1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng kĩ thuật liên văn bản vào dạy đọc hiểu hai đoạn trích người lái đò sông đà (nguyễn tuân) và ai đã đặt tên cho dòng sông

28 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 276,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua bài viết này, tôi mong muốn tìm ra giải pháp giảngdạy hai tác phẩm trên đạt hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy họcvăn cho học sinh THPT, giúp các em khai thác đúng hướng

Trang 1

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ 2

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2

II PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 3

III CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI 3

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4

I CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI 4

1 Cơ sở lý luận 4

2 Cơ sở thực tiễn 9

II MỘT SỐ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG KĨ THUẬT LIÊN VĂN BẢN VÀO DẠY HỌC HAI ĐOẠN TRÍCH 11

1 Một số hình thức kết nối các văn bản với nhau 1 1 1.1 Liên kết văn bản văn học với các loại văn bản khác 1 1 1.2 Liên kết văn bản văn học với các phương diện, lĩnh vực khác 11

1.3 Liên kết văn bản văn học với phong cách của nhà văn 13

1.4 Liên kết văn bản văn học với thể loại 14

1.5 Liên kết văn bản văn học với giai đoạn văn học 15

2 Nguyên tắc vận dụng 17

2.1 Kết hợp các văn bản phù hợp với mục tiêu cụ thể của giờ học 17

2.2 Giữ vai trò chủ đạo của văn bản chính 18

2.3 Đảm bảo cách thể hiện hiện riêng của văn bản đang học 18

2.4 Sử dụng tranh ảnh minh họa phù hợp 19

3 Kết quả vận dụng 20

C KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 23

I Kết luận 23

II Đề xuất 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Đổi mới phương pháp dạy học đã và đang được Đảng, Nhà nước, Quốc

hội, nghành Giáo dục và nhân dân hết sức quan tâm Chiến lược phát triển giáodục và đào tạo đến năm 2020 đã khẳng định một trong những giải pháp quantrọng để phát triển giáo dục là “Đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, thi,

kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục” Hội nghị lần thứ VIII BCH Trung

ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết 29 - NQ/TW về đổi mới căn bản,

toàn diện giáo dục và đào tạo Nghị quyết chỉ đạo: “…Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển nhằm tạo “chuyển biến căn bản, mạnh mẽ

về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân” Nghị quyết đã

hướng tới xây dựng một nền giáo dục nước nhà có những chuyển biến mạnh mẽ,vận động theo quỹ đạo chung của giáo dục thế giới, chú trọng triển phẩm chất,

năng lực người học Hơn nữa, mục tiêu của Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông (Áp dụng từ năm 2018 - 2019), đã chỉ rõ: Giúp học sinh phát triển hài hòa cả thể chất lẫn tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hóa cần cù, sáng tạo Với mục tiêu này, chúng ta có thể thấy thấy chương trình giáo dục phổ

thông mới hướng đến đề cao vai trò, vị trí của người học, phát triển một cáchtoàn diện và sâu sắc hơn cho các em

2 Bản thân tôi trong quá trình giảng dạy đã cố gắng tìm tòi, học hỏi và

nghiên cứu để rút ra kinh nghiệm nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học

và nâng cao chất lượng giáo dục Thực tế trải nghiệm giảng dạy khiến tôi cónhiều trăn trở đối với môn Ngữ Văn thuộc chương trình THPT nói chung và haiđoạn trích: Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng

sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 12 nói

riêng Tôi cũng thường xuyên đi dự giờ các đồng nghiệp để tích lũy và học hỏikinh nghiệm dạy học cho mình Dù đã áp dụng nhiều phương pháp dạy học cảtruyền thống lẫn hiện đại song tôi thật sự chưa thấy hài lòng và thỏa mãn với cáctiết dạy của mình cũng như của các giáo viên khác Cái khó của người dạy vàngười học tác phẩm của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường là ở chỗ: haiông không chỉ là những nhà văn xuất sắc của nền văn học VNHĐ mà còn là hainhà văn hóa, có vốn sống phong phú, vốn hiểu biết uyên bác về nhiều lĩnh vực

Để tiếp cận được những văn bản này đòi hỏi người dạy mà cả người học cần

Trang 3

được trang bị phông văn hóa chung ở mức tối thiểu như các tư liệu về lịch sử, địa

lí, văn chương cổ, … các văn bản của tác giả hoặc nhiều văn bản khác liên quantới tác phẩm

Từ những vấn đề trên là nguyên nhân thôi thúc chúng tôi thực hiện đề tài:

"

Vận dụng kĩ thuật liên văn bản vào dạy đọc hiểu hai đoạn trích: Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông ? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) giúp nâng cao hiệu quả dạy học và học cho học sinh lớp 12 trường THPT Thạch Thành 4” Đây là một vấn đề bổ ích, thiết thực đối với nghề

nghiệp của chúng tôi Qua bài viết này, tôi mong muốn tìm ra giải pháp giảngdạy hai tác phẩm trên đạt hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy họcvăn cho học sinh THPT, giúp các em khai thác đúng hướng thể loại kí, cũng nhưkhơi gợi trong các em những rung động đích thực và sự đồng cảm sâu sắc đốivới hai nhà văn – hai nhà văn hóa ưu tú của nền văn học Việt Nam hiện đại

II PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

Đề tài vận dụng kết hợp nhiều phương pháp:

- Phương pháp thống kê…

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp phân tích tổng hợp

III CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần đặt vấn đề, phần kết luận thì phần giải quyết vấn đề có các nộidung sau:

- Cơ sở của đề tài

- Một số biện pháp vận dụng kĩ thuật liên văn bản vào dạy học hai đoạn trích trên

