạy bài thơ “Từ ấy”
Trang 32 Nội dung
2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề
2.1.1 Khái quát chung về lí tưởng sống
2.1.1.2 Biểu hiện về lí tưởng sống qua từng thời đại
Mỗi chúng ta sẽ có quan niệm về lí tưởng sống, tùy thuộc vào hoàn cảnh,trình độ, cách sống của mình Lí tưởng sống có nhiều mặt: lí tưởng chính trị, lítưởng nghề nghiệp, lí tưởng thẩm mĩ Tuy nhiên, những quan điểm ấy vẫn lấy
tư tưởng Hồ Chí Minh làm cốt lõi: lí tưởng cao cả của bản thân luôn góp phầnthúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của đất nước
Lí tưởng của con người trong thời kì chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc:phấn đấu vì độc lập, tự do cho Tổ quốc, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh Lítưởng của thế hệ trẻ ngày nay là phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Lí tưởng sống có những biểu hiện vô cùng phong phú và đa dạng qua cácthời kì, nhưng tựu trung lại, thể hiện chủ yếu ở những điểm sau:
- Suy nghĩ và hành động không mệt mỏi để thực hiện lí tưởng chung củadân tộc, nhân loại
- Vì sự tiến bộ của bản thân và xã hội, luôn vươn tới sự hoàn thiện củabản thân về mọi mặt
- Cống hiến trí tuệ và sức lực cho sự nghiệp chung của cộng đồng, đất nước
2.1.2 Lí thuyết về tích hợp giáo dục lí tưởng sống trong bộ môn Ngữ Văn “Tích hợp là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống theo quan
điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ” [5, tr 891] “Tích hợp” chính là sự hợp nhất,
sự nhất thể hóa để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trênnhững nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là mộtphép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy Hiểu như vậy,
“Tích hợp” có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫnnhau: Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chiagiữa các thành phần kết hợp.Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại cácthành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau.Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ tác động riêng rẽ, không
có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh vực nội dung hay giải quyết một vấn
Trang 4của tiết học Việc vận dụng phương pháp dạy học tích hợp là một trong những
cơ sở đánh giá hiệu quả của một tiết dạy về mặt phương pháp
Trong chương trình THPT, môn Ngữ Văn, năm 2002 của Bộ GD&ĐT,
khái niệm “Tích hợp” cũng được hiểu là “sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc” [1; tr 27] Sự kết hợp ấy tạo cho học sinh sự hứng thú trong giờ học, do đó
sự lĩnh hội tri thức trở nên hiệu quả hơn
Tóm lại, hiểu đúng bản chất khái niệm “tích hợp” có ý nghĩa quan trọnggiúp người giáo viên xác lập được phương pháp dạy học phù hợp, đúng với tinhthần đổi mới phương pháp, đáp ứng yêu cầu mang tính bức thiết của thời đạingày nay
Như vậy, cách làm này giúp cho giờ dạy tránh được sự nhàm chán, giúpcho việc khai thác kiến thức trong bài dạy rộng và sâu, học sinh lĩnh hội đượcnhiều kiến thức và thấy được sự kết nối của các phân môn trong bộ môn, các bàihọc trong chương trình Từ đây, học sinh được rèn luyện kĩ năng so sánh vănhọc và liên hệ thực tế đời sống… Đây là những kĩ năng vô cùng quan trọng vàcần thiết đối với người học
2.1.3 Vai trò của môn Ngữ Văn trong việc giáo dục tư tưởng đạo đức cho thế hệ trẻ
Giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức học sinh nói riêng nhằm hìnhthành hành vi ứng xử văn hoá cho học sinh là vấn đề hết sức cần thiết hiện nay
