Đó là tri thức về tác giả, về tác phẩm, về thể loại, về phong cách nghệ thuật, vềmối quan hệ giữa tác phẩm văn học với người đọc…Sự hiểu biết về những trithức LLVH có ý nghĩa quan trọng
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn nghị luận là một trong 6 kiểu văn bản được dạy học trong
chương trình (CT), sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn bậc phổ thông Bản chấtcủa văn nghị luận là cách vận dụng lý lẽ, dẫn chứng để thuyết phục ngườiđọc, người nghe về một vấn đề nào đó, trong đó có những vấn đề liên quanđến văn học Với bài nghị luận văn học, để thuyết phục người đọc, ngườinghe trước một vấn đề về văn học, điều quan trọng là học sinh (HS) phải cóvốn tri thức liên quan đến vấn đề cần nghị luận (tác giả, tác phẩm, một nhậnđịnh, đánh giá về tác phẩm hoặc tác giả…) và có kỹ năng lập luận (phân tích,chứng minh, giải thích, bình luận, bác bỏ…)
Bên cạnh vốn tri thức và kĩ năng về Làm văn, tiếng Việt và văn bản Đọchiểu, đối với bài nghị luận văn học, trong đó có bài nghị luận về một bài thơ,đoạn thơ, người viết cần phải có vốn tri thức về lí luận văn học (LLVH) Đó
là tri thức về tác giả, về tác phẩm, về thể loại, về phong cách nghệ thuật, vềmối quan hệ giữa tác phẩm văn học với người đọc…Sự hiểu biết về những trithức LLVH có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc Đọc hiểu văn bản màcòn chi phối đến việc tạo lập văn bản, đó là việc làm bài nghị luận văn họccủa HS
Đối với bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ không có những tri thức
về nhân vật trữ tình, chủ thể trữ tình, hình tượng thơ, ngôn ngữ thơ, HS sẽkhó làm tốt những dạng đề văn như: “Hình tượng sóng trong bài thơ cùng têncủa nhà thơ Xuân Quỳnh”, “Cảm thức về thời gian trong bài thơ “Vội vàng” -Xuân Diệu”, “Cảm nhận về đoạn thơ sau” Có thể xem đó là những tri thức
có tính “chìa khóa” để HS làm bài văn nghị luận có độ sâu, thể hiện được vốnhiểu biết, khả năng tư duy và kỹ năng diễn đạt trước các tính huống giao tiếp
cụ thể trước mỗi bài thơ, đoạn thơ Đây cũng chính là cách tiếp cận tác phẩm
Trang 2văn học theo loại thể - một xu hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ vănhiện nay
1.2 Tri thức LLVH được giảng dạy trong CT, SGK Ngữ văn THPT
được tách thành các tiết dạy riêng, như: “Văn bản văn học”, “Quá trình vănhọc và phong cách văn học”, Tuy nhiên, trong thực tế, việc lĩnh hội tri thứcLLVH để giải quyết tốt nhiệm vụ đặt ra trong mỗi tình huống giao tiếp cụ thể.Các đề bài, các bài tập của HS trong các bài làm văn trên lớp, bài làm văn ởnhà, bài thi học kì theo phân phối chương trình và bài thi THPTQG còn đặt ranhiều vấn đề Đó là tình trạng non yếu về tri thức LLVH, về kỹ năng vậndụng tri thức LLVH để làm bài tập, về kỹ năng diễn đạt, rồi có cả sự nhầm lẫn
về kiến thức… là điều mà chúng ta luôn bắt gặp trong bài làm của HS Thựctrạng này do nhiều nguyên nhân, ở cả hai phía: Giáo viên (GV) và HS; cónguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan…
Về phía GV, phần lớn chưa đánh giá đúng bản chất, vai trò của tri thứcLLVH được đưa vào giảng dạy trong CT, SGK Ngữ văn; chưa có cách thức,biện pháp để hướng dẫn HS vận dụng loại tri thức này vào bài nghị luận vănhọc; hoặc, cách tích hợp tri thức LLVH (phần tri thức đọc hiểu - CT Nângcao) với tạo lập văn bản (Làm văn) còn khiên cưỡng, áp đặt
Về phía HS, phần lớn các em không chú ý đến những bài dạy LLVH vàcác bài liên quan đến tri thức LLVH vì cho rằng, không có câu nào trong đềthi chỉ kiểm tra tri thức này; hoặc “ngại học” vì trừu tượng, khó hiểu…
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng vận dụng tri thức LLVH cho HS lớp 12 trong bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ” với mong muốn khắc phục một phần những hạn chế trên,
góp phần nâng cao hiệu quả của bài văn nghị luận nói riêng và hoạt động dạyhọc Ngữ văn ở THPT nói chung
Trang 32 Lịch sử nghiên cứu
LLVH là vấn đề không mới, đã được nghiên cứu công phu, khoa họctrong các giáo trình, tài liệu của các tác giả nổi tiếng như: Hà Minh Đức;Phương Lựu, Trần Đình Sử; Lê Lưu Oanh… Những tri thức này cũng đãđược chọn lọc, đưa vào giảng dạy trong CT, SGK Ngữ văn các cấp học phổthông Mặt khác, để định hướng dạy học những tri thức LLVH dưới dạngngắn gọn, khái quát thì sách giáo viên, các tài liệu tham khảo cũng đã đề cậpđến, có tính gợi mở hướng tiếp cận cho GV và HS phổ thông
Có thể dẫn một số ý kiến sau:
- Trong giáo trình Phương pháp dạy học Văn [27] đã khái quát 3