- Hiệu quả ứng dụng của đề tài

Trang 4

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận

1.1 Lý thuyết liên văn bản và kỹ thuật liên văn bản

1.1.1 Khái niệm liên văn bản và đặc điểm của kỹ thuật liên văn bản

Liên văn bản là một trong những khái niệm trọng yếu nhất trong các lý

thuyết văn học thế giới từ nửa sau thế kỷ 20 đến nay, có sức hút mạnh mẽ vớicác học giả quốc tế nói chung và các lý thuyết gia nghiên cứu phê bình văn họcnói riêng

Thuật ngữ liên văn bản là thuật ngữ xuất hiện trong ngành lí luận văn học

hiện đại Khái niệm liên văn bản gắn liền với ba tên tuổi: J.Derrida, R.Barthes

và J.Kristeva - các lý thuyết gia tiên phong trong trào lưu Giải cấu trúc và phê

bình Hậu hiện đại "Nếu Jacques Derrida là người đầu tiên khơi động ý tưởng

“không có gì ngoài văn bản” để manh nha những ý thức phôi thai về vai trò củaintertextuality thì, Roland Barthes mới là kẻ đi đầu trong sự cổ xuý và quảng bá

tư tưởng này như một bước đột phá lớn - đưa văn học từ điểm nhìn gò bó và tùhãm dựa trên hệ lý thuyết cấu trúc luận (structualism), sang một cách nhìn rộnghơn, sâu hơn và nhiều tự do hơn của lý thuyết giải cấu trúc (deconstruction), qua

tác phẩm Cái chết của tác giả (The Death of the Author, 1968) – lần đầu tiên,

một nhà phê bình đánh dấu sự cáo chung vai trò của người viết áp đặt lên nguồngốc của một tác phẩm văn học…"

Khái niệm liên văn bản xuất hiện lần đầu tiên trong tiểu luận “Bakhtine, từngữ, đối thoại và tiểu thuyết” do J.Kristeva khởi xướng vào mùa thu năm 1966,đọc tại seminar do R.Barthes chủ trì Đối với J.K risteva: “Văn bản không đượchình thành từ những ý đồ sáng tác riêng tây của tác giả mà chủ yếu là từ nhữngvăn bản khác đã hiện hữu trước đó: mỗi văn bản là một sự hoán vị của các vănbản, nơi lời nói từ các văn bản khác gặp gỡ nhau, tan loãng vào nhau và trunghòa sắc độ của nhau” Nói cách khác, không có văn bản nào thực sự cô lập, mộtmình một cõi, như một sự sáng tạo tuyệt đối: văn bản nào cũng chịu sự tác độngcủa văn bản văn hóa, cũng chứa đựng ít nhiều những cấu trúc ý thức hệ quyềnlực thể hiện qua các hình thức diễn ngôn khác nhau trong xã hội Từ đó có thểthấy: " Khái niệm liên văn bản nhắc nhở cho người đọc nhận biết một cách có ýthức rằng, mỗi văn bản tồn tại trong sự liên hệ với văn bản khác, có thể xuất hiệntrước hoặc cùng thời; thực tế, văn bản lệ thuộc vào những văn bản khác cònnhiều hơn vào chính người tạo ra nó" Trong ý nghĩa này, Kristeva xem văn bản

có tính sản xuất, lúc nào cũng là quá trình vận động và tương tác liên tục Có thểnói, R.Brathes là người thành công hơn cả trong việc phát triển lý thuyết liên vănbản Phân tích mối quan hệ từ tác phẩm đến văn bản, ông cho rằng “Sáng tạo ratác phẩm, mỗi tác giả tất yếu sẽ chắt từ “kho lưu trữ” văn bản vô tận, kiến tạo

Trang 5

cấu trúc ngữ nghĩa của mình với sự hỗ trợ của chất liệu được cất giữ trong vănbản, có thể là những lời, những câu riêng lẻ hay cả một đoạn văn được cố ý vaymượn từ tác phẩm của người khác, đọc được trên báo chí, nghe được ngoàiđường phố, từ màn hình ti vi những diễn văn thuyết trình đủ loại, những thểloại, phong cách, mã xã hội, diễn ngôn tức là những gì tạo nên các ngữ cảnhvăn hóa riêng lẻ cũng như văn bản văn hóa nói chung Người nói/người viếtkhông mấy hiểu rõ “văn bản” riêng của mình (ký ức văn hóa của mình) nhưngngoài ý muốn, ký ức ấy vẫn chi phối họ ngay từ thời thơ ấu

Bên cạnh đó, nhận định của Barthes: “Liên văn bản được hiểu như làthuộc tính bản thể của mọi văn bản…bất kỳ văn bản nào cũng là liên văn bản” -tức là được nhận định như là sự xóa nhòa ranh giới giữa các văn bản của các tácgiả riêng rẽ, giữa văn bản văn học cá nhân và văn bản vĩ mô của truyền thống,giữa các văn bản thuộc các thể loại và loại hình khác nhau (không nhất thiết làmang tính nghệ thuật) giữa văn bản và độc giả và cuối cùng, giữa các văn bản vàhiện thực Tác phẩm và văn bản liên quan tới hai dạng khác nhau của ý thức conngười Tác phẩm gắn với ý thức cá nhân của chủ thể ý chí (tác giả) còn văn bản -như đã nêu trên - gắn với ký ức vô thức của văn hóa Văn bản có sự phong phúngữ nghĩa vô hạn, còn phạm vi đọc và kinh nghiệm văn hóa của người tiếp nhậnlại hữu hạn Thực sự đời sống được kiến tạo và xây dựng lên từ văn bản ở mộtmức độ vô cùng lớn lao và sâu rộng, nó đã trở nên tự động hóa chính đối tượngtiếp nhận như chúng ta thường lãng quên

