1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kinh nghiệm về hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn luyện phần đọc hiểu trong đề thi THPT quốc gia môn ngữ văn đạt kết quả cao

23 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 167,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thông hiểu,có biết, hiểu, nắm được những kiến thức văn học đã được dạy trong chươngtrình hay không thì dạng câu hỏi Đọc hiểu trong đề thi những năm gần đây đã nâng cao hơn một mức.. Tuy

Trang 1

MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU

1 1 Lý do chọn đề tài……… 2

1 2 Mục đích nghiên cứu……… 3

1 3 Đối tượng nghiên cứu……… 3

1 4 Phương pháp nghiên cứu……….3

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2 1.Cơ sở lí luận……… 4

2 2.Thực trạng vấn đề………5

2 3.Đề xuất một số giải pháp ……… 6

2 4 Kết quả……… 19

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 3.1 Kết luận……… 19

3.2 Đề xuất……… 20

Trang 2

1 MỞ ĐẦU1.1 Lý do chọn đề tài.

Để góp phần đạt được mục tiêu “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào

tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” mà Đảng ta đặt ra trong Nghị quyết

29 – NQ/TW, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, trong

những năm qua, Bộ giáo dục và đào tạo đã không ngừng đưa ra những giải pháp mangtính cải tiến như: chuẩn bị đổi mới chương trình giáo khoa, đổi mới kiểm tra đánh giá,đổi mới phương pháp dạy học… Những thay đổi đó nhằm phát triển năng lực ngườihọc, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu hội nhập Quốc tế của đấtnước Đặc biệt, ngày 01/4/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã gửi Công vănsố1656/BGDĐT-KTKĐCLGD về việc hướng dẫn tổ chức thi tốt nghiệp Trung học phổ

thông (THPT) năm 2014, trong đó có nội dung: Đề thi môn ngữ văn có 2 phần: Đọc hiểu và làm văn Bộ GD&ĐT yêu cầu các Sở giáo dục, các trường THPT lưu ý việc

thực hiện việc đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong kì thitốt nghiệp THPT, thực hiện theo hướng đánh giá năng lực học sinh nhưng ở mức độ

phù hợp Cụ thể là tập trung đánh giá hai kỹ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản

và kĩ năng viết văn bản Đề thi gồm hai phần: Đọc hiểu và Tự luận (làm văn), trong đó

tỷ lệ điểm của phần viết nhiều hơn phần Đọc hiểu Ngày 15/04/2014, Bộ Giáo dục và

đào tạo gửi văn bản đến các Sở Giáo dục và đào tạo, các trường THPT trong cả nước

về hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp cho học sinh THPT Đây là xu hướng đổi mới kiểm trađánh giá sự ghi nhớ những kiến thức của học sinh chuyển sang kiểm tra đánh giá nănglực đọc hiểu của học sinh (tự mình khám phá văn bản.) Cũng từ năm đó dạng câu hỏiĐọc hiểu bắt đầu được đưa vào đề thi để thay thế cho dạng câu hỏi tái hiện kiến thức

Có thể nói đây là sự đổi mới tích cực trong cách ra đề Ngữ văn theo định hướngmới Nếu dạng câu hỏi tái hiện kiến thức chỉ có thể kiểm tra học sinh ở mức nhận biết,

Trang 3

thông hiểu,có biết, hiểu, nắm được những kiến thức văn học đã được dạy trong chương

trình hay không thì dạng câu hỏi Đọc hiểu trong đề thi những năm gần đây đã nâng cao

hơn một mức Đó là vận dụng thấp, vận dụng sáng tạo, kiểm tra, phát triển được năng

lực tự cảm nhận một văn bản bất kì (có thể văn bản đó hoàn toàn xa lạ đối với cácem) Như vậy có thể thấy, bên cạnh việc ôn tập, rèn kỹ năng viết phần tự luận thì việc