nguyên tắc dạy học LLVH: thông qua tác giả, tác phẩm để cung cấp nhữngkhái niệm cơ bản; củng cố khái niệm qua hệ thống bài tập; tận dụng vốn hiểubiết của HS để hình thành khái niệm Từ đó, giáo trình cũng đề xuất một sốphương pháp dạy học tri thức LLVH như: “hình thành kiến thức bằng conđường diễn dịch”; “phân tích mẫu để hình thành khái niệm”; “lựa chọn cácphương pháp phù hợp với đối tượng” [27]
- Trong cuốn giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt [Lê A, Nguyễn
Quang Ninh, Bùi Minh Toán], khi bàn về các tiền đề lý thuyết trong dạy họcLàm văn, các tác giả đã khẳng định: “hiện nay trên con đường tìm tòi một líthuyết làm văn, người ta đã hướng tới những lí thuyết có sức bao quát chonhiều loại văn bản và coi đó như tiền đề lí thuyết của việc làm văn Trong sốcác lí thuyết không thể không nhắc tới: ngôn ngữ học văn bản, lí thuyết giaotiếp bằng ngôn ngữ, Logic học và do nội dung giảng dạy, học tập về làm vănhiện nay trong nhà trường Việt Nam cũng không thể không nhắc tới lí luận
văn học” [1, tr.190] Giáo trình cũng cho thấy sự hiểu biết về nhân vật, cốt
truyện, chi tiết, phương pháp sáng tác… có ý nghĩa quan trọng chi phối đến
sự hình thành một bài văn Các vấn đề về LLVH và cách vận dụng tri thứcLLVH trong bài nghị luận văn học nói chung, bài văn nghị luận về một bàithơ, đoạn thơ nói riêng không được đề cập tới trong giáo trình
Trang 4- Sách giáo viên Ngữ văn 10, 11, 12 đều ít nhiều gợi mở, hướng dẫn GV tiếp cận một số tri thức về LLVH qua các bài dạy cụ thể: Đọc tiểu thuyết và truyện ngắn, đọc thơ trữ tình, quá trình văn học và phong cách văn học
Ngoài những định hướng để GV giúp HS tiếp xúc với tri thức LLVH, SGK
Ngữ văn còn cũng cấp một số tri thức khái quát trong phần Tri thức đọc - hiểu
ở một số bài Đọc văn cụ thể trong CT, SGK Ngữ văn Nâng cao Ví dụ: “Cảmhứng lãng mạn trong thơ”, “Thơ lục bát, tính dân tộc của văn học”, “Vẻ đẹp trítuệ trong thơ”, “thơ tự do”… Đây là những tri thức có ý nghĩa quan trọng giúpcho việc đọc hiểu văn bản có tính khoa học, tính sư phạm ở cả GV và HS Qua việc khảo sát một số tài liệu trên, chúng tôi rút ra một số nhận xétsau:
- Tri thức LLVH đã được đưa vào giảng dạy trong CT, SGK Văn học,SGK Ngữ văn từ nhiều năm trước đây Những nội dung này cũng đã được cácnhà nghiên cứu đề cập đến trong các giáo trình, các tài liệu tham khảo Tuynhiên, những nội dung tri thức LLVH trong các tài liệu đã nêu chỉ có tính chấtđịnh hướng cho việc dạy học nội dung các bài dạy về LLVH trong CT, SGKNgữ văn
- Các tài liệu hướng dẫn giảng dạy (Sách giáo viên, Sách Bài tập Ngữvăn, Để học tốt môn Ngữ văn…), mặc dù đã hướng dẫn tương đối cụ thể đểdạy tốt các đơn vị tri thức mang tính độc lập trong từng phân môn (Đọc vănhay Đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt, Làm văn) và tính tích hợp các đơn vị trithức qua từng bài dạy Tuy nhiên, việc vận dụng tri thức LLVH trong bài nghịluận văn học nói chung, bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ nói riêng vẫn làvấn đề mới mẻ Vấn đề cần quan tâm là sự vận dụng những tri thức LLVHnhư thế nào để làm bài văn nghị luận đạt hiệu quả, tức là đứng ở góc độ tíchhợp giữa tri thức Đọc hiểu văn bản và Làm văn Những hiểu biết về thể loạivăn học, về phong cách nghệ thuật, về mối quan hệ giữa tác phẩm với độcgiả… sẽ được HS lĩnh hội ra sao, từ đó vận dụng trong bài nghị luận văn học
Trang 5theo quy trình như thế nào… Đây là vấn đề mới, chưa được quan tâm đúngmức trong các tài liệu tham khảo, các bài viết
- Việc chọn đề tài “Rèn luyện kỹ năng vận dụng tri thức LLVH cho HS lớp 12 trong bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ” có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn, góp phần khắc phục một số những tồn tại trong bài nghị luận vềmột bài thơ, đoạn thơ của HS lớp 12 hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp, cách thức rèn kĩ năng vận dụng trithức LLVH trong bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cho HS lớp 12, gópphần nâng cao chất lượng bài nghị luận văn học cũng như trong quá trình dạyhọc CT Ngữ văn hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các biện pháp, cách thức và quy trìnhvận dụng tri thức LLVH để làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cho HSlớp 12
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Những tri thức LLVH về một bài thơ, đoạn thơ được dạy học trong CT,SGK Ngữ văn lớp 12 THPT (theo chương trình Chuẩn), trong đó tập trung
vào một số tác phẩm, tác giả: Tây Tiến - Quang Dũng; Việt Bắc - Tố Hữu; Đất Nước (Trích “Mặt đường khát vọng”) - Nguyễn Khoa Điềm; Sóng - Xuân Quỳnh; Đàn ghi ta của Lorca - Thanh Thảo.