Đó chính là sự định hướng vào những bản chất tốt đẹp của con người Việt Nammới, vừa giữ được thuần phong mỹ tục của dân tộc, vừa thể hiện sự thông minhsáng tạo của các thế hệ học sinh Việt Nam
Trong chương trình giáo dục, đã có rất nhiều hình thức, môn học nhằmgiáo dục đạo đức cho học sinh như môn Giáo dục công dân, Giáo dục quốcphòng, Ngữ văn, Lịch sử,… Tất cả các môn học này ngoài việc cung cấp kiếnthức thì thông qua đó phải coi trọng và đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục đạođức cho học sinh Không thể giao phó nhiệm vụ ấy cho riêng một môn học nào
mà cần có sự kết hợp chặt chẽ với nhau, biện chứng với nhau hướng tới mộtmục đích chung cuối cùng là giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện nhân
cách cho học sinh Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tôi chỉ đề cập đến vấn
đề giáo dục lí tưởng sống cho học sinh THPT thông qua hoạt động dạy và họcmôn Ngữ văn trong nhà trường
Môn Ngữ văn có giá trị giáo dục rất to lớn, như M.Go-rơ-xki đã nói: “Vănhọc là nhân học” Học văn chính là học cách làm người Qua mỗi tác phẩm vănchương, người thầy giúp học sinh biết yêu, biết ghét và biết ước mơ Đồng thời,môn Ngữ văn làm cho con người phát triển toàn diện hơn
Tất cả những kiến thức lí thuyết trên là cơ sở để tôi thực hiện đề tài sángkiến kinh nghiệm này Bên cạnh đó, tôi cũng khảo sát thực trạng về quan điểm lítưởng sống của học sinh lớp 11A4, 11A9 ở trường THPT Đông Sơn 1 để có giảipháp thực hiện hợp lí, hiệu quả
Trang 52.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.2.1 Thực trạng giáo viên
- Có một thực trạng thường thấy trong các nhà trường hiện nay việc dạyhọc phần văn thơ vẫn còn nặng về kiến thức Người dạy và người học chủ yếu chỉquan tâm đến nội dung nào sẽ phục vụ cho các kì thi, còn nếu không thi thì sẽ bịxem nhẹ Vì vậy người dạy thường say sưa tìm tòi, khám phá sự hấp dẫn về nộidung và nghệ thuật của tác phẩm mà quên mất các nhiệm vụ quan trọng khác
- Một bộ phận giáo viên cũng xem nhẹ tầm quan trọng của công tác giáodục đạo đức, coi đây là công việc của cán bộ chuyên trách… Những lí do nàykhiến giờ dạy và học Ngữ Văn chưa thực sự phát huy tối đa vai trò và tác dụngcủa mình, giờ học nhiều khi còn cứng nhắc, khô khan và nhàm chán
Từ những nguyên nhân trên, có thể thấy, từ việc thiếu áp dụng phươngpháp dạy học phù hợp sẽ dẫn đến một hậu quả lớn Đó là :
- Ảnh hưởng đến chất lượng viết bài làm văn nghị luận văn học ở họcsinh Các em không có khả năng liên hệ, mở rộng nội dung bài học
- Ảnh hưởng đến phương pháp và năng lực viết bài văn nghị luận xã hội.Các em không phát hiện được những vấn đề xã hội vốn có trong các tác phẩmvăn chương đã học
- Khả năng liên hệ giữa kiến thức bài học với thực tế đời sống của họcsinh còn gặp nhiều hạn chế
- Hiện nay nhiều học sinh thờ ơ, thậm chí còn chán học văn, kể cả tácphẩm văn học hiện đại Bởi bây giờ các em thích xem phim, nghe nhạc trẻ hơn
là những tác phẩm văn học chứa đựng những lí tưởng sống cao đẹp
* KẾT QUẢ KHẢO SÁT CỤ THỂ TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI Ở LỚP11A4, 11A9 TRƯỜNG THPT ĐÔNG SƠN 1 NĂM HỌC 2018 - 2019 LÀ:
HS nắm bắt khái niệm và có lí tưởng sống tích cực
tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng “Học sinh chưa có lí tưởng sống tích
Trang 6cực”, để từ đó tìm ra biện pháp dạy học hợp lí nhằm nâng cao tư tưởng, ý thức
2.3.1.1 Phần hoạt động khởi động bài học