ôn tập và rèn kỹ năng làm dạng câu hỏi đọc hiểu là điều rất cần thiết phải trang bị chohọc sinh

Tuy vậy, cấu trúc đề thi có các câu đọc hiểu còn có phần mới mẻ với học sinh,bởi: trong chương trình giảng dạy Ngữ văn cơ bản và nâng cao chưa dành riêng bài nào

để trang bị kiến thức phần này Dạng câu hỏi này cũng không có nhiều tài liệu thamkhảo mang tính chuyên sâu để giáo viên và học sinh tham khảo Hơn nữa, kiến thứcđọc hiểu nằm rải rác trong chương trình học môn Văn từ cấp trung học cơ sở đến cấptrung học phổ thông, ngữ liệu phần lớn nằm trong chương trình sách giáo khoa hoặcngoài sách giáo khoa Chính vì thế mà không ít giáo viên ôn thi THPT Quốc gia tỏ ralúng túng khi hướng dẫn học sinh làm bài Điều đó cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chấtlượng, kết quả bài thi của học sinh, chất lượng của các nhà trường

Xuất phát từ những lý do trên, đặc biệt từ thực tiễn giảng dạy, tôi xin chia sẻ vớicác bạn đồng nghiệp gần xa một số kinh nghiệm thông qua đề tài sau: Một số kinh nghiệm về hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn luyện phần Đọc hiểu trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn đạt kết quả cao.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài này, tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của phần đọc hiểu trong đềthi văn THPT quốc gia hiện nay Đồng thời nhấn mạnh vai trò, kĩ năng hướng dẫn ôn

luyện phần đọc hiểu của giáo viên đối với học sinh để nhằm hướng đến mục tiêu nâng

cao hiệu quả của phần đọc hiểu trong bài thi ngữ văn của học sinh

1.3 Đối tượng nghiên cứu

– Dạng câu hỏi đọc hiểu trong đề thi ngữ văn THPT Quốc gia những năm gần đây.– Kĩ năng hướng dẫn học sinh ôn luyện dạng câu hỏi phần đọc hiểu của giáo viên

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 4

2.1.1.Quan niệm về Đọc hiểu

Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa Khái niệm Đọc hiểu (comprehension reading) có nội hàm khoa học phong phú có nhiều cấp độ

gắn liền với lí luận dạy học văn, lí thuyết tiếp nhận tâm lí học nghệ thuật… Phân tách

khái niệm này, ta thấy “đọc” là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết

các kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đãđọc và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe, còn

hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và

ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụngvào đời sống Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?

Lâu nay trong dạy học văn, người ta thường dùng thuật ngữ là giảng văn, phân tích văn…song từ khi thay sách đã thay bằng thuật ngữ Đọc hiểu văn bản Đây không

chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà thực chất là sự thay đổi thay đổi quan niệm về bản chấtcủa môn văn, cả về phương pháp dạy học văn và các hoạt động khi tiếp nhận tác phẩm

văn học cũng có những thay đổi Theo Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng “Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc”.“Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã

ý nghĩa văn bản” Còn với Giáo sư Trần Đình Sử “Đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến” Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Thị Hạnh, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, khẳng định : “ Đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc cho mình”

Như vậy, Đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản

thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu đượcnghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tưtưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật Với quanđiểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuất phát từ đặc thù của văn chương (nghệthuật ngôn từ), mà vấn đề Đọc hiểu văn bản ngày càng được quan tâm

Trang 5

2.1.2 Văn bản Đọc hiểu

Trong chương trình Ngữ văn của Việt Nam nêu hai loại văn bản để dạy Đọc hiểu,

đó là: Văn bản văn học và văn bản nhật dụng Trong đó các văn bản được sếp theo tiến

trình lịch sử hoặc theo thể loại Các văn bản văn học đa dạng hơn các văn bản nhậtdụng Hai loại văn bản này cũng chính là các ngữ liệu để học sinh khai thác

