Không những thế, tích hợp còn là sự phối hợp nhiềumôn khoa học hay các phân môn trong cùng một bộ môn để làm cho tiếthọc trở nên phong phú đa dạng và thu hút hơn đối với người tiếp nhận.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THCS&THPT THỐNG NHẤT
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC BÀI PHÚ SÔNG BẠCH
Trang 2
MỤC LỤC
III Xây dựng bài học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực 7
VI Thiết kế bài Phú sông Bạch Đằng bằng phương pháp tích hợp
nhằm phát triển năng lực học sinh
10
V Hiệu quả tổ chức hoạt động học bài học Phú sông Bạch Đằng nhằm
định hướng phát triển năng lực học sinh
21
Trang 3A MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Hiện nay đổi mới phương pháp dạy- học đang trở thành nhu cầu tấtyếu của ngành giáo dục Việt Nam nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao chấtlượng dạy và học Tự đổi mới cũng là con đường đưa giáo dục Việt Namhòa nhập với nền giáo dục hiện đại toàn cầu, tiến kịp nền giáo dục tiêntiến của các quốc gia trên thế giới Một trong những phương pháp đổi mớiđem lại hiệu quả khá cao trong nhà trường hiện nay đó là phương pháptích hợp Phương pháp tích hợp cho phép giáo viên có thể kết hợp nhiều
kỹ năng trong một tiết dạy vừa dạy kiến thức vừa dạy kỹ năng sống vừadạy cách làm người Không những thế, tích hợp còn là sự phối hợp nhiềumôn khoa học hay các phân môn trong cùng một bộ môn để làm cho tiếthọc trở nên phong phú đa dạng và thu hút hơn đối với người tiếp nhận.Môn Ngữ văn trước hết là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội,điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tưtưởng, tình cảm cho học sinh Môn Ngữ văn còn là một môn học thuộcnhóm công cụ Điều đó nói lên mối quan hệ giữa Ngữ Văn và các mônkhác Học môn Ngữ văn sẽ có tác động tích cực đến kết quả học tập cácmôn khác và các môn khác cũng góp phần giúp học tốt môn Ngữ văn Chonên tự nó cũng toát lên yêu cầu tăng cường tính thực hành giảm lý thuyếtgắn với đời sống Hơn nữa, Ngữ Văn cũng là môn học góp phần hìnhthành nên những kiến thức cơ bản và quan trọng nhất là hình thành nhâncách con người, chuẩn bị cho các em một hành trang để bước vào đờihoặc học lên những bậc học cao hơn Đó cũng chính là chiếc chìa khóa
mở cửa cho tương lai
Thấy được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Ngữ văn đồng
thời phát huy cao hơn nữa hiệu quả trong giảng dạy theo tinh thần đổi mớisách giáo khoa và quan điểm tích hợp là vấn đề cần được quan tâm nhấthiện nay Bởi tích hợp là một xu thế phổ biến trong dạy học hiện đại Nógiúp học sinh tiết kiệm thời gian học tập mà vẫn mang lại hiệu quả nhậnthức, có thể tránh được những biểu hiện cô lập, tách rời từng phương diệnkiến thức, đồng thời phát triển năng lực, tư duy biện chứng, khả năngthông hiểu và vận dụng kiến thức linh hoạt vào các yêu cầu môn học, phânmôn cụ thể trong chương trình học tập theo nhiều cách khác nhau Và vì
thế việc nắm kiến thức sẽ sâu sắc, hệ thống và lâu bền hơn.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, trong quá trình thực hiệnchương trình Ngữ văn, tôi thấy tính ưu việt của phương pháp dạy học tíchhợp các kiến thức liên môn này hơn hẳn những phương pháp trước đâyđược vận dụng Tính ưu việt của phương pháp thể hiện rõ qua thái độ,niềm say mê, kết quả tiếp nhận của học sinh trong từng bài học Tiếp nối
vấn đề đó, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “Tổ chức hoạt động học bài Phú
Trang 4sông Bạch Đằng (Ngữ văn 10, tập hai) theo phương pháp tích hợp
nhằm phát triển năng lực học sinh”.