- Vai trò của phần mở đầu bài học: Làm cho người học tập trung, chú ý,quan tâm và bước đầu tạo sự tích cực tham gia vào bài học, các em sẽ bị cuốnhút vào bài học một cách tự nhiên nhất Người học đồng thời cũng định hướngđược mình sẽ học cái gì ở tác phẩm này? Vì vậy, phần mở đầu bài học có ý nghĩaquan trọng, kích thích năng lực tư duy khám phá bài học của các em học sinh
- Bằng kinh nghiệm bản thân, tôi xin giới thiệu một số hình thức mở đầubài học như sau:
+ Mở đầu trực tiếp (Có thể chọn một trong ba hình thức sau):
Khái quát lại bài học trước từ đó tạo mối liên hệ với bài mới và chỉ rađược tầm quan trọng của bài học trong giai đoạn Văn học
Giới thiệu tên bài và mục tiêu cần đạt được
Giới thiệu tên bài và mô tả những hoạt động sắp thực hiện
+ Mở đầu gián tiếp (Có thể chọn một trong ba hình thức sau):
Nêu lên một sự kiện bất thường liên quan đến chủ đề bài dạy
Đưa ra một vài con số thống kê, chiếu một đoạn phim hoặc kể một câuchuyện có liên quan
Trình chiếu một số hình ảnh liên quan đến nội dung bài học, sau đó dẫndắt vấn đề
Tổ chức trò chơi ô chữ: từ việc lật mở các ô chữ hàng ngang sẽ tìm ra từchìa khóa có liên quan đến bài học
Đặt một loạt câu hỏi vấn đáp (đó là những câu hỏi gắn với kinh nghiệm,nội dung đã học và nội dung liên quan tới bài mới hoặc đó là câu hỏi mang tínhthách đố)
- Một số lưu ý đối với giáo viên:
+ Lời giới thiệu bài mới phải ngắn gọn, súc tích, chỉ trong khoảng thờigian từ 3 đến 5 phút
+ Phải thể hiện sự nhiệt tình, tạo sự gần gũi, thân thiện, hài hước đúng mực
2.3.1.2 Phần tiểu dẫn
Lâu nay, trong những giờ đọc hiểu văn bản văn học, giáo viên và học sinhthường cho rằng các thông tin trong phần tiểu dẫn không quan trọng và thường ít
để tâm đến Tuy nhiên, đây là một quan niệm sai lầm Bởi lẽ, chính những yếu
tố ngoài văn bản được trình bày trong đó lại là cơ sở quan trọng để giải mã vănbản văn học, đồng thời phát triển tư duy, phát huy tính tích cực chủ động vàhứng thú học tập của học sinh
Khi giảng dạy phần tiểu dẫn bài “Từ ấy”, giáo viên có thể tích hợp giáo dụcniềm tự hào về tác giả Tố Hữu Ông không chỉ là lá cờ đầu của thơ ca cáchmạng, mà còn là một nhà cách mạng của đất nước
Trang 7Bên cạnh đó, từ những thông tin về hoàn cảnh ra đời bài thơ có trong phầntiểu dẫn, giáo viên có thể tích hợp giáo dục về lí tưởng cao cả của thế hệ nhữngngười trẻ tuổi sẵn sàng xếp bút nghiên lên đường chiến đấu khi Tổ quốc lâm nguy.
2.3.1.3 Phần Đọc hiểu bài thơ
- Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh chủ động, tíchcực khám phá bài học theo mức độ tăng dần: từ phát hiện -> đọc hiểu kĩ -> đọchiểu sâu văn bản Có thể minh họa các mức độ theo tiến trình câu hỏi sau:
+ Câu hỏi phát hiện (phát hiện các khía cạnh độc đáo của ngôn từ nghệthuật: Từ ngữ, hình ảnh, chi tiết, các biện pháp tu từ ) Ví dụ: Đọc câu thơ/đoạn thơ, có từ ngữ/hình ảnh nào làm em chú ý ? )
+ Câu hỏi về giá trị biểu đạt, hiệu quả nghệ thuật của các thủ pháp nghệthuật nhằm gợi mở, kích thích trí tưởng tượng, khả năng liên tưởng, liên hệ, khảnăng cảm thụ văn học của học sinh VD: Cảm nhận của em về cảnh vật/ tìnhcảm, cảm xúc ) được gợi lên qua chi tiết/từ ngữ/ hình ảnh đó?
+ Câu hỏi về thông điệp tư tưởng tình cảm, ý nghĩa triết lí tác giả muốngửi gắm qua tác phẩm VD: Qua bức tranh cảnh vật/con người/tâm trạng/cảmxúc tác giả muốn gửi gắm đến chúng ta điều gì?
+ Câu hỏi về sự đóng góp về nghệ thuật và nội dung của tác phẩm VD :Thành công của tác giả xét ở phương diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm?