Thực tế cho thấy văn bản Đọc hiểu nói chung và văn bản Đọc hiểu trong nhàtrường nói riêng rất đa dạng và phong phú Có bao nhiêu loại văn bản trong cuộc sốngthì có bấy nhiêu loại được dạy trong nhà trường Điều đó cũng có nghĩa là văn bản Đọchiểu trong các đề thi rất rộng Đề thi có thể là văn bản các em đã được tiếp cận, đãđược học, hoặc cũng có thể là văn bản hoàn toàn xa lạ Từ năm 2014, Bộ GD & ĐTđưa phần Đọc hiểu vào đề thi môn Ngữ văn đã đổi mới kiểm tra, đánh giá năng lựcĐọc hiểu của học sinh Việc làm này có tác động tích cực đến quá trình rèn khả năngtiếp nhận văn bản Đọc hiểu của các em

2 2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Với phương châm, phát huy khả năng chủ động tiếp cận văn bản của học sinh, từnăm 2014, Bộ GD&ĐT đã chính thức đưa câu hỏi Đọc hiểu vào đề thi đề thi Tốtnghiệp Tiếp cận với vấn đề này, nhiều học sinh, thầy cô giáo tỏ ra lúng túng vì chorằng đây là vấn đề có nhiều điểm mới mẻ và trong chương trình giảng dạy Ngữ văn

cơ bản và nâng cao chưa dành riêng bài nào để trang bị kiến thức phần này Dạng câuhỏi này cũng không có nhiều tài liệu tham khảo mang tính chuyên sâu để giáo viên vàhọc sinh tham khảo Hơn nữa kiến thức đọc hiểu nằm rải rác trong chương trình họcmôn Văn từ cấp II đến cấp III, ngữ liệu cũng có thể nằm trong chương trình sách giáokhoa hoặc ngoài sách giáo khoa Hơn nữa, những kiến thức trong dạng câu hỏi Đọchiểu rất phong phú, học sinh phải biết huy động những kiến thức đã học ở các lớp dưới

để trả lời câu hỏi Đặc biệt bước sang năm 2015, 2016 và năm 2017, vấn đề ôn luyệnphần Đọc hiểu vẫn là đề tài thu hút sự chú ý của các thầy cô ôn thi và các em học sinhTHPT Một số cuốn sách phục vụ cho ôn luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn đã ramắt bạn đọc nhưng sách không cung cấp kiến thức lý thuyết, hướng dẫn học sinh ônluyện phần Đọc hiểu một cách chi tiết,cụ thể, bài bản mà chỉ hướng dẫn chung chung,bài tập thường gặp trong đề Đọc hiểu cũng chưa phân loại quy củ, chi tiết, hệ thốngkiến thức để học sinh dễ ôn tập

Đọc hiểu là quá trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ động Đây làmột năng lực cần thiết mà người học nói chung và học sinh THPT cần quan tâm Nếuchúng ta không có trình độ năng lực đọc thì hiểu đúng, đánh giá đúng văn bản Khôngnắm vững, đánh giá được văn bản thì không thể tiếp thu, bồi đắp được tri thức và cũngkhông có cơ sở để sáng tạo Vì thế vấn đề rèn kĩ năng Đọc hiểu môn ngữ văn trongnhà trường là rất cần thiết, đòi hỏi người giáo viên phải thực sự tâm huyết, năng lực

Trang 6

chuyên môn vững vàng và luôn luôn tìm kiếm những giải pháp hiểu quả để giúp họcsinh học và làm bài thi đạt kết quả cao.

2.3 Đề xuất một số giải pháp trong hướng dẫn học sinh ôn luyện phần Đọc hiểu trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn.

2.3.1 Định hướng học sinh nắm vững cấu trúc đề thi và sự thay đổi cấu trúc theo từng năm.

