1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIÁO dục GIÁ TRỊ SỐNG CHO học SINH lớp 10 QUA đoạn TRÍCH CHÍ KHÍ ANH HÙNG ( TRÍCH TRUYỆN KIỀU – NGUYỄN DU )

21 181 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 59,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 6 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 10 QUA ĐOẠN TRÍCH CHÍ KHÍ ANH HÙNG TRÍCH TRUYỆN KIỀU – NGUYỄN DU N

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 6

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 10 QUA

ĐOẠN TRÍCH CHÍ KHÍ ANH HÙNG ( TRÍCH TRUYỆN KIỀU – NGUYỄN DU )

Người thực hiện: Lê Thị Thủy Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc môn: Ngữ văn

THANH HOÁ NĂM 2018

Trang 2

Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

1222

Lồng ghép giáo dục giá trị sống vào bài học

Giáo dục giá trị sống thông qua hoạt động kiểm tra đánh giá

Dạng đề nghị luận văn học

Dạng đề nghị luận xã hội:

Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

2223

355

513131516

Trang 3

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay ở nước ta, đời sống kinh tế thay đổi từng ngày, điều kiệnsống và học tập của học sinh ngày một nâng cao, nhưng những vấn đề tiêucực như bạo lực, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức…vẫn gia tăng và thâmnhập vào trường học Nguyên nhân là do tác động mặt trái của nền kinh tếthị trường và tiến trình hội nhập quốc tế Nhưng theo đánh giá của cácchuyên gia giáo dục, nguyên nhân sâu xa là do học sinh chưa nhận thứcđúng và chưa biết tôn trọng các giá trị sống

Mục tiêu giáo dục phổ thông và mô hình phát triển nhân cách đãđược thể hiện trong các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước Điều

27 luật giáo dục của nước CHXHCN Việt Nam khẳng định: Mục tiêu củagiáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trítuệ, thể chất, thẩm mỹ, và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cáchcon người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân,chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Mô hình phát triển nhân cách toàn diện con người Việt Nam thời kỳCông nghiệp hóa - Hiện đại hóa là phát triển toàn diện con người vớinhân cách hoàn thiện gắn bó nhịp nhàng, hài hòa giữa 3 mặt: nội tâmthống nhất, lành mạnh, ổn định, tích cực; quan hệ với người khác mộtcách nhân ái, hữu nghị, hợp tác; quan hệ với công việc và sự nghiệp mộtcách say mê, nhiệt tình, thích ứng, sáng tạo, hiệu quả và thành đạt

Như vậy, giáo dục trong nhà trường không chỉ là dạy kiến thức màcòn là giáo dục nhân cách, đúng như lời Bác Hồ đã dạy: “ Có tài màkhông có đức là người vô dụng Có đức mà không có tài thì làm việc gìcũng khó” Để thực hiện được trọn vẹn mục tiêu đầy khó khăn này, giáodục giá trị sống trong nhà trường đóng vai trò vô cùng quan trọng, ảnhhưởng lớn đến sự hình thành nhân cách của mỗi học sinh, góp phần tạonên sự thành công của giáo dục

Mặc dù nhận biết được tầm quan trọng của giáo dục giá trị sống,nhưng thực tế, hoạt động giáo dục giá trị sống trong nhà trường đang còngặp nhiều khó khăn Giáo dục giá trị sống chưa thể trở thành một mônhọc độc lập mà chỉ được lồng ghép với các hoạt động giáo dục khác,cũng như với nhiều môn học khác nhau, trong đó có môn Ngữ văn Thếnhưng cho tới nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu hay hướngdẫn cụ thể nào cho việc giáo dục giá trị sống trong môn Ngữ văn vớitừng bài học cụ thể Phần lớn là do cá nhân người dạy tự tìm tòi và vậndụng vào thực tế giảng dạy của bản thân nên hoạt động giáo dục giá trịsống còn mang tính chủ quan, chưa toàn diện và thiếu đồng bộ, do đóchưa phát huy tốt vai trò của giáo dục giá trị sống trong nhà trường