- Giáo viên lồng ghép tích hợp giáo dục lí tưởng sống cho học sinh thôngqua hình thức câu hỏi Tuy nhiên, đó phải là những câu hỏi có nội dung liênquan đến bài học, yêu cầu học sinh giải quyết Từ đó rút ra bài học yêu cầu giáodục học sinh
Bằng kinh nghiệm thực tế giảng dạy lồng ghép tích hợp lí tưởng sống, tôi xinmạnh dạn giới thiệu một số dạng câu hỏi tích hợp giáo dục lí tưởng sống sau:
+ Em có đồng tình với quan điểm sống của tác giả?
+ Nếu là em, em sẽ giải quyết/ứng xử vấn đề này như thế nào?
+ Xét về điều này, em thấy mình còn những hạn chế nào?
+ Từ lí tưởng sống của nhân vật trữ tình, em học được cách khắc phục hạnchế của bản thân như thế nào?
2.3.2 Biện pháp 2: Lồng ghép giáo dục lí tưởng sống vào phần củng cố bài học
Trong hoạt động dạy và học, tiến trình bài giảng chia thành nhiều bước.Phần việc “củng cố - dặn dò” là thao tác cuối cùng sau khi tìm hiểu xong toàn bộgiá trị của tác phẩm, trước khi kết thúc giờ học Tuy là phần việc cuối cùngchiếm khối lượng thời gian ít ỏi nhưng có vai trò quan trọng, cũng là một phầntạo nên sự hoàn thiện của một giờ lên lớp Nếu biết vận dụng linh hoạt sáng tạophương pháp chắc hẳn phần việc này sẽ có tính hiệu quả và sức hấp dẫn hơn chohoạt động dạy và học của thầy trò Nhiệm vụ chính của người giáo viên trongphần việc “củng cố- dặn dò” gồm hai nội dung cơ bản:
- Thứ nhất, nhằm khắc sâu kiến thức bài học, giáo viên chủ động cung cấpthêm thông tin, tư liệu để mở rộng kiến thức, liên hệ, so sánh giúp học sinhhiểu được bản chất, sâu sắc bài học
- Thứ hai, chú trọng đến hệ thống câu hỏi để học sinh thảo luận, trao đổi,
Trang 8trình bày những hiểu biết và kiến giải của mình về bài học.
Như vậy, khi giảng xong bài thơ “Từ ấy”, giáo viên có thể đặt ra câu hỏicủng cố kiến thức và giáo dục lí tưởng sống cho học sinh: Qua tiết học, bản thân
em đã rút ra bài học gì cho bản thân mình?
2.3.3 Biện pháp 3: Tích hợp giáo dục lí tưởng sống bằng cách liên hệ,
mở rộng đối chiếu với lí tưởng sống trong các tác phẩm cùng đề tài
“Thi ngôn dĩ chí”(thơ nói chí), thể hiện quan điểm sống lối sống của conngười là nội dung lớn, một dòng chảy xuyên suốt từ văn học dân gian đến vănhọc viết, từ trung đại đến hiện đại Vì vậy, khi dạy và học bài “Từ ấy”, ta dễdàng liên hệ đến rất nhiều tác phẩm cùng đề tài Giáo viên có thể hỏi: Em hãyliên hệ với một số tác phẩm thể hiện lí tưởng sống tích cực trong thơ ca ViệtNam?
