SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BỈM SƠN ------SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM RÈN LUYỆN KỸ NĂNG CHO HỌC SINH KHI LÀM DẠNG ĐỀ ĐỌC HIỂU TRONG ĐỀ THI THPT QUỐC GIA M
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BỈM SƠN
- -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG CHO HỌC SINH KHI LÀM DẠNG ĐỀ ĐỌC
HIỂU TRONG ĐỀ THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hạnh Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Bỉm Sơn SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
Thanh Hóa ,tháng 4 năm 2018
Trang 23 Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 5 - 27
III Kết luận, kiến nghị 28 - 29
I PHẦN MỞ ĐẦU:
1 Lí do chọn đề tài:
Chúng ta đang dạy văn trong một bối cảnh mà có thể trước khi thầy (cô) giáo lên lớp để chỉ ra cái hay cái đẹp trong bài thơ , học sinh đã đọc được, biết được hầu hết cái hay, cái đẹp đó rồi
Tôi đang muốn nói đến sự bùng nổ các loại sách tham khảo, sách thiết
kế bài học, những bài văn mẫu, các phương tiện thông tin sự thực như thế nào ? sự bùng nỗ các bài viết trên đã giúp học sinh mở mang kiến thức để có thể hiểu sâu hơn, rộng hơn tác phẩm, học được cách dùng từ, viết văn, làm văn hay hơn, tốt hơn Nhưng bên cạch đó nó đã làm một môi trường thuận lợi
Trang 3để hình thành ở học sinh thói quen tư duy lười biếng, ỷ lại, thụ động tình trạng học sinh làm văn sao chép tài liệu, bài văn mẫu, viết văn “ giọng bà cụ”, thiếu sự cảm thụ hồn nhiên, tươi mát của lứa tuổi học trò, dùng từ sáo rỗng là một thực trạng đáng lo ngại Giải pháp nào để khắc phục tình trạng học văn, làm văn như trên ? đó là câu hỏi cần đến nhiều câu trả lời
Trong nghị quyết số 29/NQ- TW ngày 04/11/2013 Hội nghị BCH trungương lần thứ 8 ( Khóa XI) về “ Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”
Đảng ta đã xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: “ Tạo chuyển biếncăn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và nhu cầu học tập của nhândân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng , khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân
Để đáp ứng mục tiêu trên, hiện nay nghành giáo dục đang thực hiện công cuộc cải cách và đổi mới để đưa giáo dục Việt Nam vươn xa khu vực và thế giới Bộ Giáo dục đã có những đổi mới tích cực như đổi mới chuong trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học, lồng ghép giáo dục, kỹ năng sống vào các môn học và đổi mới kiểm tra đánh giá với mục đích nhằm khơi gợi trí tưởng tượng , khả năng sáng tạo của học sinh khi làm bài, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu của xã hội Bộ Giáo dục đã có
sự thay đổi cấu trúc đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn Từ năm 2014, ngoài phần làm văn với 2 câu hỏi theo hướng mở đề bài còn có phần đọc hiểu
để kiểm tra kỹ năng đọc – hiểu và cảm thụ một văn bản hoặc một đoạn trích hoàn toàn mới không nằm trong chương trình học của học sinh THPT
Mặt khác, lý do tôi chọn đề tài này bởi phần đọc hiểu cũng là một phầnthi khá quan trọng và chiếm một lượng điểm không nhỏ (3/10) tổng số điểm trong bài thi, là phần thi phù hợp với học sinh có trình độ học lực trung bình, cũng là phần thi mang tính chất “ gỡ điểm” cho học sinh có học lực yếu Hơn nữa, phần thi này còn có tính chất quyết dịnh điểm thi cao hay thấp của học
Trang 4sinh có học lực khá, giỏi Vì vậy giáo viên cần phải tìm ra một phương pháp
để rèn luyện kỹ năng cho học sinh làm tốt phần thi này là điều rất cần thiết
Do vây, qua quá trình giảng dạy, nghiên cứu, học hỏi Tôi đã chọn đề tài: “ Rèn luyện kỹ năng cho học sinh khi làm dạng đề đọc hiểu trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn” Từ đó, tôi hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào việc rèn luyện kỹ năng cho các em học sinh làm tốt dạng đề này để chuẩn
bị cho kỳ thi THPT Quốc gia
2 Mục đích nghiên cứu.
- Xây dựng biện pháp phù hợp, giúp học sinh hiểu khái niệm đọc –hiểu
- Giúp các em hình dung dạng đề đọc –hiểu
- Rèn luyện kỹ năng cho học sinh làm phần đọc-hiểu một cách hiệuquả, không mất nhiều thời gian
- Góp phần nâng cao chât lượng bộ môn, điểm số trong bài thi
3 Đối tượng nghiên cứu.