- Các biện pháp, cách thức, quy trình vận dụng tri thức LLVH để làm bàinghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cho HS lớp 12
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai những nội dung nghiên cứu ở trên, chúng tôi chủ yếu sửdụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp phân tích - đánh giá
Phương pháp phân tích - đánh giá được sử dụng khi xem xét và lý giảinhững vấn đề lý thuyết về nội dung tri thức LLVH về một bài thơ, đoạn thơđược dạy học trong chương trình lớp 12 Phương pháp nghiên cứu này cũng là
cơ sở để lý giải những vấn đề lý thuyết cũng như các biện pháp nâng cao chấtlượng viết văn nghị luận
- Phương pháp điều tra - khảo sát
Phương pháp điều tra - khảo sát được áp dụng khi khảo sát CT, SGK;điều tra về cách dạy vận dụng tri thức LLVH trong bài nghị luận về một bàithơ, đoạn thơ của GV và cách lĩnh hội, cách làm bài của HS với những yêucầu cụ thể
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm được sử dụng nhằm xem xét, xácnhận tính đúng đắn của những biện pháp mà đề tài đưa ra
6 Đóng góp mới của đề tài
- Về mặt lý luận:
Đề tài góp một phần nhỏ vào việc khẳng định giá trị, vai trò của tri thứcLLVH trong bài nghị luận văn học Đồng thời, chúng tôi cũng đề xuất cácbiện pháp, cách thức vận dụng những tri thức LLVH trong bài nghị luận vềmột bài thơ, đoạn thơ cho HS lớp 12
- Về mặt thực tiễn:
Đề tài giúp GV và HS THPT tài liệu để dạy học tốt nội dung phân mônLàm văn đặc biệt là loại bài nghị luận văn học, trong đó có dạng bài nghị luận
Trang 7về một bài thơ, đoạn thơ ở SGK Ngữ văn 12 nói riêng, chương trình Ngữ văn
ở phổ thông nói chung
Chương 2 Tổ chức rèn luyện kĩ năng vận dụng tri thức LLVH cho họcsinh lớp 12 trong bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 8Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VẬN DỤNG TRI THỨC LÝ LUẬN VĂN HỌC CHO HS LỚP 12 TRONG BÀI NGHỊ LUẬN
VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ
Bài làm văn là sự tổng hợp của nhiều tri thức và kỹ năng của HS: tri thứcliên quan đến nội dung mà đề bài yêu cầu; tri thức về vốn sống, vốn hiểu biết;tri thức về cách diễn đạt… Đối với bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ,bên cạnh những tri thức trên, HS còn phải có sự hiểu biết về tri thức LLVH
Có thể xem đó chính là nền tảng cơ sở để HS bàn luận, đưa ra ý kiến đánh giácủa mình về tác giả, tác phẩm Việc vận dụng tri thức LLVH cần phải dựatrên những cơ sở khoa học và thực tiễn nhất định Trong chương 1, đề tài sẽtrực tiếp đề cập đến những nội dung này
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm, yêu cầu và các kỹ năng cần rèn luyện cho HS trong bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
1.1.1.1 Khái niệm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
* Khái niệm về văn nghị luận
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn nghị luận
- “Văn nghị luận là một loại văn trong đó người viết đưa ra những lý lẽ,dẫn chứng về một vấn đề nào đấy và thông qua cách thức bàn luận mà làmcho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theonhững ý kiến mà mình đề xuất” [2, tr.137]
- “Văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái
độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị,đạo đức, lối sống… nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trongsáng hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục”[45; tr.128]
Trang 9Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng về cơ bản, văn nghịluận được xác định trên những đặc điểm sau:
- Là một trong 6 kiểu văn bản được dạy học trong CT, SGK Ngữ văn phổthông nhằm hình thành cho HS phương thức biểu đạt (cách thức biểu đạt)nghị luận, trong đó chủ yếu là cách lập luận chặt chẽ, thuyết phục
- Phạm vi, nội dung bàn luận: là những vấn đề liên quan đến văn họchoặc chính trị, đạo đức lối sống…
- Mục đích: thuyết phục người đọc, người nghe hiểu, tin, tán đồng vàhành động theo mình
* Khái niệm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Theo CT, SGK Ngữ văn phổ thông, văn nghị luận được phân chia thànhhai loại: nghị luận văn học và nghị luận xã hội Với loại bài nghị luận vănhọc, dựa trên nội dung và đối tượng cần nghị luận, được tách thành các dạng:
- Nghị luận về ý kiến bàn về văn học
- Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
- Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
Như vậy, nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ, mặc dù không có một địnhnghĩa đầy đủ, chính xác trong các tài liệu, SGK Ngữ văn nhưng có thể nhậndiện dựa trên các yếu tố sau:
- Là một trong ba dạng thuộc kiểu bài nghị luận văn học nhằm mục đích rèn luyện cho HS cách thức biểu đạt nghị luận, trong đó chủ yếu là việc
sử dụng các thao tác lập luận làm sáng rõ nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ Nói cách khác, nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ là trình bày cách nhận xét, đánh giá của người viết về nội dung, nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ.
Trang 10- Nội dung, nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ được thể hiện qua từ ngữ, giọng điệu, hình ảnh… Bài văn nghị luận cần phân tích rõ các yếu tố ấy có những nhận xét, đánh giá cụ thể, rõ ràng, thuyết phục Những nhận xét, đánh giá ấy phải gắn liền với sự bình giá ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, nội dung, cảm xúc… của bài thơ, đoạn thơ.
- Bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ có bố cục mạch lạc, có lời văn gợi cảm, thể hiện được rung động chân thành của người viết Nhìn chung, bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ được bố cục theo ba phần: đặt vấn đề (giới thiệu về bài thơ, đoạn thơ; nêu nhận xét, đánh giá của mình); giải quyết vấn đề (trình bày những đánh giá của mình về nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ); kết thúc vấn đề (khái quát giá trị, ý nghĩa của bài thơ, đoạn thơ)
Ví dụ:
Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài thơ:
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa Như đưa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa (Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
Khi nói về con đường thơ của mình, Chế Lan Viên từng khẳng định:
“Xưa phù du mà nay đã phù sa / Xưa trôi đi mà nay không bay mất” Trên hành trình của một hồn thơ đi từ thung lũng đau thương ra cách đồng vui, từ chân trời của một người đến với chân trời của tất cả ấy, hơn ai hết, Chế Lan