Từ đó đến nay, học giới quốc tế đã tiếp nhận và vận dụng rộng rãi kháiniệm liên văn bản trên nhiều lĩnh vực Liên văn bản là một hệ thống lý thuyếtphức tạp, kỹ thuật liên văn bản cũng muôn màu muôn vẻ trong sáng tác và tiếpnhận Những tư tưởng, diễn ngôn được triển khai từ khái niệm liên văn bản đãtrở nên vô cùng phong phú trong đó hàm chứa không ít quan điểm đối lập đồngthời cũng được làm chỗ dựa để mở rộng sang các địa hạt khác nhau: tôn giáo,lịch sử, xã hội học

1.1.2 Vận dụng kỹ thuật liên văn bản trong sáng tác và tiếp nhận văn bản

Thực tế đã cho thấy, liên văn bản như là một thuộc tính cố hữu của vănbản Lý thuyết liên văn bản được xây dựng trên thế giới quan của thế kỷ 20bởi các lý thuyết gia hiện đại và hậu hiện đại; vì thế nó tương ứng với nhữngsáng tác của thời hậu hiện đại - vài chục năm trở lại đây Như vậy có thể thấy:

"Một khi bắt đầu, từ một góc độ văn hoá, một quan niệm đạo đức hay một ẩn dụtrong văn bản, tính chất liên văn bản của việc đọc sẽ càng lúc dẫn chúng ta đi xa

và đi sâu trong sự phân tích Khi đạt đến mức độ đủ sức phá vỡ tính chất trungtâm của cấu trúc, sự hoạt tác của các yếu tố trong cấu trúc/hệ thống (văn bản) tựthân sẽ trở thành các yếu tố tự do và tương tác lẫn nhau trong bối cảnh của mộttrò chơi ngôn ngữ" Tuy nhiên, do bản thân liên văn bản ôm chứa nhiều vấn đềcủa sáng tác, của tồn tại, trong đó có những vấn đề mang tính “xuyên thời

Trang 6

gian” nên nó hoàn toàn có thể được vận dụng trong dạy học Ngữ Văn ởtrường phổ thông đối với đối tượng khám phá của chúng ta là những văn bảnthuộc các thế kỷ trước.

Sáng tạo ra tác phẩm, mỗi tác giả sẽ chắt từ “kho lưu trữ” văn bản vô tậncủa mình với sự hỗ trợ của chất liệu được cất giữ trong văn bản; có thể là nhữnglời, những câu riêng lẻ hay cả một đoạn văn được vay mượn từ tác phẩm củangười khác, đọc được trên báo chí, nghe được ngoài đường phố, từ màn hình tivi những diễn văn thuyết trình đủ loại, những thể loại, phong cách, mã xã hội,diễn ngôn tạo nên các ngữ cảnh văn hóa riêng lẻ cũng như văn bản văn hóa nóichung Mọi văn bản đều là tấm vải mới đan dệt từ những trích dẫn đã từng được

sử dụng Như vậy khi vận dụng kỹ thuật liên văn bản trong sáng tác trong dạyhọc Ngữ Văn ở THPT, chúng ta cần rất uyển chuyển, linh hoạt trong việc thựchiện các thao tác nhằm rèn tập cho học sinh một tư duy mới với những kỹnăng cần thiết để các em có thể có thể đọc hiểu văn bản văn học một cáchsống động, ham thích, mang đầy tính độc lập, khám phá và sáng tạo theo tinhthần liên văn bản

Khái niệm liên văn bản định hướng cho người đọc nhận biết một cách có ýthức rằng: mỗi văn bản tồn tại trong sự liên hệ với văn bản khác, có thể xuất hiệntrước đó hoặc cùng thời và thực tế thì văn bản lệ thuộc vào những văn bản kháccòn nhiều hơn vào chính người tạo ra nó Điều này đã được M.Foucault, một lýthuyết gia hậu hiện đại nhấn mạnh:" Những biên giới của một cuốn sách khôngbao giờ rõ ràng: bên kia trang bìa ghi ra tựa đề cuốn sách, bắt đầu từ những dòngđầu tiên cho đến khi cuốn sách ngưng lại ở dấu chấm cuối cùng, vượt ra ngoàicấu trúc nội tại và hình thức tự thân của cuốn sách ấy; thực chất, cuốn sách bịtrói chặt vào một mạng nhện các trích dẫn từ nhiều cuốn sách khác, những vănbản khác, hay những dòng văn lắng lại trong ký ức thu nhận được, trong nhiềuquá trình đọc trước đây Cuốn sách chỉ là một điểm nối kết nhỏ bé trong mộtmạng lưới vô cùng rộng lớn trong nhiều trường hợp viết chỉ là một “Trò chơicủa ngôn ngữ”: người viết tạo ra càng nhiều yếu tố tự do trong ngôn ngữ baonhiêu sẽ càng tốt bấy nhiêu và việc tạo nghĩa từ các trò chơi này tùy thuộc vàongười đọc Người đọc - trong nhiều trường hợp có vai trò to lớn trong việc tạo ýnghĩa cho “trò chơi ngôn ngữ” này

Như thế, theo lý thuyết liên văn bản - vai trò người đọc nói chung và đọchiểu văn bản văn học nói riêng - là rất quan trọng Thừa nhận vai trò của ngườiđọc không đồng nghĩa với việc phủ nhận vai trò của nhà văn bởi nhiều nhànghiên cứu phê bình văn học cũng hàm chứa đầy tài năng, tâm hồn, trí tuệ và tráitim nhạy cảm của chính những người sáng tác

Trang 7

1.2 Tùy bút/bút kí Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên

cho dòng sông ? của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường đều là những gương mặt tiêu

biểu, xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt ở thể loại ký Cả hainhà văn đã có những đóng góp đáng kể trong sự vận động và phát triển của nềnvăn học nước nhà Mỗi người một phong cách, một dấu ấn cá nhân rất riêngnhưng họ đều rất thành công ở thể loại ký (gồm tùy bút và bút kí) Để từ đó,nhắc tới tùy bút, không ai là không nhớ đến Nguyễn Tuân Và ở thể loại bút kí,mọi người đều nhớ ngay đến nhà văn của mảnh đất cố đô Hoàng Phủ NgọcTường