Dạng đề đọc –hiểu trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn
Học sinh Trường THPT Bỉm Sơn
4 Phương pháp nghiên cứu.
- Nhóm phương pháp lý luận: Các tài liệu tham khảo, giáo trình có nộidung liên quan
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra
- Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Thống kê, phân tích, tổng hợp
5 Những điểm mới của SKKN:
- Lần này, người viết lựa chọn đề tài này về một dạng đề trong đề thiTHPT Quốc gia bằng việc rèn luyện kỹ năng để học sinh làm tốt phần thinày
II- NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận:
Trang 5- Trước hết, chúng ta thấy, chương trình ngữ văn THPT hiện hành đượcbiên soạn sắp xếp đan xen giữa Văn học, Tiếng việt và Làm văn Đó cũng làchương trình có xu hướng kết nối giữa nhà trường và đời sống.
1.1 Khái niệm đọc hiểu:
- Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phântích, khái quát, biện luận đúng, sai về logic, tức là kết hợp với năng lực, tưduy và biểu đạt
- Đọc hiểu là khái niệm bao trùm có nội dung quan trọng trong quátrình dạy văn, nó là khái niệm khoa học có mức độ cao nhất của hoạt độnghọc, đọc hiểu củng chỉ năng lực của người học
1.2 Mục tiêu đọc hiểu:
- Đọc hiểu là một mục tiêu của môn Ngữ văn Nghĩa là sau khi hoànthành môn học, học sinh phảỉ có kỹ năng đọc hiểu văn bản ở tất cả các thểloại khác nhau
1.3 Kiểm tra kỹ năng đọc hiểu.
Thứ 2: Học sinh khi bước vào bậc học THPT rất nhiều kiến thức Tiếngviệt, Làm văn, Lý luận văn học, ở cấp THCS các em đã quên Hơn nữa lênbậc THPT các em không được học thành bài cụ thể Có lẽ do ở cấp THCS các
em chưa va chạm nhiều với dạng đề này Vì vậy dẫn đến các em khó có thểlàm bài tốt các câu hỏi ở mức độ nhận biết
Trang 6Thứ 3: Học sinh chưa hình dung được dạng đề đọc hiểu ở kỳ thi THPTQuốc gia bởi cấp dưới dạng đề khá đơn giản.
Thứ 4: Học sinh khi đứng trước một đề thi chưa biết cách trả lời, trìnhbày , thậm chí trả lời lan man, không trọng tâm và mất nhiều thời gian khôngcần thiết Đặc biệt các câu hỏi ở mức độ thông hiểu và vận dụng
Thứ 5: Kết quả làm bài chưa cao Đây là kết quả phần đọc hiểu (3.0điểm) trong đề thi thử lần 1 do trường tôi tổ chức trong năm học
3.1.1 Các dạng câu hỏi thường gặp trong đề đọc hiểu.
Qua nghiên cứu, khảo sát đề thi các năm học 2014-2015, 2015 -2016,2016-2017 và cách ra đề thi thử THPT Quốc gia môn ngữ văn của nhiềutrường THPT trên cả nước tôi nhận thấy
Thứ nhất: Cấu trúc của dạng đề đọc hiểu trong đề thi THPT môn ngữvăn của nhiều năm trước là hai văn bản hoặc hai đoạn trích Nhưng đề thiTHPT Quốc gia môn ngữ văn gần đây nhất (2016-2017), đặc biệt là đề thiminh họa của Bộ giáo dục năm 2018, đề thi thử của các trường trong cả nướccấu trúc dạng đề đọc hiểu chỉ có một văn bản hoặc một đoạn trích hoàn toànmới mà học sinh không được học trong chương trình Mỗi văn bản, đoạn tríchthường có 4 câu hỏi thuộc các mức độ khác nhau
Thứ 2: Các câu hỏi trong phần đọc hiểu thường có dạng như sau:
+ Loại câu hỏi nhận biết (2 câu): Tùy từng đề thi Có đề 1 câu.