Để học sinh có thể làm bài đạt kết quả cao, giáo viên cần trang bị cho học sinh nắm vững cấu trúc của đề thi nói chung, cấu trúc của phần đọc hiểu nói riêng gắn với

sự thay đổi của cấu trúc ấy theo từng năm

Nhìn lại một số năm trước đây, dạng đề thi đại học, đề thi THPT Quốc gia môn ngữ văn đã có nhiều đổi mới trong cấu trúc để phù hợp công cuộc đổi mới của giáo dục

Năm học 2013- 2014, trong đề thi Tốt nghiệp THPT phần Đọc hiểu chiếm 3/10 điểm toàn bài Trong đề thi Ngữ văn tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng khối C, D năm

2014, phần Đọc hiểu chiếm 2/10 điểm của toàn bài thi với 1 văn bản và 3 câu hỏi nhỏ theo các mức độ khác nhau

Năm 2015, Bộ GD & ĐT hợp nhất hai kì thi Tốt nghiệp THPT và tuyển sinh vàoĐại học, Cao đẳng thành một kì thi chung Từ chỗ có nhiều đề thi Ngữ văn (đề thi tốt nghiệp THPT; đề thi tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng khối C, D), thì chỉ có một đề thiduy nhất vừa lấy điểm để xét tốt nghiệp, vừa lấy điểm để xét vào Đại học, Cao đẳng Phần Đọc hiểu trong đề thi từ chỗ chiếm số điểm 2/10 điểm nay được nâng lên 3/10 điểm Nhưng thay vì 1 văn bản với 3 câu hỏi nhỏ như năm 2014, đề thi năm 2015 ra 2 văn bản khá dài với 8 câu hỏi nhỏ Đến năm 2016, năm 2017 cấu trúc đề đã có những thay đổi so với năm học trước - từ chỗ ra hai văn bản với tám câu hỏi nhỏ, đề rút xuống chỉ còn ra một văn bản với bốn câu hỏi gắn với các mức độ

* ĐỀ THI THPT QUỐC GIA MÔN VĂN 2015

1 PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa trời

Cho biển cả không còn hoang lạnh

Đứa ở đồng chua

Đứa vùng đất mặn

Chia nhau nỗi nhớ nhà

Hoàng hôn tím ngát xa khơi

Trang 7

Chia nhau tin vui

Về một cô gái làng khểnh răng, hay hát

Vầng trăng lặn dưới chân lều bạt

Hắt lên chúng tôi nhếnh nhoáng vàng

Chúng tôi coi thường gian nan

Dù đồng đội tôi, có người ngã trước miệng cá mập

Có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn

Ngày mai đảo sẽ nhô lên

Tổ quốc Việt Nam, một lần nữa nối liền

Hoàng Sa, Trường Sa

Những quần đảo long lanh như ngọc dát

Nói chẳng đủ đâu, tôi phải hát

Một bài ca bằng nhịp trái tim tôi

Đảo à, đảo ơi!

Đảo Thuyền Chài, 4 – 1982

(Hát về một hòn đảo – Trần Đăng Khoa, Trường Sa, NXB Văn học, 2014, tr.51)

Câu 1 Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2 Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh nào?

Câu 3 Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những quần đảo longlanh như ngọc dát.

Câu 4 Đoạn thơ đã gợi cho anh/chị tình cảm gì đối với những người lính đảo? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

Hội chứng vô cảm hay nói cách khác là căn bệnh trơ cảm xúc trước niềm vui, nhất là nỗi đau của người khác, vốn là một mặt trong hai phương diện cấu trúc bản chất Con – Người của mỗi sinh thể người.Tính “con” và tính “người” luôn luôn hình thành, phát triển ở mỗi con người từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay Cái thiện