Nguyễn Tuân là một tác giả lớn có nhiều đóng góp cho nền văn học dântộc Trong quá trình sáng tạo văn học hơn nửa thế kỷ của mình, nhà văn đã hìnhthành cho mình một phong cách nghệ thuật hết sức độc đáo Nguyễn Tuân sángtác và thành công trên nhiều thể loại nhưng dường như "đo ni đóng giày" chonhà văn phải kể đến đó là tùy bút Ở thể loại này, tác giả đã cho ra đời những đứacon tinh thần hết sức đặc sắc như: Tùy bút Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi,

tập Sông Đà đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn của bậc

THPT Tác phẩm gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ dạng phác thảo Đề tài của

Sông Đà là cuộc sống, con người Tây Bắc trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa

xã hội Qua tác phẩm, nhà văn đã cho mọi người thấy cái không khí phấn chấntrong cuộc sống mới không chỉ diễn ra ở những thành phố lớn, những đô thị sầmuất mà ngay cả ở những nơi heo hút nhất, xa xôi nhất và ngút ngàn nhất cũng rạorực không kém Tác giả đã khám phá ra "chất vàng mười" ẩn dấu trong tâm hồncủa người dân Tây Bắc mộc mạc, thuần hậu Qua đoạn trích Người lái đò sông

Đà và tác phẩm Sông Đà, người đọc sẽ thấy rất rõ không khí của thời đại lan

toản khắp không gian và núi rừng đại ngàn Tây Bắc xa xôi, phản ánh rõ bứctranh chuyển mình của Tây Bắc, "cuộc đời mới đang bén rễ đâm chồi mạnh vànơi đây đang kết tinh nhiều giống hoa say nồng chưa nở một lần trên đồi lũngThái Mèo"

Ra đời sau tùy bút Sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông? là tập bút kýxuất sắc viết tại Huế năm 1981, rút từ sáng tác cùng tên của nhà văn Hoàng PhủNgọc Tường Tác phẩm gồm 8 bài ký, viết ngay sau năm 1975, trong đó thấmđẫm lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và chủ nghĩa anh hùng Những cảm hứng

ấy được thể hiện rõ nét trong tình yêu, lòng tự hào sâu sắc của nhà văn đối với vẻđẹp thơ mộng và hùng vĩ của thiên nhiên đất nước, với truyền thống lịch sử vănhóa lâu đời của dân tộc, với những phẩm chất cách mạng kiên cường của conngười Việt Nam thời đại mới Những nội dung ấy được truyền đạt bởi một ngòibút tài hoa với những hiểu biết sâu rộng, lối hành văn hướng nội, đẹp đẽ sangtrọng, súc tích và tinh tế được xuất phát từ cảm hứng về dòng sông Hương thơ

Trang 8

mộng của xứ Huế Dòng sông quê hương được soi chiếu từ nhiều góc độ của lịch

sử, địa lý, văn hóa Qua những suy tư và liên tưởng, dòng sông đã trở thànhbiểu tượng cho vẻ đẹp của đất cố đô với trang sử vẻ vang, với cảnh sắc thiênnhiên thơ mộng, trở thành biểu tượng cho văn hóa và tâm hồn con người xứ Huế.Bài tùy bút mang đậm phong cách tùy bút bởi giọng văn phóng túng và sự bộc lộcái “tôi” suy tư, trữ tình của nhà văn

Như vậy, hai đoạn trích trên đều là những tác phẩm đặc sắc của hai đạidiện tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại Mỗi văn bản đều có những đặc sắcrất riêng, thể hiện rất đậm nét phong cách cá nhân của mỗi tác giả

1.3 Các công trình nghiên cứu về phương pháp giảng dạy tác phẩm kí/tùy bút ở nhà trường phổ thông.

Trong bức tranh thể loại của văn học Việt Nam, kí chiếm một số lượng lớn

tác phẩm và cũng có nhiều tác phẩm đặc sắc từ trung đại đến hiện đại Chính vìvậy, trong chương trình Ngữ Văn của học sinh THPT, các em đã được làm quen

với thể loại này qua một số đoạn trích tiêu biểu như: Vào phủ chúa Trịnh trích Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác; Người lái đò Sông Đà in trong tập Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? rút từ tập bút kí cùng tên của

nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường Dẫu số lượng tác phẩm chưa nhiều nhưngphần nào đó phản ánh được diện mạo của thế loại kí trong tiến trình vận động vàphát triển của thể loại văn học Việt Nam

Hiện nay theo quan sát, thống kê và tìm hiểu của chúng tôi, các côngtrình, bài viết hướng dẫn dạy đọc hiểu theo đặc trưng của thể loại ký/ bút kíkhông nhiều, có thể kể đến một số ví dụ điển hình như: Tác phẩm văn học trong

nhà trường phổ thông, một góc nhìn một cách đọc của tác giả Phan Huy Dũng; Chuyên đề dạy - học Ngữ Văn 12: Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Lê Thị

Hường; Về việc giảng dạy thể ký và ký Hoàng Phủ Ngọc Tường trong chương

trình văn học phổ thông của tác giả Lê Trà My, in trên Tạp chí Giáo dục (2003); Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho học sinh phổ thông qua dạy học tùy bút "Ai đã đặt tên cho dòng sông? luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Hồng Mai (2005); Người lái đò Sông Đà, vẻ đẹp của một dòng sông chữ in trong tác phẩm Nghĩ từ công việc dạy Văn của Giáo sư Đỗ Kim Hồi…