Trang 7Yêu cầu học sinh nhận biết về phương thức biểu đạt, phong cách ngônngữ, thao tác lập luận, thể thơ Nhận biết về suy nghĩ tác giả ngay trong đềthi.
+ Loại câu hỏi thông hiểu (1 đến 2 câu):
Xác định nội dung chính, ý nghĩa, bài học của văn bản, đoạn trích, xácđịnh câu chủ đề, hoặc chủ đề của văn bản, đoạn trích, đặt tên cho văn bản,đoạn trích, giải thích, ý nghĩ của một từ, một câu, một phần văn bản, đoạntrích, phân tích tác dụng, giá trị của biện pháp tu từ
+ Loại câu hỏi vận dụng (1 câu):
- Loại câu hỏi này thường ở mức độ vận dụng thấp Có nhiều câu hỏi
về vận dụng: Thông điệp từ văn bản, đoạn trích trên? Thông điệp nào có ýnghĩa nhất ? Rút ra bài học từ văn bản, đoạn trích trên ? Cho một ý kiến, câunói tác giả anh(chị) có đồng tình với quan điểm, ý kiến tác giả không ? Vìsao?
- Với loại câu hỏi này, ngoài quan điểm, chính kiến của tác giả học sinh
có thể yêu cầu đưa thêm ý kiến riêng của bản thân
Từ cấu trúc đề thi, giáo viên sẽ có những kế hoạch ôn lại các kiến thứccần thiết để học sinh làm bài tốt dạng đề đọc hiểu trong đề thi THPT Quốcgia môn ngữ văn
3.1.2 Giáo viên ôn lại các kiến thức cơ bản.
- Các phương thức biểu đạt: gồm 6 phương thức.(tự sự, miêu tả, biểucảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính – công vụ)
- Phong cách ngôn ngữ: gồm 6 phong cách (sinh hoạt, nghệ thuật, hànhchính, chính luận, ngữ báo chí, khoa học)
Trang 8- Thao tác lập luận: gồm 6 thao tác( giải thích, chứng minh, phân tích, bìnhluận, so sánh, bác bỏ)
- Biện pháp tu từ: Có nhiều biện pháp tu từ, song học sinh cần trọng tâm cácbiện pháp tu từ sau ( so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, điệp từ, điệp ngữ,điêp cấu trúc)
- Hình thức diễn đạt: Diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích
-Phép liên kết: Phép nối, phép thế, phép lặp
- Các thể thơ: Có 3 nhóm chính:
+ Thơ dân tộc ( Thể thơ lục bát, thể thơ song thất lục bát)
+ Thơ đường luật (Thơ ngũ ngôn, thơ thất ngôn)
+ Các thể thơ hiện đại: năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, thơ tự do, thơ vănxuôi
3.1.3 Rèn luyện kỹ năng cho học sinh trả lời câu hỏi trong phần đọc hiểu:
Điểm phần đọc hiểu chiếm gần 1/3tổng số điểm trong bài thi (3/10 điểm) Vìvậy học sinh khi đứng trước dạng đề này cần phải bố trí thời gian hợp lí.(khoảng 20 phút) Thời gian còn lại dành cho các phần thi khác trong đề thi
* Các bước đọc hiểu:
Bước 1: -Đọc nhanh một lượt cả văn bản (đoạn trích) và câu hỏi
- Đọc kỹ văn bản ( đoạn trích) và câu hỏi
- Khi đọc văn bản (đoạn trích) đối với văn bản( đoạn trích) thơ thì phảinắm được cảm xúc chủ đạo, văn bản tự sự phải nắm được cốt truyện, văn bảnnghị luận phải nắm được vấn đề cần nghị luận
Trang 9- Khi đọc câu hỏi cần xác định số câu hỏi, số vế trong từng câu Họcsinh cần chú ý vào các từ ngữ quan trọng để có những câu trả lời chính xác.
Ví dụ : Trong câu hỏi có các từ “ những”, “các” thì bao giờ cũng trả lời từ haiphương án trở lên Còn câu hỏi có các từ “ chính”, “ chủ yếu” thì chỉ có mộtphương án duy nhất Vì vậy cách trả lời cho mỗi câu hỏi là khác nhau
Các dạng câu hỏi minh họa:
Câu hỏi 1: Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên ? Câu hỏi 2: Chỉ ra các phương thức biểu đạt trong đoạn trích trên ?
Câu hỏi 3: Văn bản trên có sự kết hợp các phương thức biểu đạt nào ?