và cái ác luôn luôn song hành theo từng bước đi, qua từng cử chỉ, hành vi của mỗi con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với cha mẹ, anh chị em, bạn bè, bà con làng xóm, đồng bào,đồng loại Trong cuộc hành trình lâu dài, gian khổ của một đời người, cái mất và cái được không phải đã được nhận ra một cách dễ dàng Mất một đồng xu, một miếng ăn, mất một phần cơ thể, mất một vật sở hữu,con người nhận biết ngay Nhưng có những cái mất, cái được nhiều khi lại không dễ gì cảm nhận được ngay Nhường bước cho một cụ già cao tuổi, nhường chỗ cho bà mẹ có con nhỏ trên tàu xe chật chội, biếu một vài đồng cho người hành khất,… có mất có được nhưng không phải

ai cũng đã nhận ra cái gì mình đã thu được;có khi là sự thăng hoa trong tâm hồn từ thiện và nhân ái Nói như một nhà văn lớn, người ta chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần Tôi muốn đặt vấn đề là cùng với sự báo động những hiểm họa trông thấy, cần báo động cả hiểm họa không trông thấy hay khó trông thấy Hiện nay đã có quá nhiều dấu hiệu và sự kiện trầm trọng của hiểm họa vô cảm trong xã hội ta, nhất là trong tuổi trẻ Bạo lực đã xuất hiện dữ dằn

Trang 8

những tháng ngày gần đây báo hiệu nguồn gốc sâu xa ở sự xuống cấp nghiêm trọng về nhân văn, về bệnh vô cảm.

(Trích Nguồn gốc sâu xa của hiểm họa, Bài tập Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục

Việt Nam, 2014, tr.36-37)

Câu 5 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích

Câu 6 Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?

Câu 7 Tác giả đã thể hiện thái độ gì khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội nay?

Câu 8 Anh/Chị suy nghĩ như thế nào khi có những người “chỉ lo túi tiền rỗng đi

5 đến 7 dòng)

2.3.2 Hướng dẫn học sinh ôn luyện, nắm vững kiến thức lý thuyết Đọc hiểu

Đây là một bước không mấy dễ dàng đối với đội ngũ thầy cô ôn thi THPT Quốcgia Vì phần kiến thức lý thuyết liên qua đến dạng câu hỏi Đọc – hiểu này khá rộng,kiến thức không quy tụ thành một bài, hay ở một khối lớp nào mà kiến thức đó nằm rảirác từ lớp 6 cho đến lớp 12 Vì vậy giáo viên mất nhiều thời gian thu thập, thanh lọc,

xử lý kiến thức, chia thành các mảng, với các chủ đề cụ thể cùng các ví dụ tương ứng

để hướng dẫn học sinh

Để tháo gỡ khó khăn trên, trong quá trình ôn tập, người dạy phải luôn biết cáhphân loại kiến thức lý thuyết có liên quan đến dạng câu hỏi Đọc hiểu để ôn tập cho họcsinh Đặc biệt ở những phần kiến thức lý thuyết dễ nhầm lẫn nên cần hệ thống thànhbảng kiến thức trọng tâm nhằm giúp các em học sinh nhận diện đúng từng thể loại, dễdàng khắc sâu kiến thức Sau mỗi phần lý thuyết lấy thêm ví dụ minh họa để học sinhcủng cố, kiểm chứng lại lý thuyết Bao gồm các dạng cơ bản như:

Nhận diện các phong cách ngôn ngữ

Sau khi cung cấp kiến thức về các loại phong cách ngôn ngữ, giáo viên cần nhấnmạnh lại đặc điểm nhận diện của các loại phong cách để học sinh dễ phân biệt khi xácđịnh phong cách đó trong một văn bản

2 Phong cách ngôn ngữ

báo chí (thông tấn)

Kiểu diễn đạt dùng trong các loại văn bản thuộc lĩnh vựctruyền thông của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự

Trang 9

3 Phong cách ngôn ngữ

chính luận

Dùng trong lĩnh vực chính trị - xã hội, người giao tiếpthường bày tỏ chính kiến, bộc lộ công khai quan điểm tưtưởng, tình cảm của mình với những vấn đề thời sự nóng hổicủa xã hội