Xuất phát từ những lí do trên, trong khuôn khổ có hạn của một sáng

kiến kinh nghiệm, tôi chọn đề tài Giáo dục giá trị sống cho học sinh lớp

Trang 4

10 qua đoạn trích “Chí khí anh hùng” (Trích “Truyện Kiều” – Nguyễn Du)

- Đề xuất phương pháp xây dựng cách thức để kết hợp giáo dục các giá trị

sống cho học sinh trong quá trình giảng dạy văn bản

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Giáo dục giá trị sống qua văn bản “Chí khí anh hùng” (Trích

“Truyện Kiều” – Nguyễn Du) - sgk Ngữ văn 10 tập 2.

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích, nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế

- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu

Giá trị sống (giá trị cuộc sống) là tất cả những cái gì có ích lợi, đángham chuộng, quý giá, quan trọng, có ý nghĩa đối với cuộc sống, khiến mỗingười đều mong muốn lĩnh hội, thể hiện, để cuộc sống của mình tốt đẹphơn và góp phần cải thiện cuộc sống chung

Gắn liền với khái niệm giá trị sống là khái niệm chuẩn giá trị Chuẩn giá trị lànhững giá trị giữ vị trí cốt lõi, chiếm vị trí ở thứ bậc cao hoặc vị trí then chốt vàmang tính chuẩn mực chung cho nhiều người Xã hội Việt Nam hiện tại đang có

sự biến động nhanh chóng, rõ nét thậm chí khủng hoảng, đảo lộn về chuẩn giá trị

xã hội trong một bộ phận thanh niên Việt Nam, thể hiện trong suy nghĩ, lối sống

và trong hành vi ứng xử như sống suy đồi, thoái hoá một cách nghiêm trọng,ham tư lợi, vị kỉ, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Sự lệch chuẩn nàycũng được thể hiện rõ nét trong một bộ phận học sinh ở các trường phổ thông, làhồi chuông đáng báo động về nhân cách và hành vi ứng xử lệch lạc của các em

2.1.2 Các giá trị sống cơ bản:

Theo những tài liệu về giáo dục giá trị sống của Liên Hợp Quốc,

Diane Tillman chia thành 12 giá trị sống cơ bản: Hoà bình, Tôn trọng,

Yêu thương, Trách nhiệm, Hạnh phúc, Trung thực, Bao dung, Hợp tác, Khiêm tốn, Giản dị, Đoàn kết, tự do.

Theo tài liệu bồi dưỡng thường xuyên dành cho giáo viên THPT,các tác giả đề xuất bảng giá trị gồm 38 tiêu chí, là sự kết hợp của giá trịtruyền thống - giá trị hiện đại; giá trị phổ quát - giá trị cục bộ, giá trị dân

Trang 5

tộc - giá trị toàn cầu, giá trị cá nhân - giá trị cộng đồng Đây cũng chính làcấu trúc nhân cách con người Việt Nam và thế hệ trẻ Việt Nam nói chung.

Giá trị truyền thống Giá trị hiện đại

Yêu đồng bào Nhân ái Lý tưởng Hòa Bình

Siêng năng Cái thiện Chân lý Cái đẹp

Bảng giá trị trên là một trong những bảng giá trị được xem là phù hợp với thời đại Theo tôi còn có thể bổ sung thêm một số giá trị khác rất quan trọng trong xã hội hiện nay như: tình yêu, sự tự tin, lòng tự trọng, sự kiên định…

2.1.3 Giáo dục giá trị sống trong trường phổ thông và trong môn Ngữ văn

Giá trị sống của học sinh THPT là cái có ích, có ý nghĩa với cuộc sống,

là cái trở thành động lực thúc đẩy hoạt động học tập, quan hệ với bản thân,quan hệ xã hội, được thể hiện qua nhận thức và hành vi