Viên hiểu được vai trò lớn lao của Đảng và nhân dân, những người mà nhà
thơ cho rằng đã “thay đổi đời tôi, thay đổi thơ tôi” Niềm hạnh phúc rưng
rưng của một nhà thơ đã nhận ra giá trị đích thực của cuộc đời mình khi trở vềvới nhân dân đã được nhà thơ gửi gắm một cách chân thành và xúc động qua
những bài thơ Tiếng hát con tàu, trong đó đặc biệt là khổ thơ trên
Trang 11Tiếng hát con tàu là bài thơ được sáng tác từ một sự kiện kinh tế - xã hội:
cuộc vận động nhân dân đi xây dựng vùng kinh tế mới vào năm 1960 Tuynhiên, bài thơ không chỉ dừng lại với ý nghĩa tuyên truyền cho một đường lối,chính sách của Đảng Với tư cách là một nhà thơ, từ thực tế đời sống vớinhững yêu cầu, đòi hỏi mới về người nghệ sĩ, nhà thơ đã thể hiện đựoc khátvọng trở về với đất nước và nhân dân - cội nguồn của mọi cảm hứng sáng tạo.Khát vọng ấy được diễn đạt khá linh hoạt và sáng tạo Có khi, khát vọng ấyđược gửi gắm qua sự hoá thân kì diệu của nhà thơ qua hình ảnh con tàu vàTây Bắc Và cũng có khi, khát vọng ấy lại được thể hiện bằng những câu thơđầy xúc động Đó là niềm hạnh phúc lớn lao của nhà thơ khi được trở về vớinhân dân…
Trong hoài niệm của nhà thơ về Tây Bắc, nhân dân không phải là mộtkhái niệm trừu tượng mà được hiện diện qua những cuộc đời, những số phận
cụ thể Đó là người anh du kích với “Chiếc ấo nâu suốt một đời vá rách Đêm cuối cùng anh gửi lại cho con”, là là thằng em liên lạc: “Mười năm tròn không mất một phong thư”, là bà mế “lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau mế thức một mùa dài” Họ là những người có cuộc đời nghèo khó nhưng đã hi
sinh trọn đời cho Cách mạng đã được nhà thơ nhắc đến bằng tất cả lòng biết
ơn chân thành nhất Từ những con người, những cuộc đời cụ thể ấy, mạchcảm xúc thơ lại hướng đến suy tưởng, khái quát:
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đưa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
Đoạn thơ gây ấn tượng cho người đọc trước hết bởi lối xưng hô nhằm tạo
ra quan hệ ruột thịt: “Con gặp lại nhân dân” Cách xưng hô giản dị mà chân
thành, ấm áp đã cụ thể hoá một lần nữa mối quan hệ giữa nhà thơ và nhândân Đây là một nhận thức mới mẻ thể hiện hành trình cuả một quá trình nhận
thức; từ cái tôi chật hẹp của chính mình, người nghệ sĩ đã hoà nhập với cuộc
Trang 12sống rộng lớn của nhân dân Đây cũng là nhận thức của Xuân Diệu khi ý thức
về chỗ đứng, về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với nhân dân:
Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi Cùng đỏ mồ hôi, cùng sôi giọt máu Tôi sống với muôn người chiến đấu Của triệu người yêu dấu gian lao (Những đêm hành quân)
Vì vậy, lối xưng hô ân tình ấy sở dĩ gây được xúc động trong lòng ngườiđọc cũng chính là bởi nhà thơ đã nói được tấm lòng của cả một thế hệ mà có
lần Chế Lan Viên đã trách cứ với chính mình vì “lỡ nhịp” với cuộc sống của
nhân dân:
Có thể nào quên cả một thời thơ ấy
Tổ quốc trong lòng mà có cũng như không Nhân dân ở quanh ta mà ta chẳng biết Thơ xuôi tay như nước chảy xuôi dòng (Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi)
Trong niềm xúc động chân thành ấy, nhà thơ đã diễn đạt ý nghĩa củacuộc trở về với nhân dân bằng lối so sánh đầy bất ngờ, sáng tạo Trước hết,đây là một lối so sánh kép Chỉ có bốn câu thơ mà xuất hiện đến năm lần cácbiện pháp so sánh Cảm giác như niềm hạnh phúc được trở về với nhân dânbỗng nở xòe như những cánh hoa rực rỡ và ấm áp sắc màu Lối so sánh képnày là một đặc trưng thể hiện phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên Trong
bốn câu thơ đề từ, nhà thơ đã so sánh Lòng ta, Tâm hồn ta với hai hình ảnh: con tàu và Tây Bắc Đến phần sau của bài thơ, khi nói về nỗi nhớ, về tình yêu,
những câu thơ ấy lại một lần nữa khoe sắc qua lối liên tưởng:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương
Trang 13Việc xây dựng hình tượng thơ qua lối so sánh kép có ý nghĩa rất lớn đểthể hiện niềm xúc động rưng rưng của nhà thơ, đồng thời tạo được sự liêntưởng nhiều chiều với những quan hệ ngang dọc trong trí tưởng tượng củangười đọc.
Những biện pháp so sánh ở đây lại được xây dựng từ những hình ảnh rất
bình dị, quen thuộc, đặc biệt với người dân miền núi: nai, suối, cỏ, chim én, mùa xuân, chiếc nôi Điều này cũng ghi nhận nỗ lực của nhà thơ trên con
đường từ bỏ những hình ảnh xa lạ, ma quái ở những tập thơ trước cách mạng
để trở về với thế giới bình dị, mang trong đó hơi thở cuộc sống của nhân dân.Nếu trước đây, người đọc luôn bắt gặp những hình ảnh cầu kì, thậm chí điên
loạn: bóng ma Hời, những sông vắng lê mình trong bóng tối thì đến bài thơ,
đoạn thơ này là những hình ảnh đầy ắp vẻ đẹp của hiện thực đời sống
Cái hay trong đoạn thơ còn là cách sắp xếp những hình ảnh so sánh củanhà thơ Đó là lối so sánh tăng dần theo cấp độ Ba vế so sánh đầu hướng về
tự nhiên, về ngoại vật Nhưng đến hai vế so sánh còn lại lại hướng về con
người và nhu cầu tồn tại của con người: trẻ thơ đói lòng - gặp sữa; nôi ngừng
- cánh tay đưa Chính cách sắp xếp ấy có ý nghĩa rất lớn trong việc thể hiện
niềm biết ơn chân thành và sâu sắc của nhà thơ khi được trở về với nhân dân.Không những thế, lối so sánh trong khổ thơ còn mang đậm tính triết lí:Mỗi sự vật chỉ có thể có ý nghĩa khi đặt trong mối quan hệ máu thịt với các sựvật khác Nai và suối cũ- đó là hai yếu tố không thể tách rời, trong đó, suối cũ
đã trở thành môi trường sống của loài nai Tháng Giêng, tháng Hai là thờiđiểm bắt đầu của một năm Thời điểm ấy thích hợp nhất cho sự phát triển của
cỏ cây, hoa lá Mùa xuân và những cánh chim én; trẻ thơ và nhu cầu gặp sữa đều là những hình ảnh luôn được đặt trong những mối quan hệ chi phối
lẫn nhau Mượn những hình ảnh trong đời sống tự nhiên và xã hội, mượnnhững quy luật ấy để nhà thơ nói đến một mối quan hệ lớn hơn: nghệ thuậtchỉ có ý nghĩa khi phản ánh đời sống Hiện thực đời sống là điểm xuất phátđồng thời cũng là cái đích cuối cùng mà mỗi tác phẩm văn học phải hướng
Trang 14tới Nếu đánh rơi mất đời sống, thơ ca sẽ chết khô trên trang giấy Nhưng đểphản ánh được hiện thực đời sống, người nghệ sĩ phải gắn bó cuộc đời mìnhvới nhân dân, phải cùng nhịp đập với hàng triệu trái tim của nhân dân có lẽ,không nhà thơ nào lại diễn đạt chân lí của quá trình sáng tạo ấy hay và sâu sắcnhư Chế Lan Viên.