Tất nhiên, tuỳ vào thời lượng của tiết học, khả năng tiếp nhận của họcsinh mà giáo viên sẽ có sự liên hệ, mở rộng một cách hợp lí Nhưng tựu trunglại, qua sự đối chiếu này, các em có thể nhận ra, lí tưởng sống không phải củariêng một tác phẩm, một thời kì văn học nào Các em có thể hình thành lí tưởngcao đẹp từ việc cảm thụ kho tàng thơ văn đồ sộ của dân tộc Việt Nam
2.3.4 Vận dụng một số kinh nghiệm giáo dục lí tưởng sống trong dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT vào thiết kế giáo án, giảng dạy bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu
- Biết đọc – hiểu một bài thơ
- Biết suy nghĩ và xác định thế nào là một lối sống đẹp; những biểu hiệncủa một nhân cách đẹp – nhân cách của người cách mạng
3 Thái độ
Học sinh tự nhận thức được sống có lí tưởng, có ước mơ, quyết tâm phấnđấu thực hiện ước mơ, lí tưởng, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình,cộng đồng là một lối sống đẹp
II Các phương pháp/kĩ thuật dạy học tích cực có thể sử dụng
1 Trò chơi ô chữ: Chia lớp làm 04 nhóm, tổ chức cho các nhóm tham
gia thi “Đoán ô chữ” trong thời lượng 3 phút, yêu cầu học sinh trả lời câu hỏihàng ngang, từ đó tìm ra ô chữ chìa khóa ở cột dọc
2 Kĩ thuật đặt câu hỏi: Gv đặt những câu hỏi gợi mở để dẫn dắt học
sinh khám phá tác phẩm
3 Tổ chức nhóm: Gv chia nhóm, tổ chức học sinh thảo luận
IV Chuẩn bị của GV và HS
1 Chuẩn bị của GV
Trang 9- SGK, thiết kế bài học
- Máy tính, máy chiếu, các slides trình chiếu
- Phiếu học tập: có in câu hỏi, bài tập dùng để kiểm tra
- Phân công nhóm
2 Chuẩn bị của HS
- Xem lại tác phẩm “Từ ấy” và tác giả Tố Hữu
- Soạn bài theo các câu hỏi của phần Hướng dẫn học bài
III Tiến trình dạy học:
Hoat động 1: Mở đầu bài học (05 phút)
Yêu cầu: Bốn nhóm cùng tham gia thi
“Trò chơi ô chữ tìm từ chìa khóa”
Mỗi nhóm có 30s để thảo luận, tìm từ
chìa khóa
1 Nhà thơ nào được xem là nhà thơ
lạ nhất của phong trào thơ mới?
2 Đây là nhà thơ của nỗi buồn thiên
thu, mối sầu vạn kỉ trong nền thơ ca
Việt Nam?
3 Hình ảnh thơ mới gợi tả thân phận
nổi trôi, vô định trong bài thơ “Tràng
giang” của Huy Cận?
4 Qua hình ảnh “lô dĩ hồng” trong
“Chiều tối”, Hồ Chí Minh đã vận
dụng thủ pháp nghệ thuật gì?
5 Trong hai bài “Chiều tối” và
“Tràng giang”, hai tác giả đều mượn
hình ảnh nào để diễn tả thời gian
chiều tà?
6 Hãy điền vào dấu ba chấm tên tác
giả phù hợp: ‘Ta thoát lên tiên
cùng , ta phiêu lưu trong trường tình
cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng
với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta
đắm say cùng Xuân Diệu.”
7 Nhà thơ của sự “ám ảnh thời gian”
Trang 10gợi dẫn, tạo tình huống có vấn đề
như: Mục tiêu trong cuộc đời có ý
nghĩa ra sao? Nếu như mỗi chúng ta
sống không có mục tiêu đề ra, không
Hình thức: cá nhân đan xen hoạt động nhóm
Kĩ thuật: đặt câu hỏi, thảo luận
2.1 Tìm hiểu chung (05 phút).
Hình thức: cá nhân
Kĩ thuật: đặt câu hỏi
B1: GV nêu câu hỏi:
- Giới thiệu ngắn gọn về nhà thơ
Tố Hữu và bài thơ?
giả và hoàn cảnh ra đời của bài
thơ Tố Hữu đã sớm giác ngộ lí
tưởng cách mạng, mười tám tuổi
đã được vinh dự đứng trong hàng
ngũ của Đảng Nhà thơ ý thức
được sứ mệnh của người thanh
niên trong hoàn cảnh đất nước có
chiến tranh Với tinh thần nhập
cuộc hăng hái, mê say, Tố Hữu đã
- Năm 1938, ông được kết nạp vào Đảngcộng sản → trở thành nhà thơ cộng sản
- Tố Hữu đến với thơ và cách mạng cùngmột lúc → con đường thơ của ông luôn gắn
bó và phản ánh chân thật những chặngđường cách mạng Việt Nam
- Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu: thơ trữtình chính trị; khuynh hướng sử thi, cảmhứng lãng mạn; tính dân tộc; giọng điệungọt ngào chan chứa tình thương mến
=>Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, là
lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam
- Sáng tác vào tháng 7 năm 1938: Ghi nhận
kỉ niệm đáng nhớ về ngày nhà thơ được