Giáo dục giá trị sống trong nhà trường là một khái niệm có mặt trongChương trình giáo dục, đào tạo của ngành giáo dục và của xã hội Mỗi họcsinh khi đã quan tâm đến giá trị sống đều có khả năng học tập, sáng tạomột cách tích cực khi có cơ hội học tập Và đặc biệt nếu mỗi học sinhđược lớn lên trong bầu không khí lấy giá trị sống làm nền tảng thì họ sẽ cónăng lực học tập và có những lựa chọn mang ý thức xã hội

Ngữ văn là một môn học có những khả năng đặc biệt trongviệc giáo dục giá trị sổng cho học sinh Mục tiêu và nội dung của mônNgữ văn đã chứa đựng những yếu tố của giáo dục giá trị sống, phù hợpvới những nội dung cơ bản của giáo dục giá trị sống và các vấn đề trongcuộc sống Vì vậy có thể triển khai giáo dục giá trị sống vào các nội dungcủa môn Ngữ văn mà không cần phải đưa thêm thông tin, kiến thức làmnặng thêm nội dung của môn học

2.2 Thực trạng vấn đề:

Giáo dục giá trị sống cho học sinh nói chung và học sinh THPT đã

trở thành một hoạt động mang tính quốc tế

Trên thế giới, giáo dục đề cao việc đào tạo thế hệ trẻ thành nhữngcông dân được trang bị đầy đủ tri thức khoa học, hoàn thiện tư cách, đạođức, có đủ khả năng xây dựng cuộc sống của bàn thân, gia đình và đóng

Trang 6

góp cho xã hội Đối với hầu hết các quốc gia, dù có thể chế chính trị, xãhội như thế nào, cũng luôn dành sự quan tâm lớn với nhiệm vụ giáo dụcthế hệ trẻ Một trong những hoạt động ở nhà trường và xã hội có tác độngđáng kể với thanh thiếu niên đang được phát huy, nhận rộng trên toàn thếgiới là hoạt động rèn luyện Kỹ năng sống, ví dụ như tổ chức “Hướng đạosinh”, “Tình nguyện quốc tế”, “Trại hè quốc tế” Giáo dục, rèn luyện kỹnăng sống là những hoạt động tạo ra khả năng nhận thức, tình cảm với cácGiá trị sống - những tiêu chí cơ bản, cần thiết đối với mỗi con người.Tại Việt Nam, những thay đổi của thời đại đã dẫn đến những thay đổi

về cuộc sống, con người, từ đó làm thay đổi về quan niệm, nhận thức giátrị của cuộc sống Đặc biệt với lứa tuổi học sinh THPT, những yếu tố nàytác động mạnh mẽ và rõ rệt nhất Thực tế cho thấy, hiện nay ở nước ta, tỉ

lệ phạm tội vị thành niên ngày càng tăng, giới trẻ chạy theo lối sốnghưởng thụ, ích kỉ mà họ cho là hợp thời, sành điệu Tuy nhiên việc giáodục giá trị sống cho học sinh THPT trong trường học và bản thân học sinhvẫn chưa được quan tâm đúng mực Trong các nội dung giáo dục, rènluyện của nhà trường, ngành giáo dục nói chung, các nhà trường, thầy côgiáo đều có ý thức đối với giáo dục Giá trị sống Nhưng chương trình giáodục Việt Nam còn quá nặng về kiến thức, học sinh chịu sức ép lớn vềthành tích, lên lớp, thi cử cuối năm, cuối cấp, hết phổ thông và vào đạihọc… Bài toán về thời gian khiến cho giáo dục giá trị sống vẫn chưa thểtrở thành một môn học độc lập trong nhà trường phổ thông

Riêng với môn Ngữ văn, việc lồng ghép giáo dục giá trị sống vẫnchưa phát huy được hết ưu thế của nó Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởngđến hoạt động giáo dục lồng ghép này, trong đó chủ yếu là do thời lượngchương trình không cho phép Hơn nữa, việc lồng ghép giáo dục giá trịsống vào bài học sao cho hiệu quả, uyển chuyển, hấp dẫn không phải làmột việc dễ dàng Ví dụ như có thể giáo dục lòng yêu nước qua rất nhiều

tác phẩm trong chương trình như Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành,

Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, Đất nước của Nguyễn

Đình Thi…, nhưng lồng ghép như thế nào, xây dựng bài học ra sao để vẫnđảm bảo đặc trưng môn học…luôn là câu hỏi khó Bởi thế nhiều giáo viênchọn lựa né tránh việc giáo dục giá trị sống trong môn Ngữ văn, hoặc nếu

có thì mới chỉ dừng lại ở mức độ có đề cập qua, nghĩa là còn rất sơ sài Trong thực tế giảng dạy ở ngôi trường tôi đang công tác-trường THPTTriệu Sơn 6-vấn đề định hướng, điều chỉnh hành vi, hình thành nhân cách chocác em luôn là một vấn đề nóng Nhiều học sinh có tâm lí ngỗ ngược, quậy phá,hút thuốc, uống rượu bia, thiếu lễ phép, không tôn trọng người khác…, thậm chí

là tham gia vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, lô đề, cá độ Nhiều em không có ýchí phấn đấu, chưa cố gắng học tập, mang tâm lí buông xuôi, thả nổi Cùng vớilực học hạn chế, các em sau khi ra trường thường không có điều kiện tiếp tụchọc cao, không có cơ hội tìm một công việc tốt, ảnh hưởng đến chất lượng cuộcsống Theo tôi một phần là do các em chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về các

Trang 7

giá trị sống ngay từ khi còn là vị thành niên, dẫn đến ảnh hưởng nhiều tới thái

độ, hành vi trong cuộc sống Đây cũng là thực tế đang tồn tại ở một bộ phậnkhông nhỏ thanh niên hiện nay

Cá nhân tôi là một giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn, tôi nhận thấy

ưu thế đặc biệt của môn học này trong giáo dục giá trị sống, cả những khókhăn khi xây dựng bài học có lồng ghép giáo dục giá trị sống Bước đầu đisâu vào việc tìm hiểu cách thức xây dựng bài học có lồng ghép giáo dụcgiá trị sống, tôi tập trung vào thử nghiệm áp dụng với một bài học cụ thể:

đoạn trích “Chí khí anh hùng” (Trích “Truyện Kiều” – Nguyễn Du) trong

sgk Ngữ văn 10, tập 2

2.3 Giải pháp thực hiện:

2.3.1 Xác định những nội dung giáo dục giá trị sống có thể lồng ghép:

“Chí khí anh hùng” là trích đoạn từ câu 2213 đến câu 2230 trongTruyện Kiều của Nguyễn Du Đoạn trích tập trung thể hiện hình ảnhngười anh hùng Từ Hải “dọc ngang trời đất vẫy vùng bể khơi” Đó là conngười của những hoài bão, khát vọng cao cả, con người của sự tự tin,quyết đoán, vừa là một người anh hùng, lại vừa là một người đàn ông bảnlĩnh và có trách nhiệm; vừa là người “quyết lời dứt áo ra đi”, vừa là ngườitâm lí, biết quan tâm lo lắng cho người khác Hình ảnh Từ Hải cho thấykhuynh hướng lý tưởng hóa của Nguyễn Du khi tập trung khắc họa mộtcon người phải nói là hoàn mĩ

Dạy học văn bản này, tôi thấy học sinh rất có ấn tượng với hìnhtượng Từ Hải, nhưng vẫn chỉ xem đó là một nhân vật sách vở, một conngười của thời đại phong kiến Có nghĩa là các em chỉ xem Từ Hải đơnthuần như một nhân vật văn học mà ít chú ý đến tính thực tế của nhân vật,không có sự liên hệ với cuộc sống Để lồng ghép giáo dục giá trị sống ởbài học này, tôi muốn cho các em hiểu rõ Từ Hải là một con người hoànhảo ở mọi thời đại Đó là con người kiểu mẫu về lí tưởng sống, nhân cáchsống mà mỗi cá nhân đều khao khát hướng tới Từ Hải không chỉ là giấcmộng của Nguyễn Du, Từ chính là giấc mộng của mỗi người