II Mục đích nghiên cứu
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn nói chung và dạy học
bài thơ Phú sông Bạch Đằng nói riêng.
- Giúp học sinh nâng cao hứng thú học tập môn Ngữ văn và phát triểnnăng lực
- Giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các tình huốngtrong thực tiễn
III Đối tượng nghiên cứu
- Lí thuyết về dạy học tích hợp, kĩ thuật tổ chức hoạt động học.
- Thiết kế bài dạy Phú sông Bạch Đằng theo phương pháp tích hợp.
- Biện pháp tổ chức hoạt động học khi dạy bài Phú sông Bạch Đằng.
IV Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát (Thông qua dự giờ)
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích – tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Trang 5
B NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận
1 Một số vấn đề chung về dạy học tích hợp và dạy học tích hợp môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông
1.1 Quan điểm tích hợp trong dạy học nói chung
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”.
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể” Có nghĩa là sự
phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệthống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệthống ấy
Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực Tronglĩnh vực khoa học giáo dục (GD), khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kìkhai sáng, dùng để chỉ một quan niệm GD toàn diện con người, chống lạihiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối Tích hợpcòn có nghĩa là thành lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộctính trội của các loại hình nhà trường vốn có
Trong dạy học (DH) các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổhợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (Theo cáchhiểu truyền thống từ trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồngghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học, vídụ: lồng ghép nội dung GD dân số, GD môi trường, GD an toàn giao thôngtrong các môn học Đạo đức, Tiếng Việt hay Tự nhiên và xã hội… xâydựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống
Tích hợp là một trong những quan điểm GD đã trở thành xu thếtrong việc xác định nội dung DH trong nhà trường phổ thông và trongxây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới Quan điểmtích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quátrình học tập và quá trình DH Đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trongquá trình dạy học là cần thiết
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểmtích hợp trong GD và DH sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyếtnhững vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với
HS so với việc các môn học, các mặt GD được thực hiện riêng rẽ Tích hợp
là một trong những quan điểm GD nhằm nâng cao năng lực của người học,giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết
Trang 6trên thế giới đã thực hiện quan điểm tích hợp trong DH và cho rằng quanđiểm này đã đem lại hiệu quả nhất định.
Tư tưởng tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống Trướchết phải thấy rằng cuộc sống là một bộ đại bách khoa toàn thư, là một tậpđại thành của tri thức, kinh nghiệm và phương pháp Mọi tình huống xảy ratrong cuộc sống bao giờ cũng là những tình huống tích hợp Không thể giảiquyết một vấn đề và nhiệm vụ nào của lí luận và thực tiễn mà lại không sửdụng tổng hợp và phối hợp kinh nghiệm kĩ năng đa ngành của nhiều lĩnhvực khác nhau Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp HS học tập thông minh
và vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phương pháp của khối lượng trithức toàn diện, hài hòa và hợp lí trong giải quyết các tình huống khác nhau
và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại
Tích hợp là quan điểm hòa nhập, được hình thành từ sự nhất thể hóanhững khả năng, một sự quy tụ tối đa tất cả những đặc trưng chung vàomột chỉnh thể duy nhất Khoa học hiện nay coi trọng tính tương thích, bổsung lẫn nhau để tìm kiếm những quan điểm tiếp xúc có thể chấp nhậnđựợc để tạo nên tính bền vững của quá trình DH các môn học
Trong một số môn học, tư tưởng tích hợp được tiếp nhận với cácmức độ thấp và khác nhau như: Lồng ghép - là đưa thêm nội dung cần họctương tự với môn học chính; tích hợp - là sự kết hợp tri thức của nhiềumôn học tạo nên môn học mới
Quan điểm tích hợp và phương pháp dạy học theo hướng tích hợp đãđược GV tiếp nhận nhưng ở mức độ thấp Phần lớn GV lựa chọn mức độ tích hợp “liên môn” hoặc tích hợp “nội môn” Các bài dạy theo hướng tíchhợp sẽ làm cho nhà trường gắn liền với thực tiễn cuộc sống, với sự pháttriển của cộng đồng Những nội dung dạy HS nhỏ tuổi theo các chủ đề
“Gia đình”, “Nhà trường”, “Cuộc sống quanh ta”, “Trái đất và hànhtinh”…làm cho HS có nhu cầu học tập để giải đáp được những thắc mắc,phục vụ cho cuộc sống của mình và cộng đồng Học theo hướng tích hợp
sẽ giúp cho các em quan tâm hơn đến con người và xã hội ở xung quanhmình, việc học gắn liền với cuộc sống đời thường là yếu tố để các em họctập Những thắc mắc nảy sinh từ thực tế làm nảy sinh nhu cầu giải quyếtvấn đề của các em Chẳng hạn “vì sao có sấm chớp?’, “vì sao không đượcchặt cây phá rừng?”, “vì sao….?.”