Bước 2: Tiến hành trả lời các câu hỏi.
- Câu trả lời phải ngắn gọn, chính xác, chặt chẽ Cần chú ý trả lời trọng tâmcâu hỏi, tránh viết lại đề bài, giải thích lan man để không mất nhiều thời gianlàm bài ( đối với loại câu hỏi nhận biết)
- Cách trình bày: Học sinh cần trình bày một cách khoa học, mạch lạc, rõràng Tránh giải thích lan man dài dòng cần tập trung vào trọng tâm yêu cầucâu hỏi ( đối với loại câu hỏi thông hiểu, vận dụng)
* Rèn luyện kỹ năng hướng dẫn học sinh xác định câu trả lời đúng nhất cho từng loại câu hỏi:
+ Loại câu hỏi nhận biết: Đây là loại câu hỏi ở mức độ dễ nhằm giúp học
sinh “gỡ điểm” Song việc nhận biết về phương thức biểu đạt, phong cáchngôn ngữ, thao tác lập luận, ở nhiều trường hợp lại khá khó, học sinh lúngtúng và dễ nhầm lẫn Vì vậy, trong quá trình dạy tôi thường xuyên luyện họcsinh xác định được những căn cứ, những dấu hiệu để nhận biết
Ví dụ:
Trang 10- Nếu đề bài cho một văn bản ( đoạn trích) thơ, ca dao mà câu hỏi xác địnhphương thức biểu đạt chủ yếu thì phương án trả lời : Biểu cảm.
- Nếu đề bài cho một văn bản ( đoạn trích) thơ, ca dao mà câu hỏi xác địnhphong cach ngôn ngữ thì phương án trả lời: Nghệ thuật
- Học sinh thường nhầm lẫn khi xác định phong cách ngôn ngữ giữa phongcách ngôn ngữ chính luận và phong cách ngôn ngữ báo chí
- Nếu đề bài một văn bản (đoạn trích) (nguồn trích dẫn Báo Lao động, ngày20.5)
Học sinh băn khoăn giữa phong cách ngôn ngữ báo chí và phong cách ngônngữ chính luận yêu cầu học sinh cần đọc kỹ văn bản ( đoạn trích) có thờigian, địa điểm, nội dung thông tin phương án trả lời: phong cách ngôn ngữbáo chí Còn nếu văn bản(đoạn trích) không có thời gian địa điểm mà chỉ thểhiện quan điểm của người viết về một vấn đề ( nội dung thông tin) phương ántrả lời: phong cách ngôn ngữ chính luận
- Học sinh thường nhầm lẫn khi xác định phong cách ngôn ngữ nghệ thuật vàphong cách ngôn ngữ chính luận
- Cách nhận diện cho từng loại đối tượng
+ Cách xác định phương thức biểu đạt: Học sinh có thể dựa vào bảng phân
biệt các phương thức biểu đạt trong bảng sau để nhận diện
Trang 11tới người nghe.
Cách
dùng
- Một văn bản có thể sử dụng nhiều phương thức biểu đạt
-Một văn bản luôn có một phương thức biểu đạt chính
Hànhchính-Công vụ
Là khảnăng conngườibộc lộtình cảm,nhữngrungđộngtrongtâm hồnvới
ngườikhác
Là dùngngônngữnhằmcungcấp, giớithiệugiảng giảinhững trithức vềmột sựvật, hiệntượngnào đó
Là bàn
về mộtvấn đềnào đónhằmthuyếtphụcngườiđọc,ngườinghe
Làphươngthức đểgiao tiếphànhchínhdựa trên
cơ sởpháp lý
Sử dụngnhững từngữnhằm
-Tínhchuẩnxác, khoahọc, hấp
Các yếu
tố : Luận
đề, luậnđiểm,
Phươngthức nàyđược sửdụng
Trang 12có thểcảm thấynhư gặpconngười,nghethấy âmthanh,nhìn racảnhsắc
diễn tảcảm xúcđối vớingườihoặc đốivới sựvật, hiệntượng
dẫn
-Đượctrình bàytheohìnhthức kếtcấu nhấtđịnh
luận cứ,lập luận
trong cácvăn bảnhànhchính.Tínhkhuônmẫu,tính công
vụ, thínhminh xác
Ví dụ minh họa:
Ví dụ 1: Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi
bắt tôm, bắt tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng cho một cái yếm
đỏ Tấm vốn chăm chỉ, lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ
cả tôm lẫn tép Còn Cám quen được nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều chẳng bắt được gì.