Trong bài học này, tôi nhận thấy những giá trị sống có thể lồngghép đó là: lí tưởng, tình yêu, sự tự tin, trách nhiệm Đối với học sinhTHPT, đây đều là những giá trị sống giúp các em hoàn thiện hơn về nhâncách, đặc biệt có tác động lớn đến sự phấn đấu của các em

2.3.2 Lồng ghép giáo dục giá trị sống vào bài học:

Dựa trên các giá trị sống được xác định ở trên, tôi xây dựng giờ học cóđịnh hướng giá trị cho học sinh Điểm khó là làm sao vẫn phải đảm bảođặc trưng môn học, đảm bảo kiến thức, lại vừa lồng ghép được giá trị sống

mà bài học vẫn không khô cứng, học sinh cảm thấy hứng thú và quan tâmđến vấn đề được đặt ra

Sau khi đặt ra nhiều giải pháp, tôi quyết định lồng ghép giá trị sốngbằng cách liên hệ thực tế đan xen trong quá trình tìm hiểu kiến thức Sụ

Trang 8

liên hệ chủ yếu bằng dạng câu hỏi gợi mở, khuyến khích các em tự rút rabài học cho bản thân Cụ thể như sau:

Tôi lồng ghép giá trị lí tưởng sống sau khi giúp học sinh nhận thấy lí

tưởng và hoài bão của Từ Hải Tôi đặt các câu hỏi như:

- Em có hoài bão nào không?

- Chúng ta có thể sống mà không cần hoài bão, lí tưởng không?

- Em sẽ làm gì để biến hoài bão và khát vọng của mình thành hiện thực?(Có phải như Từ Hải “thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”không?)

Giá trị trách nhiệm tôi lồng ghép khi giảng đến lời hứa hẹn của Từ

Giá trị tình yêu được tôi lồng ghép khi phân tích lời từ chối của Từ Hải

khi Thúy Kiều ngỏ ý “Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi” Lí do Từ Hảiđưa ra cho thấy sự quan tâm lo lắng hết lòng, cái xót xa khi lo nghĩ chongười mình yêu của Từ Hải:

“ Bằng nay bốn bể không nhàTheo càng thêm bận biết là đi đâu.”

Giá trị tự tin tôi lồng ghép khi phân tích lời hứa của Từ Hải: trong

vòng một năm sẽ tay trắng làm nên nghiệp lớn “chầy chăng là một nămsau vội gì.”

Dưới đây là giáo án thể nghiệm:

- Qua nhân vật Từ Hải, hiểu được lí tưởng anh hùng của Nguyễn Du

- Nắm được đặc trưng nghệ thuật trong việc miêu tả nhân vật anh hùng của Nguyễn Du

2 Kỹ năng:

- Củng cố kỹ năng đọc hiểu một đoạn thơ trữ tình

- Biết cảm thụ và phân tích những câu thơ hay

3 Thái độ:

- Hiểu và trân trọng những giá trị, ý nghĩa của tác phẩm

Trang 9

4 Năng lực:

- Giải quyết vấn đề, hợp tác, thưởng thức văn học – cảm thụ thẩm mỹ

- Tự đánh giá bản thân và nhìn nhận cuộc sống một cách khách quan

II Phương tiện, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

1 Phương tiện:

- Giáo viên: Tài liệu, giáo án, dụng cụ giáo dục trực quan, …

- Học sinh: Tài liệu, đồ dùng học tập,…

2 Phương pháp:

Phương pháp đọc diễn cảm, phân tích – bình giảng, kết hợp nêu vấn

đề, so sánh qua hình thức trao đổi, thảo luận nhóm,… cùng các thủ pháp dạy học tích cực khác