Đây là một trong những đoạn thơ khá hay trong bài thơ Với lối xây dựnghình ảnh mới lại, với lối so sánh giản dị nhưng sâu sắc, Chế Lan Viên đãhướng người đọc đến một quy luật có tính phổ quát: trở về với nhân dân làcon đường tất yếu Nó phù hợp với quy luật của tự nhiên cũng như phù hợpvới đạo lí, tình cảm con người Bởi vì chỉ có con đường ấy mới mở ra đượcnhững chân trời lớn cho người nghệ sĩ Đi trên con đường ấy, Chế Lan Viên
đã thực sự thành công, trở thành tiếng thơ hào hùng, tiếng kèn xung trận trongnhững năm chống Mĩ sau này
Trong ví dụ trên, nội dung cần nghị luận là đoạn thơ trong phần thứ hai
của bài thơ Tiếng hát con tàu Để triển khai vấn đề, bài viết tập trung thể hiện
sự đánh giá, phân tích, cảm nhận của mình về nội dung và nghệ thuật củađoạn thơ Về nội dung, đoạn thơ thể hiện niềm hạnh phúc của nhà thơ trênhành trình về với nhân dân Về nghệ thuật, bài viết khai thác các biện pháp tu
từ, cách xây dựng hình ảnh thơ gần gũi với đời sống của nhân dân Tây Bắc,cách xưng hô nhằm tạo quan hệ ruột thịt… Bố cục của bài văn rõ ràng, mạchlạc; lời văn trong sáng, thể hiện được những rung cảm chân thành và sâu sắccủa người viết
1.1.1.2 Các kỹ năng cần rèn luyện cho HS trong bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
a Khái niệm kỹ năng
Khi nghiên cứu quá trình nhận thức của con người, các nhà khoa họcnhận thấy tầm quan trọng to lớn của kỹ năng Vì vậy, khái niệm này đượcđịnh nghĩa bằng nhiều cách khác nhau “Kỹ năng là khả năng vận dụng những
Trang 15kiến thức nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [48; tr 87] Với
quan niệm trên, chúng ta có thể khẳng định kỹ năng là năng lực của con ngườiđạt được ở mức sơ giản dựa trên cơ sở nhận thức khoa học Nó được bộc lộthông qua việc con người vận dụng những kiến thức đã có vào giải quyết mộtnội dung hoặc một yêu cầu nào đó Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm: “kỹnăng là mặt kỹ thuật của hành động - con người nắm được cách thức hànhđộng - tức kỹ thuật hoạt động là có kỹ năng Kỹ năng hình thành dần qualuyện tập và hoạt động thực tiễn” [48; 87]
Như vậy, có thể hiểu kỹ năng của con người chính là khả năng con ngườithực hiện một hành động nào đó có tính chất kỹ thuật, được rèn luyện thôngqua hoạt động luyện tập thực hành Kỹ năng được xem xét ở hai phương diện:khả năng thực hiện một hành động nào đó trong điều kiện quen thuộc và khảnăng thực hiện hành động một cách thành thạo, tự động, linh hoạt, sáng tạo.Nói một cách khác, việc hình thành kỹ năng phải thực hiện trải qua hai giaiđoạn: hình thành khả năng thực hiện hành động và rèn luyện khả năng đóthành năng lực riêng của mỗi cá nhân Vì thế, con đường hình thành kỹ năngphải trải qua các bước:
Bước 1: Tìm hiểu, nhận thức đúng đắn, đầy đủ về hành động cần thực
hiện Đây là bước trang bị những hiểu biết nhằm định hướng cho việc hìnhthành kỹ năng
Bước 2: Quan sát mẫu, làm thử theo mẫu Đây chính là bước theo dõi
kỹ lưỡng các động tác thực hiện hành động, đối chiếu với lý thuyết, từ đóhình thành kĩ năng
Bước 3: Luyện tập Trên cơ sở bước 2, con người tiến hành luyện tập,
hoàn thiện kĩ năng, phát triển thành năng lực riêng của từng cá nhân
b Các bước rèn luyện các kĩ năng trong bài nghị luận về một bài thơ,đoạn thơ
Trang 16Trong thực tế, dạy học văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ nói riêng
và dạy học Làm văn nói chung đều hướng đến mục tiêu chung là rèn luyện kĩnăng Cái đích cuối cùng của việc dạy học Làm văn là hình thành và rèn luyệnnhững kỹ năng cơ bản, cần thiết để các em tự chủ, độc lập, sáng tạo khi các
em sản sinh lời nói Theo đó, quá trình dạy Làm văn chính là quá trình HS rènluyện các kỹ năng hình thành và thể hiện ý riêng của mình bằng ngôn ngữ đểsuy nghĩ, để nói ra và viết ra khi nhận thức và giao tiếp Tuy nhiên, ở mỗikiểu văn bản, do đặc trưng, do nội dung, yêu cầu khác nhau nên việc hìnhthành và rèn luyện các kĩ năng cũng khác nhau Đối với bài văn nghị luận vềmột bài thơ, đoạn thơ, chúng ta có thể hình dung quy trình rèn luyện kĩ năng
ấy trên 4 nhóm tương ứng với các bước sau:
- Kĩ năng tìm hiểu, phân tích đề
Để hình thành và rèn luyện kĩ năng này, người viết cần chú ý các bướcsau:
+ Nhận diện đề
+ Chú ý tới yêu của đề bài qua các từ: phân tích, cảm nhận, suy nghĩ
+ Phân tích mối quan hệ giữa yêu cầu của đề bài và nội dung mà đề bàihướng tới
+ Kết thúc vấn đề: Khái quát ý nghĩa của bài thơ, đoạn thơ kết hợp với
sự bình luận, đánh giá của người viết
- Kĩ năng diễn đạt
Trang 17Kĩ năng này được hiểu khá rộng Đó là cách viết, cách sử dụng các thaotác lập luận, cách dùng từ, đặt câu, dựng đoạn…
Đối với bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ, trong kĩ năng diễn
đạt cần có thêm các tiểu kĩ năng: các thao tác lập luận và sự kết hợp các thao tác lập luận; liên tưởng, tưởng tượng… Bốn nhóm kĩ năng này có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau và tạo thành một quy trình khép kín, giúp các em hoànthành bài viết, thực hiện tốt nhiệm vụ của quá trình giao tiếp