Nhìn chung, các chuyên đề, bài viết trên đều có chung một hướng tiếp cậntheo đặc trưng thể loại Khai thác hai văn bản kí của Nguyễn Tuân và Hoàng PhủNgọc Tường trong chương trình Ngữ văn 12 theo đặc trưng thể loại là mộthướng tiếp cận khoa học, phù hợp với đặc thù môn Ngữ Văn Nó sẽ hình thành ởgiáo viên phương pháp phù hợp để đi vào khám phá tác phẩm, từ đó thấy đượccái hay cũng như vẻ đẹp riêng của kí so với các thể văn xuôi khác Giáo viên có

cơ sở khoa học để soạn giảng giáo án và lên lớp một cách hợp lí Còn về phíahọc sinh, các em sẽ được trang bị một “chìa khóa” để “mở cửa” vào thế giớinghệ thuật của hai tác phẩm kí Nhờ đó, học sinh vừa hiểu được đối tượng miêu

Trang 9

tả, vừa thấy được vẻ đẹp, chất thơ duyên dáng của mỗi bài kí Hơn nữa, học sinh

có điều kiện để rèn luyện tư duy văn học theo thể loại Tuy nhiên, như trên đãnói, những công trình này cũng chỉ mới dừng lại ở phương pháp tiếp cận tácphẩm theo đặc trưng thể loại Nghĩa là các giá trị văn học khám phá được còn bị

“đóng khung” trong nội tại tác phẩm Nó chưa có được sự mở rộng ý nghĩa đến

vô hạn như hình thức tiếp cận theo hướng liên văn bản

2 Cơ sở thực tiễn

Qua thực tế giảng dạy, dự giờ và tham khảo ý kiến những đồng nghiệpkhác trên địa bàn, chúng tôi nhận thấy việc vận dụng kĩ thuật liên văn bản vàođọc hiểu văn bản nói chung và hai đoạn trích: Người lái đò Sông Đà của NguyễnTuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường nói riêng cómột số vấn đề cần lưu ý sau:

Để tiếp cận đến cái đích này, người giáo viên Ngữ Văn ở nhà trườngTHPT hiện nay có khá nhiều thuận lợi Trước hết đó là việc đổi mới chươngtrình - sách giáo khoa THPT từ hơn một thập kỷ qua trong đó có bộ sách giáokhoa Ngữ văn hiện hành biên soạn theo tinh thần tích hợp Có nhiều điểm mớitrong bộ sách này, đổi mới cả về mặt nội dung của chương trình Ngữ văn và cả

về mặt hình thức chương trình Tiêu chí tuyển chọn các tác phẩm văn học vàosách giáo khoa Ngữ Văn - nhất là văn học hiện đại - không còn nằm trong phạmtrù “đúng - sai” mà cơ bản đã chuyển sang phạm trù “hay - dở” Nhiều tác phẩmvăn chương mang tâm thức của thời đại mới và chịu ảnh hưởng của chủ nghĩahậu hiện đại - những sáng tác gắn liền với nhận thức mới về quyền năng của tácgỉa; về tính chức năng của người viết trong quan hệ với văn bản; về sự tương đốicủa điều mà trước đây người ta gọi là tính độc sáng trong một tác phẩm văn học

- đã có mặt trong chương trình Ngữ Văn THPT

Theo khảo sát của chúng tôi, hiện nay không ít giáo viên THPT đã có sựđầu tư trong công việc soạn giáo án theo hướng: phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của học sinh; có ý thức tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trí thứcchuyên môn, trí thức về phương pháp dạy học, tiếp nhận các lý thuyết mới vềphê bình, nghiên cứu và giảng dạy văn học Điều đáng mừng là trong đó một bộphận, một số ít giáo viên đã biết vận dụng kỹ thuật liên văn bản một cách tựgiác trên cơ sở hiểu biết lý thuyết liên văn bản ở các mức độ khác nhau

Tuy nhiên bên cạnh đó vần còn không ít tồn tại trong việc vận dụng kĩthuật này vào dạy đọc hiểu văn bản Trước hết, nhiều giáo viên hầu như chưa có

ý thức vận dụng kĩ thuật liên văn bản như một thao tác giúp học sinh đọc hiểuvăn bản Nhiều giáo viên có vận dụng nhưng không thường xuyên, chỉ mang tínhngẫu nhiên, tự phát Thậm chí, có người còn không hiểu kĩ thuật liên văn bản làgì? Trong các cấp độ của liên văn bản có yếu tố trích dẫn và giáo viên khi thựchiện một thao tác so sánh, liên tưởng hoặc xếp chồng văn bản một cách manhmún, thiếu hệ thống, nhất là chưa làm nổi bật cách thức mà nhà văn “đối thoại”,

Trang 10

luận giải nhiều vấn đề trong trường ý nghĩa của tác phẩm văn chương Trongviệc này, nhiều giáo viên thường “mượn ý” của các tư liệu tham khảo, các bàiphê bình, bình giảng các tác phẩm văn học một cách bị động, thiếu sáng tạo

Hơn thế nữa, giáo viên chưa thực sự coi trọng vai trò của người đọc - họcsinh - trong giờ đọc hiểu văn bản văn học (trong khi R.Barthes đã tuyên bố “Tácgiả đã chết” và lý thuyết liên văn bản đã đưa đến “sự lên ngôi của người đọc”).Nói đúng hơn là: cách thức làm thế nào để người đọc trở thành trung tâm thìngười giáo viên Ngữ Văn THPT hiện nay vẫn còn lúng túng, chưa thực hiệnđược một cách nhuần nhị, linh hoạt và thường xuyên