Trong đoạn văn trên, tác giả dân gian kể về sự việc hai chị em Tấm đi bắt tép.+Có nhân vật : dì ghẻ, Tấm, Cám
+Có câu chuyện đi bắt tép của hai chị em
+Có diễn biến hành động của các nhân vật dì ghẻ, Tấm & Cám
+Có các câu trần thuật
Trang 13Ví dụ 2: Trăng đang lên Mặt sông lấp loáng ánh vàng Núi Trùm Cát đứng
sừng sững bên bờ sông thành một khối tím sẫm uy nghi, trầm mặc Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man
vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát
(Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy)
Đoạn văn trên tả cảnh dòng sông trong một đêm trăng sáng
Ví dụ 3: Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than
(Ca dao)
Câu ca dao trên miêu tả cảm xúc nhớ nhung của một người đang yêu
Ví dụ 4: Trong muôn vàn loài hoa mà thiên nhiên đã tạo ra trên thế gian này,
hiếm có loài hoa nào mà sự đánh giá về nó lại được thống nhất như là hoa lan.
Hoa lan đã được người phương Đông tôn là « loài hoa vương giả » (vương giả chi hoa) Còn với người phương Tây thì lan là « nữ hoàng của các loài hoa »
Họ lan thường được chia thành hai nhóm : nhóm phong lan bao gồm tất cả những loài sống bám trên đá, trên cây, có rễ nằm trong không khí.Còn nhóm địa lan lại gồm những loài có rễ nằm trong đất hay lớp thảm mục ….
( Trích trong SGK Ngữ văn lớp 10 )
Đoạn trích thuyết minh về hoa lan, nhằm mục đích làm cho người đọc hiểu rõ
về loài hoa này
Ví dụ 5: Muốn xây dựng một đất nước giàu mạnh thì phải có nhiều người tài
giỏi Muốn có nhiều người tài giỏi thì học sinh phải ra sức học tập văn hóa
và rèn luyện thân thể, bởi vì chỉ có học tập và rèn luyện thì các em mới có thể trở thành những người tài giỏi trong tương lai.
Ví dụ 6: Giấy xin phép nghỉ học, đơn, hợp đồng,…
+ Cách nhận biết các phong cách ngôn ngữ:
Trang 14Dấu hiệu
nhận
biết
PCNN sinh hoạt
PCNN nghệ thuật
PCNN báo chí
PCNN chính luận
PCNN khoa học
PCNN hành chính Đặc
-Là ngônngữdùng đểthôngbáo tintức thờisự
-Dùngtronglĩnh vựcbáo chí
Là ngônngữ đểbày tỏqunđiểmthái độ
về mộtvấn đềthuộclĩnh vựcchính trị
xã hội
Là ngônngữđượcdùngtrong cácvăn bảnkhoa học
Là ngônngữdùngtrong cácvăn bảnhànhchính đểgiao tiếptrongphạm vi
cơ quannhànước
Thôngbáo,chứngminh
Thôngbáo
-Tínhtruyềncảm
-Tínhthôngtin, thờisự
-Tínhngắngọn
-Tínhcôngkhai vềquanđiểmchính trị
-Tính
-Tínhtrừutương,kháiquát
-Tính lýtrí, logic
-Tínhkhuônmẫu.-Tínhminhxác
Trang 15-Tính cáthể hóa.
-Tínhsinhđộng,hấp dẫn
chặt chẽtrongdiễn đạt
và suyluận
-Tínhtruyềncảm,thuyếtphục
-Tính phicác thể
-Tínhcông vụ
có tính
đa nghĩa
-Sử dụngnhiềubiệnpháp tutừ: Sosánh, ẩn
dụ, hoán
dụ
-Sử dụngnhiều từngữ cótínhthôngtin: Địađiểm,thờigian, sựkiện
-Sử dụngnhiềucác từngữchính trị
-Sử dụngcác kiểucâu phứchợp
-Sử dụngbiệnpháp tutừ
-Sử dụngnhiềucác thuậtngữ khoahọc
-Sử dụngcâu vănchínhxác, chặtchẽ, logic
-Không
sử dụngbiệnpháp tutừ
-Sử dụngnhiều từngữhànhchính.-Trongcâu mỗi
ý thườngtách ra
và xuốngdòng.-Không
sử dụngbiệnpháp tutừ