1.1.1.3 Các tiền đề lý thuyết liên quan đến dạy học bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Bài văn là sản phẩm của vốn sống, năng lực tư duy, năng lực giao tiếp,năng lực ngôn ngữ, sự sáng tạo của cá nhân Người ta có thể đánh giá bàivăn ở một năng lực cụ thể nhưng cũng có thể đánh giá ở năng lực chung nhất
Ở góc độ khái quát, bài văn không phải là sự phép cộng của những năng lực
mà là sự tổng hợp, phối hợp chặt chẽ của các nhân tố Vì vậy, khi dạy líthuyết làm văn, người ta đã chú ý tới các tiền đề lí thuyết trực tiếp tác động:
ngôn ngữ học văn bản, lí thuyết giao tiếp ngôn ngữ, lô gíc học và lí luận văn học Bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cũng không thể nằm ngoài
những tiền đề lý thuyết này
a Ngôn ngữ học văn bản
- Nội dung của ngôn ngữ học văn bản liên quan trực tiếp đến cả hai quátrình: xây dựng văn bản và phân tích văn bản Trong cả hai quá trình này, vănbản trở thành đối tượng chính, thể hiện rõ tư duy, kiến thức, năng lực ngônngữ của người nói, người viết
Trang 18- Hiệu quả của quá trình giao tiếp, cụ thể là người phát có trình bày đầy
đủ ý định, mục đích đề ra hay không; và người nhận có hiểu đầy đủ mọi khíacạnh mà nội dung thông báo truyền đến hay không, tất cả đều gắn liền với quátrình xây dựng và phân tích văn bản Những nội dung trên liên quan đến ngônngữ học văn bản Vì thế, các nội dung như: lập dàn ý, dựng đoạn, liên kếtđoạn, chủ đề trong bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ đều liên quantrực tiếp đến những tri thức này
b Lí thuyết giao tiếp ngôn ngữ
- Văn bản là đơn vị giao tiếp cơ bản nhất của ngôn ngữ Và làm văn,thực chất là làm ra các văn bản để giao tiếp Nội dung chủ yếu của lí thuyếtgiao tiếp ngôn ngữ liên quan trực tiếp đến các nhân tố của quá trình giao tiếp:mục đích giao tiếp, đối tượng giao tiếp; hoàn cảnh giao tiếp; nhân vật giaotiếp Mỗi một nhân tố có vị trí độc lập nhưng đồng thời lại có mỗi quan hệbiện chứng với nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất.Các nhân tố này chiphối trực tiếp đến việc tạo lập văn bản
- HS khi làm một bài văn luôn phải chú ý tới kĩ thuật sử dụng ngôn ngữ
mà còn phải xử lí tốt những mối quan hệ với các nhân tố ngoài ngôn ngữ (đốitượng tiếp nhận, mục đích ), mặc dù các nhân tố đó chỉ là giả định Xử lý tốtbài viết trong mối quan hệ với các nhân tố ngoài ngôn ngữ, hiệu quả giao tiếp
sẽ cao hơn rất nhiều
c Lôgíc học
- Logic học là nội dung chi phối đến tất cả các ngành khoa học, trong
đó có Làm văn Từ khâu ra đề, chấm bài, dạy học lý thuyết, rèn luyện các kĩnăng từ tìm ý, lập dàn ý đến dựng đoạn, liên kết đoạn… tất cả đều gắn vớilogic Chỉ có điều, sự tách bạch giữa đâu là lý luận làm văn, đâu là lý luậnlogic là điều hết sức khó khăn vì chúng đã có sự hòa nhập, xuyên thấm vàovới nhau
Trang 19- Các thao tác tư duy (so sánh, bác bỏ, suy diễn, phân tích…) đã được
sử dụng triệt để trong làm văn Đó chính là cơ sở để tạo nên một bài văn mạchlạc, chặt chẽ về nội dung và rõ ràng, trong sáng về diễn đạt
- Việc lựa chọn các thao tác tư duy liên quan trực tiếp đến các thao táclập luận trong bài văn Tuy nhiên, bài văn không chỉ là sự logic trong từngphần mà còn là sự thống nhất biện chứng trong cả bài, từ mở bài, thân bài đếnkết luận
d Lí luận văn học
- LLVH, mặc dù không gắn với tất cả các vấn đề của làm văn mà chỉquan hệ trực tiếp tới các văn bản văn học nhưng có vai trò lớn trong việc dạyhọc lí thuyết làm văn Đó là một trong những tiền đề lý luận quan trọng trongdạy học lý thuyết làm văn, trong đó co lý thuyết về bài văn nghị luận về mộtbài thơ, đoạn thơ
- Trong tất cả các cấp học, để tạo lập một bài văn nghị luận, HS đềuđược học các vấn đề lý thuyết liên quan trực tiếp đến đặc điểm, cấu trúc nộidung và hình thức của văn bản ấy Những vấn đề lý luận này không thể đưathằng vào làm văn mà được chắt lọc, thông qua lý thuyết làm văn để đếnvới HS
Ví dụ:
Khi làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ, chẳng hạn như: Suy nghĩ của anh/ chị về vẻ đẹp của hình tượng Lo-rca trong bài thơ “Đàn ghi ta của Lo-rca”(Thanh Thảo), HS không thể làm bài tốt, nếu không có các tri
thức về thơ tượng trưng, hình tượng thơ, ngôn ngữ thơ, thể thơ, nhịp điệu…Những vấn đề này được giới thiệu trong giờ đọc hiểu, nhưng sẽ được vậndụng linh hoạt, sáng tạo giúp các em viết được một bài văn đạt kết quả cao
- Tuy nhiên, cũng phải khẳng định, bài làm văn không phải là sự kiểmtra lý thuyết LLVH mà là sự vận dụng, thể nghiệm những tri thức LLVH đãhọc ở phần đọc hiểu để giải quyết những vấn đề liên quan đến bài làm văn
Trang 20Như vậy, ngôn ngữ học văn bản, lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ, logic học, LLVH là những tiền đề có tính định hướng giúp chúng ta tìm ra hướng đi