1.2 Quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn
Thiết kế bài dạy học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp không chỉ chútrọng nội dung kiến thức tích hợp mà cần thiết phải xây dựng một hệ thốngviệc làm, thao tác tương ứng nhằm tổ chức, dẫn dắt HS từng bước thựchiện để chiếm lĩnh đối tượng học tập, nội dung môn học, đồng thời hìnhthành và phát triển năng lực, kĩ năng tích hợp, tránh áp đặt một cách làmduy nhất Giờ học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp phải là một giờ họchoạt động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp các kĩ năng, năng lực liên môn để
Trang 7giải quyết nội dung tích hợp, chứ không phải sự tác động các hoạt động, kĩnăng riêng rẽ lên một nội dung riêng rẽ thuộc “nội bộ phân môn”.
Ngày nay nhiều lí thuyết hiện đại về quá trình học tập đã nhấn mạnhrằng hoạt động của HS trước hết là học cách học Theo ý nghĩa đó, quanđiểm dạy học tích hợp đòi hỏi GV phải có cách dạy chú trọng phát triển ở
HS cách thức lĩnh hội kiến thức và năng lực, phải dạy cho HS cách thứchành động để hình thành kiến thức và kĩ năng cho chính mình, phải cócách dạy buộc HS phải tự đọc, tự học để hình thành thói quen tự đọc, tựhọc suốt đời, coi đó cũng là một hoạt động đọc hiểu trong suốt quá trìnhhọc tập ở nhà trường
Quan điểm dạy học tích hợp hay dạy cách học, dạy tự đọc, tự họckhông coi nhẹ việc cung cấp tri thức cho HS Vấn đề là phải xử lí đúng đắnmối quan hệ giữa bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành,phát triển năng lực, tiềm lực cho HS Đây thực chất là biến quá trình truyềnthụ tri thức thành quá trình HS tự ý thức về phương pháp chiếm lĩnh trithức, hình thành kĩ năng Muốn vậy, chẳng những cần khắc phục khuynhhướng dạy tri thức hàn lâm thuần tuý đã đành, mà còn cần khắc phụckhuynh hướng rèn luyện kĩ năng theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa, ít có khảnăng sử dụng vào đọc hiểu văn bản, vào những tình huống có ý nghĩa đốivới HS, coi nhẹ kiến thức, nhất là kiến thức phương pháp.
Tóm lại, “Quan điểm tích hợp cần được hiểu toàn diện và phải đượcquán triệt trong toàn bộ môn học: từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn;quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu
tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình, tích hợp trong SGK,tích hợp trong phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt độnghọc tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo Quan điểm
“lấy HS làm trung tâm” đòi hỏi thực hiện việc tích cực hoá hoạt động họctập của HS trong mọi mặt, trên lớp và ngoài giờ; tìm mọi cách phát huynăng lực tự học của HS, phát huy tinh thần dân chủ, bồi dưỡng lòng tin cho
HS thì các em mới tự tin và tự học, mới xem tự học là có ý nghĩa và nhưvậy đào tạo mới có kết quả.”
II Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Qua nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy phương pháp giảng dạytruyền thống giữa các phân môn chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau táchrời từng phương diện kiến thức, học sinh hoạt động chưa tích cực, hiệuquả đem lại cũng chưa cao
Chính vì lẽ đó, dạy học theo quan điểm tích hợp là một xu hướng tất yếucủa dạy học hiện đại, là biện pháp để tích cực hoá hoạt động nhận thức của họcsinh Học sinh được rèn luyện thói quen tư duy, nhận thức vấn đề một cách có
hệ thống và lôgic Qua đó học sinh cũng thấy được mối quan hệ biện chứnggiữa các kiến thức được học trong chương trình, vận dụng các kiến thức lí
Trang 8thuyết và các kĩ năng thực hành, đưa được những kiến thức về văn, Tiếng Việtvào quá trình tạo lập văn bản một cách hiệu quả
Có nhiều hình thức tích hợp: Kiểu tích hợp giữa các phân môn trongcùng một bộ môn (chẳng hạn ở môn Ngữ văn có Văn - Tiếng Việt -Tập làmvăn) Điều này thể hiện trong việc bố trí các bài học giữa các phân môn mộtcách đồng bộ và sự liên kết với nhau trên nhiều mặt nhằm hỗ trợ nhau, bổ sunglàm nổi bật cho nhau Phân môn này sẽ củng cố, hệ thống hóa lại kiến thức chophân môn khác và đều hướng đến mục đích cuối cùng là nâng cao trình độ sửdụng tiếng mẹ đẻ và năng lực cảm thụ văn học cho học sinh
Hình thức tích hợp được các GV vận dụng và hiện đang được đẩymạnh là tích hợp liên môn
Đây là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong bài học với cáckiến thức của các bộ môn khác, các ngành khoa học, nghệ thuật khác,cũng như các kiến thức đời sống mà học sinh tích lũy được từ cuộc sốngcộng đồng, qua đó làm giàu thêm vốn hiểu biết và phát triển nhân cách chohọc sinh
Thực tế cho thấy, áp dụng hình thức này, học sinh tỏ ra rất hào hứngvới nội dung bài học, vốn kiến thức tổng hợp của học sinh được bổ sungnhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả Mặt khác, các kiến thức liên ngànhthông qua hình thức tích hợp này còn giúp học sinh có thêm căn cứ, cơ sở
để hiểu rõ hơn nội dung, ý nghĩa của văn bản
Các tiết dạy được thực hiện với lớp 10A1, 10A2, 10A4 TrườngTHCS&THPT Thống Nhất, qua thực tế dạy học, tôi thấy rằng việc kết hợpkiến thức liên môn vào để giải quyết một vấn đề nào đó trong một môn học làviệc làm hết sức cần thiết, hữu ích Điều đó đòi hỏi người giáo viên bộ mônkhông chỉ nắm chắc môn mình dạy mà còn phải không ngừng trau dồi kiếnthức các môn học khác để tổ chức, hướng dẫn các em giải quyết các tìnhhuống, các vấn đề đặt ra trong môn học một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất Khi thực hiện tiết dạy tích hợp với công nghệ thông tin như cho họcsinh xem vi deo, xem hình ảnh, phóng sự về những địa danh, sự kiện,thông tin liên quan đến bài học thì học sinh đã rất hào hứng, phấn khởi và
tự các em đã có thêm những cảm nhận, những hiểu biết mà bản thân tựkhám phá về bài học
Khi tích hợp với các kiến thức liên môn, học sinh cảm thấy bài họcthú vị hơn, có nhiều em reo lên vì mình vừa khám phá ra một điều mới mẻ. Đồng thời chúng tôi thấy rằng “tích hợp” là một khái niệm được sử dụngtrong nhiều lĩnh vực Đặc biệt trong giáo dục, tích hợp kiến thức liên môn vàogiải quyết các vấn đề trong một môn học sẽ giúp học sinh phát triển năng lực
tư duy, hiểu rộng hơn, sâu hơn về vấn đề đặt ra trong môn học đó
Trong thực tế chúng tôi nhận thấy khi soạn bài có kết hợp các kiếnthức của các môn học khác sẽ giúp giáo viên tiếp cận tốt hơn, hiểu rõ hơn,sâu hơn những vấn đề đặt ra Từ đó tổ chức hướng dẫn học sinh sẽ linh
Trang 9hoạt hơn, sinh động hơn Học sinh có hứng thú học tập, tìm tòi, khám phánhiều kiến thức và được suy nghĩ, sáng tạo nhiều hơn Từ đó vận dụng kiếnthức vào thực tế tốt hơn.