Không thể phủ nhận một thực tế là, trong mươi năm trở lại đây, cùng với

sự thay đổi chương trình - sách giáo khoa, việc đổi mới cách dạy - học Văn đãđược tiến hành rộng khắp trong cả nước, trong đó, mối quan hệ giữa người dạy

và người học đã khác trước, các phương tiện dạy học trong các trường THPTcũng phong phú hơn Cả giáo viên và học sinh đã có những sự tương tác nhấtđịnh Nhưng nói một cách khách quan thì chưa có sự đổi mới căn bản, triệt đểdựa trên đặc thù môn Ngữ Văn phản ánh trong mối quan hệ bộ ba tương liên:giáo viên (người hướng dẫn, tổ chức) - học sinh (chủ thể tiếp nhận) - văn bản vănhọc (đối tượng của sự tiếp nhận) Vận dụng kỹ thuật liên văn bản trong dạy đọchiểu văn bản văn học ở THPT càng cấp thiết yêu cầu cả người dạy và người họcphải tiếp xúc với văn bản; tạo cho người học tâm thế đón nhận văn bản - tácphẩm văn học - với nội hàm đúng nghĩa liên văn bản của nó

Đặc biệt qua tìm hiểu thực tế, chúng tôi nhận thấy với các giờ dạy văn bản

ký nói chung và hai đoạn trích trên nói riêng, giáo viên vẫn gặp không ít khókhăn như: Giáo viên vẫn đang thuyết trình nhiều, hoạt động nhiều, ôm đồmnhiều lượng kiến thức hoặc dạy đọc chép, hàn lâm, trừu tượng, thiếu sự tươngtác giữa thầy với trò và cả giữa trò với trò, chưa thấy được đặc trưng của thể loạivăn xuôi hiên đại này Điều đó đã khiến học sinh rất thụ động, mệt mỏi và chán

nản Cộng thêm, một số giáo viên quá lệ thuộc vào Thiết kế bài dạy hoặc Giới thiệu giáo án, thậm chí có người còn tải và dùng y nguyên giáo án trên mạng mà

không chỉnh sửa, không đào sâu nghiên cứu, đổi mới cách dạy Bút kí và tùy bút

là loại tác phẩm thường có quy mô khá lớn, chuyển tải nhiều thông điệp, nhiềunội dung - kiến thức, nếu người dạy không đầu tư, tìm hiểu kĩ lưỡng và cóphương pháp tiếp cận phù hợp thì sẽ không mang lại hiệu quả dạy học như mongmuốn Liệu các em học sinh có thể nhớ điều gì về tác phẩm nếu cứ dạy như thếhay không?

Thực tế còn cho thấy khi vận dụng kỹ thuật liên văn bản trong giờ dạy họcđọc hiểu văn bản, giáo viên thường tiến hành kết nối văn bản văn học với cácvăn bản thuộc loại hình nghệ thuật khác không đạt mấy hiệu quả Đó là việc ápdụng công nghệ thông tin với những tranh ảnh, clip, những đoạn phim, đoạn tưliệu, những sự kiện lịch sử trong dạy học Ngữ Văn ở THPT được cho là cứng

Trang 11

nhắc bởi chúng ta quan niệm nó đơn thuần chỉ là phương tiện hỗ trợ Nhưng theocác lý thuyết gia liên văn bản thì: một bức tranh, một đoạn phim như thế đềuđược coi là một văn bản Nhận thức đúng điều này, chúng ta có thể thấy việc ứngdụng công nghệ thông tin - một trong những thao tác vận dụng kỹ thuật liên vănbản vào dạy học đọc hiểu văn bản văn học sẽ hiệu quả hơn.

II MỘT SỐ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG KĨ THUẬT LIÊN VĂN BẢN VÀO DẠY HỌC HAI ĐOẠN TRÍCH

1 Một số hình thức kết nối các văn bản với nhau

1.1 Liên kết văn bản văn học với các loại văn bản khác

Văn bản văn học không bao giờ tồn tại độc lập, hoàn toàn tách biệt khỏinhững loại văn bản khác "Trong cách tiếp cận này, bất cứ một văn bản nào cũng

có tiềm năng trở thành chất liệu của một văn bản khác ra đời sau nó, bất cứ một văn bản nào cũng được giả thiết là sự đối thoại, chồng xếp, đồng quy vô số văn bản khác nhau" Do vậy, khi tiếp cận một tác phẩm, một đoạn trích văn chươngkhông bao giờ có thể nó đứng riêng, chỉ là duy nhất mình nó Ngược lại, ngườidạy và người học luôn phải có ý thức đặt văn bản văn học trong sự soi chiếu vớicác loại văn bản khác Từ đó, liên kết văn bản văn học với các văn bản khác làđể:

Một là: Hướng tới mục tiêu làm rõ đặc trưng của nghệ thuật (nếu liên hệvới các văn bản thuộc khoa học địa lý, lịch sử hoặc văn bản thuyết minh đơnthuần – như cẩm nang du lịch chẳng hạn)

Hai là: Hướng tới mục tiêu làm rõ sự giống nhau và khác nhau giữa cácloại hình nghệ thuật trong phương tiện, “ngôn ngữ” thể hiện (ảnh về sông Đà,

bức tranh sơn mài Cảnh chợ Bờ của nhóm tác giả thuộc trường Cao đẳng mỹ

thuật Đông Dương trước cách mạng so với bài ký của Nguyễn Tuân; ảnh về sông

Hương, tranh Thuyền trên sông Hương của Tô Ngọc Vân, tranh Sông Hương của Lương Xuân Nhị, phim Cô gái trên sông của Đặng Nhật Minh, nhạc của

Dương Thiệu Tước, Đặng Thế Phong, Trương Tuyết Mai, An Thuyên… so vớibài ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường)