đúng đắn cho việc dạy học Làm văn Nó có mối quan hệ mật thiết với Làmvăn nhưng không phải là lí thuyết Làm văn
1.1.2 Tri thức LLVH trong CT, SGK Ngữ văn THPT
1.1.2.1 Quan niệm về tri thức LLVH
LLVH là “một môn học nghiên cứu văn học, có nhiệm vụ nghiên cứubản chất, chức năng xã hội và thẩm mỹ, quy luật phát triển của sáng tác vănhọc, có tác dụng xác định phương pháp luận và phương pháp phân tích vănhọc” [29; tr.18]
Như vậy, LLVH là loại văn bản cung cấp những tri thức về nguồn gốc,bản chất, chức năng xã hội, chức năng thẩm mỹ, quy luật phát triển văn học…Những tri thức này chính là những công cụ để người đọc vận dụng nghiên cứuvăn học một cách có hiệu quả LLVH “lấy phương diện cấu trúc, những đặcđiểm rất chung của văn học, hoặc những đặc điểm của hiện tượng văn họcphát triển đến mức điển hình làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu” [29, tr.12]
Tri thức LLVH ở THPT, theo cách hiểu của chúng tôi là tri thức lý luận bao trùm hệ thống tri thức văn học của HS THPT Đó là các tri thức về bản chất, chức năng, đặc trưng của văn học; tri thức về thể loại văn học; về khuynh hướng sáng tác; về mối quan hệ giữa nhà văn - tác phẩm; về phong cách nhà văn Những tri thức này được chọn lọc, giới thiệu ở dạng khái quát nhất, nhằm cung cấp cho HS những hiểu biết cơ bản về văn học, về nhà văn, định hướng cho quá trình phân tích và tạo lập văn bản
Tri thức này không đơn thuần chỉ bó hẹp trong một số tiết dạy LLVHcủa CT mà được khái quát trên cơ sở những tri thức về lịch sử văn học và trithức về tác phẩm văn chương Tri thức LLVH gắn liền với quá trình Đọc hiểuvăn bản và tạo lập văn bản (Làm văn), được sắp xếp trong CT, SGK Ngữ văntheo một dụng ý nhất định
Trang 211.1.2.2 Vai trò của tri thức LLVH trong dạy học Ngữ văn
Hiện nay, bên cạnh những kiến thức thông thường về tác giả, tác phẩm,SGK Ngữ văn phổ thông đã cung cấp cho HS những tri thức LLVH Nhữngtri thức LLVH này có vai trò quan trọng trong việc giúp HS hoàn thiện nângcao tri thức về văn học Đó là “chìa khóa” gúp HS đọc hiểu tác phẩm có cơ sởkhoa học hơn Việc tiếp cận các tác phẩm vì thể cũng trở nên thuận tiện hơn,chính xác hơn, tránh được sự suy diễn
LLVH là tri thức có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra năng lực cho
HS Một mặt, nó giúp HS những tri thức cần thiết nhằm tiếp cận các sự kiệnvăn học, bao gồm: tác giả, tác phẩm, trào lưu, khuynh hướng Ở góc độ Đọchiểu văn bản, tri thức LLVH chính là “chìa khóa” để cảm thụ, phân tích tácphẩm mang tính khoa học hơn
Mặt khác, tri thức LLVH cũng giúp HS năng lực sản sinh văn bản.Năng lực sản sinh văn bản này liên quan trực tiếp đến việc dạy học Làm văn.Bởi, “văn bản là đơn vị giao tiếp cơ bản nhất của ngôn ngữ, làm ra các vănbản để giao tiếp” (1; tr.193) Văn bản được tạo lập, dù ở đối tượng nào, cũngphải đáp ứng một số các yêu cầu chặt chẽ về nội dung và hình thức
Như vậy, tri thức LLVH liên quan trực tiếp đến cả hai quá trình: lĩnhhội và sản sinh (tạo lập) văn bản
Ở góc độ Làm văn, việc hiểu biết và sử dụng tri thức LLVH trong bàilàm văn nghị luận có một số vai trò sau:
- Cung cấp cho HS những tri thức về cơ bản nhất về bản chất của tácphẩm văn chương Những tri thức cơ bản này sẽ giúp HS hoàn thiện, nâng caotri thức về văn học Nếu hiểu Đọc hiểu văn bản là quá trình “giải mã” văn bảnthì tạo lập văn bản (Làm văn) là “bắt chước” sáng tạo để làm ra một văn bảnphù hợp với yêu cầu của quá trình giao tiếp Trong quá trình từ “giải mã” đến
“tạo lập” ấy, tri thức LLVH chính là chìa khóa để người viết biến những hiểubiết của mình thành bài văn, đáp ứng yêu cầu của đề bài
Trang 22- Rèn luyện cho HS kỹ năng lập luận thuyết phục, khoa học, chính xác,tránh được những suy diễn không phù hợp với yêu cầu của đề bài Có thểxem, đây là những tri thức trực quan, giúp các em làm bài tốt hơn
- LLVH cũng là tri thức có khả năng rèn luyện tư duy khoa học, tưduy logic, giúp HS nâng cao khả năng cảm thụ văn chương để làm bài vănnghị luận văn học tốt hơn Những vấn đề LLVH thông thường không thể đưathẳng, trực tiếp vào bài văn mà cần phải có sự chắt lọc, lựa chọn, thông qua lýthuyết làm văn để đến với HS Vì thế, tri thức LLVH không phải gắn với tất
cả các đề văn mà chỉ có quan hệ trực tiếp với những đề làm văn liên quan đếnvăn bản văn học
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khảo sát nội dung CT, SGK về phần tri thức LLVH
1.2.1.1 Số tiết
Nhìn một cách tổng quát, toàn bộ số tiết dành cho từng phân môn trong
CT Ngữ văn THPT được cụ thể hóa qua bảng 1.1
Bảng 1.1 Bảng thống kê số tiết cho từng phân môn ở CT Ngữ văn THPT
Lớp/ chương trình Đọc
văn
Làm văn
Tiếng Việt LLVH TS tiết
Trang 23- Tổng số tiết dành cho phần tri thức LLVH là 9 /333 tiết (chương trìnhChuẩn) và 13/420 tiết (chương trình Nâng cao) So với tổng số tiết dành chochương trình Ngữ văn, số tiết LLVH chỉ chiếm một số lượng khiêm tốn.