III Xây dựng bài học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực
Theo nghĩa hẹp, bài học là một tên bài cụ thể, thuộc một phân môn trongSGK, chẳng hạn Phong cách ngôn ngữ hành chính, Chiếc thuyền ngoài xa, nhằmcung cấp một đơn vị kiến thức hoặc góp phần hình thành một kĩ năng cho HS Cácbài học trong SGK Ngữ văn hiện hành đang được biên soạn theo hướng này
Theo nghĩa rộng, « bài học là một chủ đề hoặc chuyên đề Trong một bàihọc theo nghĩa rộng sẽ có nhiều đơn vị kiến thức và kĩ năng, thuộc một hoặcnhiều phân môn nhằm hướng tới giải quyết một hoặc một số vấn đề để hìnhthành một kĩ năng/năng lực cho HS » Đây là dạng bài học (unit) xuất hiện trongSGK của nhiều nước trên thế giới
Để đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn, cần rà soát CT và SGK hiệnhành, sắp xếp lại các nội dung dạy học để biên soạn thành các chủ đề/chuyên đềnhằm phát triển năng lực học sinh
Trang 102 Đổi mới mô hình tổ chức dạy học theo tiến trình hoạt động học của học sinh
Để phát triển năng lực của học sinh trong giờ học Ngữ văn cấp THPT, cầnđổi mới mạnh mẽ mô hình tổ chức dạy học trong việc thiết kế bài học từ phíagiáo viên Trong thiết kế, giáo viên phải cho thấy rõ các hoạt động của học sinhchiếm vị trí chủ yếu trong tiến trình tổ chức dạy học Bằng việc “vận dụngthuyết kiến tạo vào dạy học, các bài học trong sách hướng dẫn học sinh đượcthiết kế theo định hướng hình thành và phát triển năng lực của học sinh theo tiến
trình của hoạt động học, với các bước: Khởi động/Trải nghiệm/ Tạo tình huống xuất phát – Hình thành kiến thức – Thực hành – Vận dụng – Mở rộng, bổ sung / phát triển ý tưởng sáng tạo, giáo viên cấp THPT có thể tham khảo và vận dụng
cách làm này để đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn, góp phần phát triểnnăng lực cho học sinh” Mô hình tổ chức dạy học này có thể áp dụng cho cả hailoại bài học (theo nghĩa rộng và hẹp) như đã nêu ở tất cả các phân môn Văn học,Tiếng Việt và Làm văn trong CT và SGK Ngữ văn THPT Mục đích, nội dung
và cách thức tiến hành của mỗi bước như sau:
a Hoạt động khởi động/trải nghiệm/ tạo tình huống xuất phát
Hoạt động trải nghiệm được tổ chức khi bắt đầu một bài học Mục đíchcủa hoạt động này nhằm giúp học sinh “huy động vốn kiến thức và kĩ năng đã
có để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức và kĩ năng mới, dựa trên quan điểm rằng:việc tiếp thu kiến thức mới bao giờ cũng dựa trên những kinh nghiệm đã cótrước đó của người học” Đồng thời, hoạt động này cũng giúp giáo viên tìm hiểuxem học sinh có hiểu biết như thế nào về những vấn đề trong cuộc sống có liênquan đến nội dung của bài học Bên cạnh đó, hoạt động này còn nhằm tạo rahứng thú và một tâm thế tích cực để học sinh bước vào bài học mới Để tổ chứchoạt động này, có thể sử dụng một số nội dung và hình thức sau:
- Câu hỏi, bài tập: Trong mỗi bài học, hoạt động khởi động thường gồm1-3 câu hỏi, bài tập Các bài tập này thường là quan sát tranh/ảnh để trao đổi vớinhau về một vấn đề nào đó có liên quan đến bài học Cũng có một số bài tậpkhông sử dụng tranh/ảnh mà trực tiếp ôn lại kiến thức đã học ở cấp/lớp dưới,nhưng thiết kế dưới dạng nhiệm vụ kết nối hoặc những câu hỏi Tuy nhiên, cáccâu hỏi không nên mang nhiều tính lý thuyết mà nên huy động những kinhnghiệm thực tiễn có liên quan đến nội dung bài học để tạo sự hứng thú và suynghĩ tích cực cho người học
- Thi đọc, ngâm thơ, kể chuyện, hát…: Một số hoạt động yêu cầu học sinhđọc diễn cảm, ngâm thơ, kể chuyện hoặc hát về chủ đề liên quan đến bài học.Các hoạt động này trong một số trường hợp được thiết kế thành các cuộc thi,nhằm tạo ra không khí sôi nổi, hứng thú trước khi tiến hành học bài mới
- Trò chơi: Một số trò chơi trong hoạt động khởi động giúp tạo ra hứng thútrước khi vào bài học mới Các trò chơi này cũng có nội dung gắn với mỗi bài học
b Hoạt động hình thành kiến thức
Trang 11Mục đích của hoạt động này nhằm giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thứcmới thông qua hệ thống các bài tập/ nhiệm vụ Nội dung tri thức ở hoạt độngnày thuộc các phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn trong sách giáokhoa Với mỗi phân môn, học sinh sẽ được thu nhận những kiến thức của bàihọc để kết nối những gì đã biết với những gì chưa biết Từng nội dung kiến thứccủa mỗi phân môn sẽ được tiến hành theo một số định hướng sau:
* Đọc hiểu văn bản
Đọc là hoạt động quan trọng và là bước đi đầu tiên khi tiếp xúc với tácphẩm, cũng là khâu đầu tiên của quá trinh đọc hiểu tác phẩm Phương tiện biểuđạt của tác phẩm là ngôn ngữ, do vậy đọc văn bản chính là quá trình làm sốngđộng thế giới ngôn từ của tác phẩm Có hai hình thức đọc tác phẩm là đọc thầm
và đọc thành tiếng Đọc thầm là hình thức đọc bằng mắt, đọc cho cá nhân ngườitiếp nhận, quá trình tiếp nhận diễn ra ở bên trong người đọc; còn đọc thành tiếng
là một cách đọc để thưởng thức, để chia sẻ những cảm nhận về văn bản trongmột nhóm người đọc, biến câu chữ thành âm thanh, giai điệu
Hoạt động đọc được tiến hành đồng thời với hoạt động tìm hiểu văn bản.Giáo viên cần thiết kế những hoạt động hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bảnbằng việc sử dụng một số câu hỏi tập hợp thành một bài tập/nhiệm vụ lớn hơn;thiết kế các bài tập trắc nghiệm, kết hợp tự luận; thiết kế các hoạt động kíchthích khám phá, sáng tạo… Nội dung các bài tập/ nhiệm vụ trong mục này nêulên các yêu cầu tìm hiểu về đặc điểm thể loại, nội dung, nghệ thuật của văn bản.Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản cần chú ý đến cách đọc văn bản theođặc trưng thể loại Chẳng hạn, với những tác phẩm văn học dân gian, cần chú ýkhai thác những đặc điểm thuộc về phương thức tồn tại của văn bản (tính truyềnmiệng, tính tập thể) và đặc điểm của từng thể loại văn bản (sử thi, truyền thuyết,
cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn, ca dao,…) Với văn học trung đại, chú ý khaithác đặc trưng thi pháp của mỗi thể loại như tác dụng của niêm, luật, nghệ thuậtđối, tương phản, thủ pháp tả cảnh ngụ tình, cách sử dụng “nhãn tự” và “câuthần” trong thơ; cách xây dựng cốt truyện và nhân vật, ngôn ngữ trong tác phẩm
tự sự (truyện, truyện thơ,…) Với văn học hiện đại, chú ý khai thác tác phẩmtheo bút pháp của từng thể loại như: bút pháp hiện thực, bút pháp lãng mạn, cảmhứng sử thi, cảm hứng thế sự, cảm hứng trữ tình – chính luận,… Từ cách tiếpcận đặc điểm thể loại và thi pháp để tìm hiểu, khai thác các giá trị nội dung vànghệ thuật của văn bản
* Tích hợp kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt
Việc hình thành kiến thức tiếng Việt cần tích hợp với nhiệm vụ tìm hiểuvăn bản Theo các nội dung của bài học, giáo viên đưa ra một số bài tập/ nhiệm
vụ yêu cầu học sinh tìm hiểu các kiến thức Tiếng Việt theo hướng khai tác cácyếu tố ngôn ngữ gắn với việc đọc hiểu văn bản trước đó Các khái niệm lí thuyếtngôn ngữ học cần được giảm tải, chuyển hóa thành dạng kĩ năng, giúp học sinh
dễ tiếp nhận hơn
* Tích hợp kiến thức, kĩ năng Làm văn
Trang 12Kiến thức Làm văn giúp học sinh chuyển hoá quá trình tiếp nhận văn bảnsang qúa trình tạo lập văn bản, giúp học sinh biết cách thể hiện tốt nhất những gìmình đã được tiếp nhận Các kiến thức Làm văn cũng được dạy tích hợp vớiĐọc hiểu và Tiếng Việt Cũng như phần kiến thức Tiếng Việt, những nội dung líthuyết Làm văn được giảm tải và chuyển hóa thành kĩ năng, được chuyển tải tớihọc sinh dưới dạng các nhiệm vụ, bài tập để học sinh chủ động hình thành kiếnthức cho mỗi cá nhân.
c Hoạt động luyện tập
Mục đích của hoạt động này là yêu cầu học sinh phải vận dụng những
kiến thức vừa học được để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể Thông qua đó,giáo viên xem học sinh đã nắm được kiến thức hay chưa và nắm ở mức độ nào.Hoạt động thực hành gồm các bài tập/ nhiệm vụ yêu cầu học sinh củng cố các trithức vừa học và rèn luyện các kĩ năng liên quan Các bài tập/ nhiệm vụ trongphần thực hành cũng theo trình tự: Đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt và Làm văn
Các bài tập/ nhiệm vụ trong Hoạt động luyện tập tập trung hướng đến việc hình thành các kĩ năng cho học sinh, khác với các bài tập Hoạt động hình thành kiến thức mới chủ yếu hướng tới việc khám phá tri thức Đây là những
hoạt động gắn với thực tiễn bao gồm những nhiệm vụ như trình bày, viết văn, …
d Hoạt động ứng dụng/vận dụng
Mục đích của hoạt động ứng dụng là giúp học sinh sử dụng kiến thức, kĩ
năng đã học để giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ trong thực tế “Thực tế” ở đâyđược hiểu là thực tế trong nhà trường, trong gia đình và trong cuộc sống của họcsinh Hoạt động này sẽ khuyến khích học sinh nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cáimới theo sự hiểu biết của mình; tìm phương pháp giải quyết vấn đề và đưa ranhững cách giải quyết vấn đề khác nhau; góp phần hình thành năng lực học tậpvới gia đình và cộng đồng