3 Hình thức: Học theo lớp, học theo nhóm.

III Tổ chức hoạt động dạy học

1 Ổn định tổ chức lớp: Kiểm tra sĩ số, vệ sinh lớp, trang phục nề nếp

học tập

2 Kiểm tra bài cũ:

GV: Em hãy đọc diễn cảm đoạn trích “Nỗi thương mình” và cho biết câu thơ nào khiến em xúc động nhất? Hãy phân tích câu thơ ấy

3 Nội dung bài mới:

*Lời dẫn: Khi tả cảnh chia tay của Từ Hải với Thúy Kiều, Thanh Tâm Tài Nhân

chỉ nói trong một câu (Vợ chồng đoàn tụ chừng nửa năm, Từ Hải liền từ biệtThúy Kiều ra đi) nhưng Nguyễn Du lại sử dụng tới 18 câu lục bát diễn tả chí khíanh hùng của Từ Hải

Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt

Hoạt động 1: Tìm hiểu chung

GV: Em hãy cho biết vị trí của đoạn

trích?

HS: Trả lời

GV: Em hãy giải nghĩa các từ: “Chí”,

“Khí” trong nhan đề đoạn trích? Và cho

biết ý nghĩa của nhan đề?

-Em nào có thể kể vắn tắt các sự việc

trước đoạn trích này?

GV bổ sung, mở rộng: Ở lầu xanh của

I Đọc - hiểu khái quát

1.Vị trí đoạn trích

-Vị trí: Từ câu 2213 đến câu 2230

Ý nghĩa nhan đề:

-“Chí khí anh hùng”: Là lí tưởng,mục đích cao, nghị lực lớn củangười anh hùng

3.Nội dung đoạn trích:

-Từ Hải chia tay Thúy Kiều, quyết

Trang 10

Bạc Bà – Bạc Hạnh ở Châu Thai, Kiều

tình cờ gặp người khách đặc biệt, phi

phàm từ ngoại hình, điệu bộ, cử chỉ hào

hiệp đến tài năng chí khí tung hoành

thiên hạ “Trai anh hùng, gái thuyền

quyên/Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp

duyên cưỡi rồng” Sau nửa năm chung

sống hạnh phúc, Từ Hải từ biệt Kiều ra

đi thực hiện chí lớn

GV: Hướng dẫn HS đọc: Đoạn trích trên

gồm những lời của ai? (Giọng kể - tả

của tác giả và lời nói trực tiếp của các

nhân vật)

+ Giọng kể - tả: Chậm rãi, khâm phục,

ngợi ca

+ Giọng Thúy Kiều: Nhỏ nhẹ, tha thiết

+ Giọng Từ Hải: đĩnh đạc, hào hùng

GV gọi HS đọc và nhận xét

GV lưu ý HS phần chú giải từ khó

trang113

GV: Theo em đoạn trích này nên chia

làm mấy phần? Nội dung chính của từng

+ Phần 2: 12 câu thơ tiếp: Cuộc đốithoại giữa Kiều và Từ Hải

+ Phần 3: 2 câu thơ cuối: Từ Hảidứt áo ra đi

I Đọc – hiểu chi tiết

1 Hình tượng Từ Hải a/ Suy nghĩ và hành động.

-Thời gian: “Nửa năm”: Khoảngthời gian Kiều và Từ Hải chungsống

-“Hương lửa đương nồng”: Tìnhyêu nồng nàn, say đắm của ThúyKiều –Từ Hải

=> Thời điểm Từ Hải ra đi lập nên

sự nghiệp lớn cũng chính là lúccuộc sống lứa đôi với Thúy Kiềumới đang bắt đầu và vô cùng mặnnồng hạnh phúc

-“Trượng phu” (Đại trượng phu):

Là từ chỉ người đàn ông có chí khí,bậc anh hùng

Nguyễn Du dùng cách nói này thểhiện thái độ trân trọng với các vịanh hùng Nó dựng lên dáng vẻ oainghiêm, đĩnh đạc của một võtướng

- Các từ ngữ chỉ không gian: lòngbốn phương, trông vời trời bể mênhmang, bốn bể Đó là không gian to

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w