Như vậy, khi liên kết các văn bản với nhau thì người dạy cần chú ý tới đặcđiểm cơ bản, nổi bật và riêng biệt của văn bản văn học đó là tính nghệ thuật, đó

là sự nổi trội của yếu tố văn chương thuộc về văn bản đó

1.2 Liên kết văn bản văn học với các phương diện, lĩnh vực khác

Trên một ý nghĩa nhất định, văn học không phải là một loại hình nghệthuật tổng hợp thông thường như điện ảnh, sân khấu, mà là một loại hình nghệthuật tổng hợp gián tiếp Điều đặc biệt hơn, văn học lại có mối liên hệ, qua lạivới tất cả các loại hình nghệ thuật, khoa học cũng như nhiều lĩnh vực đời sốngkhác Nói như nhà thơ Sóng Hồng:" Thơ là thơ, đồng thời cũng là vẽ, là nhạc, làchạm khắc theo một cách riêng" Như vậy, văn học luôn có sự dịch chuyển đối

Trang 12

với các loại hình nghệ thuật khác như: Hội họa, kiến trúc, âm nhạc, tôn giáo,khoa học, lịch sử, triết học, điện ảnh

Trở lại với hai đoạn trích: Người lái đò Sông Đà và Ai đã đặt tên cho dòng

diện kiến thức, lĩnh vực khác trong đời sống Cụ thể: Trong đoạn trích Người lái

kiến thức về: Địa lý, xây dựng, quân sự, điện ảnh, thể thao, binh pháp, lịch sử…tạo nên một đoạn trích vô cùng đặc sắc Đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?

cũng vậy Nhà văn tài tình của mảnh đất cố đô đã thổi hồn cho dòng sông, khiếndòng sông vốn dĩ vô tri vô giác trở nên vô cùng sống động, rất TÌNH và cũng rấtNGƯỜI Trong đoạn trích này nói riêng và tác phẩm nói chung, Hoàng PhủNgọc Tường cũng đã sử dụng vốn hiểu biết uyên thâm và sâu rộng của mình ởcác lĩnh vực như: Địa lý, lịch sử, thi ca, triết học, âm nhạc…Từ đó, nhà văn đãtạo nên một thiên bút kí ấn tượng khi viết về Huế, về sông Hương

Do đó, trong dạy đọc hiểu văn bản văn học ở THPT, chúng ta không chỉthực hiện việc kết nối văn bản văn học với văn bản văn học mà còn cần phải kếtnối chúng với những văn bản thuộc các loại hình sáng tác không thuộc phạm trùvăn học như: hội họa, điện ảnh, âm nhạc , những tri thức về lịch sử, địa lý, xãhội, dân tộc, tôn giáo của hoạt động ngôn ngữ, của tập quán xã hội, của tinhthần dân tộc và thời đại Hiện nay, các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đềuhướng tới "phát triển năng lực" và chú trọng giúp học sinh "làm được gì từnhững điều đã học, như Albert Hubbart đã khẳng định: "Mục tiêu của việc dạy

dỗ học trò là làm cho học trò có khả năng thích nghi với việc không có ngườithầy"

Lâu nay, trong thực tế dạy học Ngữ Văn ở trường phổ thông, giáo viên đãthực hiện việc “kết nối” này bằng nhiều hình thức: từ giới thiệu những “tácphẩm” hiện diện trước mắt học sinh như các bức tranh, tấm ảnh, vật thật hayqua các phương tiện khác từ radio cassete đến máy chiếu đa năng để giới thiệucác “văn bản” tác phẩm hội họa, âm nhạc, điện ảnh tương hợp với văn bảnđang được dạy học (và có thể kết hợp với hoạt động ngoài giờ học như tổ chứccho học sinh đến học tập ở các bảo tàng mỹ thuật, xem phim, xem các vở diễnsân khấu hay nghe các buổi ca nhạc ) Người dạy cần làm cho người học nhìn

ra được thế giới rộng lớn bên ngoài trường học từ quá khứ, hiện tại và có thểtương lai, từ trong nước và cả ngoài nước Từ đó, "Văn học làm cho con ngườithêm phong phú, tạo khả năng cho con người lớn lên, hiểu được con người nhiềuhơn.” (M.L.Kalinine) Đó là quá trình hoàn thiện mình, hướng đến những giá trịtốt đẹp và bền vững của nhân loại sau những giờ học Ngữ Văn trên ghế nhàtrường mà không phải môn học nào cũng làm được điều thiêng liêng và cao cả

đó

Trang 13

Ngày nay, văn hóa nghe nhìn với sự phát triển ồ ạt của nó đã lấn át vănhóa đọc ở học sinh Giáo viên cần định hướng cho học sinh cách kết nối với các

“văn bản ngoại tại” này trên cơ sở tận dụng tốt mọi cơ hội trong và ngoài giờhọc Vận dụng sự phát triển của công nghệ thông tin và các thiết bị hiện đại hỗtrợ cho việc dạy và học một cách hiệu quả nhất

1.3 Liên kết văn bản văn học với phong cách của nhà văn

Phong cách cá nhân của tác giả hay cũng chính là phong cách nghệ thuậtcủa nhà văn Đây là một phạm trù thẩm mỹ, "chỉ sự thống nhất tương đối ổn địnhcủa hệ thống hình tượng của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cáinhìn độc đáo trong sáng tác của nhà văn" Đó cũng là người tạo ra các giá trị vănhọc mới trong sự kết hợp độc đáo sáng tạo của cá nhân, từ đó tạo nên những cátính sáng tác riêng, không "xóa nhòa" lẫn nhau của các tác giả trong nghệ thuật,qua tác phẩm mà người ta nhận ra bộ mặt tác giả Nghệ thuật yêu cầu người nghệ

sĩ phải có cá tính sáng tạo, phải có khuôn mặt sáng tạo, có tiếng nói, giọng nóiriêng Ðó là bản lĩnh sáng tạo hay bản sắc sáng tác của nghệ sĩ Các đặc điểmphẩm chất toàn vẹn của một nghệ sĩ bao gồm các mặt triết học, mĩ học, tâm lí xãhội, thị hiếu, phong cách, ngôn ngữ nghệ thuật,…