Nội dung và hình thức bài tập/ nhiệm vụ:
- Vận dụng kiến thức đọc hiểu để giải thích, phân tích một hiện tượng vănhọc, văn hóa khác tương ứng Ví dụ: giải thích câu tục ngữ, phân tích bài ca dao,nêu ý kiến về một hiện tượng văn hóa, vận dụng phương pháp đọc văn bản đểtìm hiểu một văn bản tương đương,…
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt để giải quyết một số vấn đề,như: giải nghĩa, tìm từ loại, xác định cấu tạo từ, phong cách ngôn ngữ,… trongcác hiện tượng ngôn ngữ của cuộc sống
- Tiếp tục rèn luyện kĩ năng Làm văn để nói, viết, trình bày, tạo lập cácvăn bản với phương thức biểu đạt tương ứng với nội dung bài học
e Hoạt động mở rộng, bổ sung, phát triển ý tưởng sáng tạo
Mục đích của hoạt động này giúp học sinh tiếp tục mở rộng kiến thức, kĩ
năng Hoạt động này dựa trên lập luận cho rằng, quá trình nhận thức của họcsinh là không ngừng, do vậy cần có sự định hướng để đáp ứng nhu cầu tiếp tụchọc tập, rèn luyện sau mỗi bài học cụ thể
Nội dung và hình thức bài tập/ nhiệm vụ:
- Đọc thêm các đoạn trích, văn bản có liên quan
- Trao đổi với người thân về nội dung bài học, như: kể cho người thânnghe về câu chuyện vừa học, hỏi về ý nghĩa của câu chuyện, v.v…
Trang 13- Tỡm đọc ở sỏch bỏo, mạng internet … một số nội dung theo yờu cầu.
Do hoạt động mở rộng cú tớnh chất tiếp nối và gắn kết với hoạt động vận
dụng, nờn cú thể kết hợp 2 hoạt động vận dụng và mở rộng trong tiến trỡnh bài
học của học sinh
VI Thiết kế bài Phỳ sụng Bạch Đằng bằng phương phỏp tớch hợp nhằm
phỏt triển năng lực học sinh
văn kết hợp biền ngẫu với thơ
- Nhận biết một vài đặc điểm cơ bản của thể phỳ
- Nắm được một số nột về sự phõn loại và cỏch thể hiện nội dung của thể phỳ
- Với tinh thần dũng cảm, truyền thống yêu nớc sâu đậm,nhân dân ta đã chủ động sáng tạo, vợt qua mọi thử thách khókhăn đánh tan các đạo quân xâm lợc
- Trong sự nghiệp chống ngoại xâm vĩ đại đó, không chỉnổi lên những trận quyết chiến đầy sáng tạo mà còn xuất hiệnmột loạt các nhà chỉ huy quân sự tài năng
2.2 Về giỏo dục
- Giáo dục lòng yêu nớc, ý thức bảo vệ nền độc lập, thốngnhất của Tổ quốc
- Bồi dỡng ý thức đoàn kết, giúp đỡ lẫn giữa các dân tộc
- Bồi dỡng niềm tự hào dân tộc và lòng biết ơn các thế hệ
tổ tiên, các anh hùng dân tộc đã chiến đấu quên mình về tổquốc
3.2 Kĩ năng
- Rốn kỹ năng xem xột cỏc sự kiện lịch sử trong mối quan hệ giữa khụnggian, thời gian và xó hội
Trang 14- Rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong học tập, tíchcực bồi dỡng kĩ năng phân tích, tổng hợp.
- Rốn kĩ năng phõn tớch liờn hệ
- Học sinh cú thỏi độ nghiờm tỳc trong học tập và nghiờn
- Bồi dưỡng ý thức về cội nguồn dõn tộc, lũng yờu quờ hương đất nước
và ý thức giữ gỡn bản sắc văn hoỏ dõn tộc
- Cú ý thức học tập, rốn luyện để gúp phần vào sự nghiệp xõy dựng và bảo
vệ quờ hương, đất nước
4 Mụn Giỏo dục Quốc phũng – An ninh