4 Phong cách ngôn ngữ

nghệ thuật

-Dùng chủ yếu trong tác phẩm văn chương, không chỉ cóchức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ củacon người; từ ngữ trau chuốt, tinh luyện…

Ở phần lý thuyết về phương thức biểu đạt giáo viên cung cấp cho học sinh kiếnthức lý thuyết về 6 phương thức thường xuất hiện trong văn bản Chú ý đến các đặcđiểm để nhận diện các phương thức

Lưu ý cho học sinh: trong một văn bản thường xuất hiện nhiều phương thức như

tự sự và miêu tả, thuyết minh và biểu cảm… song sẽ có một phương phương thức nổibật Giáo viên kẻ bảng lý thuyết để học sinh dễ so sánh, nhận diện tiếp thu kiến thức

Phương

thức

Đặc điểm nhận diện Thể loại

Tự sự Trình bày các sự việc (sự

kiện) có quan hệ nhân quả

dẫn đến kết quả (diễn biến

sự việc)

- Bản tin báo chí-Bản tường thuật, tường trình

- Tác phẩm văn học nghệ thuật (truyện, tiểuthuyết)

Miêu tả Tái hiện các tính chất, thuộc

tính sự vật, hiện tượng, giúp

con người cảm nhận và hiểu

con người trước những vấn

- Điện mừng, thăm hỏi, chia buồn

- Tác phẩm văn học: thơ trữ tình, tùy bút

Trang 10

đề tự nhiên, xã hội, sự vật

Thuyết

minh

Trình bày thuộc tính, cấu

tạo, nguyên nhân, kết quả có

ích hoặc có hại của sự vật

hiện tượng, để người đọc có

tri thức và có thái độ đúng

đắn với chúng

- Thuyết minh sản phẩm

- Giới thiệu di tích, thắng cảnh, nhân vật

-Trình bày tri thức và phương pháp trong khoahọc

Nghị

luận

Trình bày ý kiến đánhgiá,

bàn luận, trình bày tư tưởng,

chủ trương quan điểm của

con người đối với tự nhiên,

xã hội, qua các luận điểm,

luận cứ và lập luận thuyết

phục

- Cáo, hịch, chiếu, biểu

- Xã luận, bình luận, lời kêu gọi

của cá nhân, tập thể đối với

cơ quan quản lí

Giải thích là vận dụng tri thức để hiểu vấn đề nghịluận một cách rõ ràng và giúp người khác hiểuđúng ý của mình

Trang 11

Bác bỏ là chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề trên cơ

sở đó đưa ra nhận định đúng đắn và bảo vệ ý kiếnlập trường đúng đắn của mình

Bình luận là bàn bạc đánh giá vấn đề, sự việc, hiệntượng… đúng hay sai, hay / dở; tốt / xấu, lợi /hại…; để nhận thức đối tượng, cách ứng xử phùhợp và có phương châm hành động đúng

So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếuhai hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc là các mặtcủa một sự vật để chỉ ra những nét giống nhau haykhác nhau, từ đó thấy được giá trị của từng sự vậthoặc một sự vật mà mình quan tâm

Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm giống nhau thìgọi là so sánh tương đồng, có nhiều điểm đối chọinhau thì gọi là so sánh tương phản

Các biện pháp tu từ

Sau khi cung cấp kiến thức lý thuyết để học sinh nhận dạng được các biện pháp

tu từ thường gặp, giáo viên cần nhấn mạnh: Trong đề thi, câu hỏi thường có dạng, tìm

ra biện pháp tu từ và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ ấy Chính vì thế các emphải nhớ được hiệu quả nghệ thuật mang tính đặc trưng của từng biện pháp Đáp ứngyêu cầu nhớ kiến thức trọng tâm tôi đã cung cấp cho các em bảng kiến thức sau:

Biện pháp

tu từ

Hiệu quả nghệ thuật (Tác dụng nghệ thuật)

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w