Phong cách nghệ thuật của nhà văn hay cũng chính là cá tính trong sángtạo Đó chính là biểu hiện rực rỡ của các phạm trù cái chủ quan, cái cá biệt, cáiđặc thù, cái không lặp lại trong tài năng của nghệ sĩ Nó không mâu thuẫn vớicác phạm trù cái khách quan, cái chung, cái điển hình, cái lặp lại, mà ngược lại,

nó gắn bó hữu cơ với chúng, và cũng chỉ trong sự thống nhất đó thì nghệ sĩ mớikhám phá được cái mới trong lĩnh vực nghệ thuật Mỗi nhà văn có cái tạng riêng,

có cá tính sáng tạo riêng của họ, không nhà văn nào giống nhà văn nào Mỗi nhàvăn bằng tài năng và cá tính sáng tạo của mình đều có thể trực tiếp đóng góp cho

sự phong phú, đa dạng của một nền văn học Do nhà văn là chủ thể sáng tạonghệ thuật, tác phẩm văn chương bao giờ cũng in đậm dấu ấn cá nhân, cá tính vàphong cách của nhà văn nên sự xuất hiện những nghệ sĩ lớn bao giờ cũng gópphần thúc đẩy sự phát triển của văn học, thậm chí đưa nền văn học của nhữngdân tộc rẽ sang một bước ngoặt lớn

Cá tính sáng tạo biểu hiện tập trung ở cái nhìn nghệ thuật độc đáo, ở cáchcảm nghĩ của nhà văn có khả năng đề xuất những nguyên tắc, biện pháp nghệthuật mới mẻ, tạo thành một ngôn ngữ nghệ thuật mới trong việc biểu hiệnnhững nội dung mới của đời sống và tư tưởng Chẳng hạn Nguyễn Du có conmắt tinh đời trong việc biểu hiện các ngõ ngách phức tạp của cuộc sống conngười, lại có biệt tài nắm bắt và miêu tả chính xác một cách thần tình các tâmtrạng, thần thái nhân vật chỉ qua vài nét, ông là người có khả năng sử dụng tiếngViệt một cách uyển chuyển, mềm mại, tạo thành điểm phạm của ngôn từ nghệthuật Nhà văn Nga Ph Đốt-xtôi-ep-xki có thể nắm bắt những cuộc đối thoại củathời đại, tính nhiều tiếng nói của cuộc sống, tính lưỡng tính của thực tại ngay ở

Trang 14

nơi mà người khác chỉ thấy có độc thoại, tính đơn giọng và tính đồng nhất Hoặckhi dạy đọc hiểu đoạn trích Người lái đò Sông Đà , giáo viên nên cho học sinh

liên hệ với tác phẩm Chữ người tử tù để thấy được sự thống nhất và vận độngtrong phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân Học sinh sẽ khắc ghiđược kiến thức quan trọng là: Về sự thống nhất: Nguyễn Tuân vẫn tiếp cận conngười ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ; Ông vẫn là ngòi bút tài hoa, uyên bác, lịchlãm, vận dụng tri thức tổng hợp của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật khác nhautrong miêu tả và biểu hiện Đặc biệt nhà văn họ Nguyễn vẫn sử dụng vốn ngôn

từ hết sức tinh lọc, phong phú, độc đáo Khả năng tổ chức câu văn xuôi đầy giátrị tạo hình, có nhạc điệu trầm bổng, biết co duỗi nhịp nhàng Các phép tu từđược nhà văn phối hợp vô cùng điêu luyện Bên cạnh đó, phong cách nhà văntheo thời gian đã có sự vận động rất phù hợp với biến động của lịch sử dân tộc,

cụ thể: Trước Cách mạng tháng Tám, con người Nguyễn Tuân hướng tới và cangợi là những “con người đặc tuyển, những tính cách phi thường” Sau Cáchmạng tháng Tám, nhân vật tài hoa nghệ sĩ của Nguyễn Tuân có thể tìm thấy ngaytrong cuộc chiến đấu, lao động hàng ngày của nhân dân; Trước Cách mạng thángTám, Nguyễn Tuân là một người tài tử, thích chơi “ngông”, mắc cái bệnh ham

mê thanh sắc, thích chiêm ngưỡng, chắt chiu cái Đẹp và nhấm nháp những cảmgiác mới lạ Sau Cách mạng tháng Tám, nhà văn nhạy cảm với con người mới,cuộc sống mới từ góc độ thẩm mĩ của nó Nhưng không còn là một Nguyễn Tuân

“nghệ thuật vị nghệ thuật” nữa Ông đã nhìn cái đẹp của con người là cái đẹp gắnvới nhân dân lao động, với cuộc sống đang nẩy nở sinh sôi, đồng thời lên án, tốcáo chế độ cũ, khẳng định bản chất nhân văn của chế độ mới

kí Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trítuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từvốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí Tất cả được thểhiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa Các tác phẩm gắnliền với tên tuổi của ông như: Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971); Rất nhiều

(truyện ký, 1984)….Tác phẩm thơ gồm: Những dấu chân qua thành phố (1976),

tâm huyết mà còn là lĩnh vực để Hoàng Phủ Ngọc Tường khẳng định tài năngnghệ thuật và bản lĩnh của người nghệ sĩ trước cuộc đời và trong sáng tạo nghệthuật

Việc đối chiếu, so sánh, liên hệ văn bản văn học với văn bản văn học giúplàm sáng tỏ phong cách nghệ thuật của nhà văn là một việc làm đúng đắn Phongcách nghệ thuật của tác giả có tính ổn định, có sự vận động trong sự thống nhấthữu cơ nào đó

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w