- Tuy số lượng tiết dành riêng cho phần LLVH không nhiều nhưng sự
có mặt của nội dung tri thức này trong chương trình Ngữ văn đã khẳng định vịtrí, vai trò của LLVH đối với việc dạy học đọc hiểu và tạo lập văn bản
1.2.1.2 Cách sắp xếp nội dung tri thức
Một trong những điểm đổi mới của CT, SGK Ngữ văn THPT hiện nay
là xây dựng theo nguyên tắc tích hợp Các phần Đọc văn, tiếng Việt, Làm vănkhông còn tách biệt như trước đây nữa mà được tích hợp theo một nội dungchung, gọi là Ngữ văn Tuy ba phân môn này có những yêu cầu riêng về nộidung, phương pháp dạy học nhưng tất cả đều tích hợp trong các hoạt độngnghe, nói, đọc, viết, dưa trên hai trục chính: Đọc văn và Làm văn Trong trụcĐọc văn còn thực hiện tích hợp tri thức đọc hiểu với tri thức văn hóa, lịch sửvăn học, LLVH trong Ct, SGK Nâng cao Do đó, việc sắp xếp tri thức LLVHtrong CT, SGK chịu sự chi phối của cách sắp xếp các bài Đọc văn
- Theo cách sắp xếp của CT, các bài Đọc văn vừa được sắp xếp theocác thời kì văn học, vừa được sắp xếp theo cụm thể loại Song song với bàidạy văn bản là các tri thức khác, trong đó có tri thức đọc hiểu LLVH ở CTNâng cao Do đó, tri thức đọc hiểu được sắp xếp sau tri thức về văn bản Vìthế, cách sắp xếp này sẽ tạo điều kiện cho việc hiểu tri thức LLVH Bởi, việcĐọc văn, cảm thụ văn học phải tuân theo quy luật thể loại Đọc văn bản trữtình khác với Đọc văn bản tự sự hay kịch Ngay trong Đọc văn bản trữ tìnhnhưng cách tiếp cận văn bản trữ tình dân gian sẽ khác với cách tiếp cận vănbản trữ tình trung đại hoặc hiện đại
Trang 24Từ lớp 10 đến lớp 12, nội dung tri thức LLVH bao gồm các vấn đề sau:
Ngữ văn 10 - Văn bản văn học
- Nội dung và hình thức của văn bản văn họcNgữ văn 11 - Thể loại tác phẩm văn học hiện đại: Thơ, tiểu
thuyết, truyện, kịch, văn nghị luận
Ngữ văn 12 - Phong cách văn học
- Quá trình văn học
- Giá trị văn học
- Tiếp nhận văn họcViệc sắp xếp các tri thức LLVH như thế, tự nó đã định hướng phươngpháp dạy học tích cực LLVH và Đọc văn có mối quan hệ mật thiết với nhau.Đứng ở góc độ Làm văn, các tri thức LLVH góp phần quan trọng giúp HS cókhả năng tạo lập một bài văn theo những yêu cầu khác nhau Nếu như mốiquan hệ giữa tri thức LLVH và Đọc văn là mối quan hệ giữa lý thuyết kháiquát và hiện tượng văn học cụ thể thì mối quan hệ giữa tri thức LLVH vớiLàm văn nói chung, viết bài nghị luận văn học nói riêng là quan hệ giữa lýthuyết định hướng và việc hiểu, bắt chước, làm theo “mẫu” một cách sángtạo
- Cũng dựa trên nguyên tắc tích hợp, các bài LLVH trong CT, SGKNgữ văn THPT không còn tách thành những tiết học riêng và chỉ được học ởcuối năm học như trước đây nữa mà được sắp xếp rải rác, xen kẽ với các bàihọc khác
Trang 25+ Lớp 11: Tri thức LLVH được học là các thể loại văn học: thơ, truyện, tiểu thuyết, kịch, văn nghị luận nhằm cung cấp cho HS những tri thức về Đọc
văn dựa trên nền kiến thức về thể loại văn học
+ Lớp 12: Gồm các tri thức LLVH: Quá trình văn học, Phong cách văn học, Giá trị văn học, Tiếp nhận văn học góp phần nâng cao năng lực đánh giá
tác giả, tác phẩm văn chương của HS
- Cách sắp xếp tri thức LLVH trong SGK (CT Cơ bản) và SGK (CTNâng cao) cũng có sự khác biệt Vẫn dựa trên cách sắp xếp trên nhưng điểmkhác biệt cơ bản nhất của CT, SGK Ngữ văn Nâng cao là tri thức LLVH còn
sự lồng ghép, tích hợp tri thức này với các bài Đọc văn, cụ thể là phần Tiểu dẫn và Tri thức đọc hiểu Điều này đã khắc phục được một phần hạn chế giữa
dung lượng kiến thức LLVH cần hình thành với thời lượng dạy học Đây làphần tri thức được sắp xếp từ đầu đến cuối SGK, tuy được viết ngắn gọnnhưng đã bổ sung một lượng tri thức lớn, phục vụ cho việc phân tích, bìnhgiá, cảm thụ các tác phẩm văn học trong CT, đồng thời cũng phù hợp với đốitượng HS khi chọn CT, SGK Ngữ văn Nâng cao
Ví dụ:
Sau bài thơ Tây Tiến, SGK Ngữ văn 12 Nâng cao giới thiệu phần Tri
thức đọc hiểu Phần này gồm hai nội dung: cảm hứng và cảm hứng lãng mạn
“Cảm hứng là nguồn gốc trực tiếp của sự sáng tạo nghệ thuật”, “Cảm hứnglãng mạn vì thế thường hướng tới những đề tài như thiên nhiên, tình yêu, tôngiáo, hồi tưởng kỉ niệm… Đồng thời, nó đi tìm cái đẹp trong những cái khác
lạ, phi thường, độc đáo, vượt lên trên những cái tầm thường, quen thuộc củacuộc sống hàng ngày Nó đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sự liêntưởng, tượng tượng Cảm hứng lãng mạn cũng thường tìm đến cách diễn đạtkhoa trương, phóng đại, ngôn ngữ giàu biểu cảm và tạo được ấn tượng mạnhmẽ” [41; tr.71]
Tri thức trên có ý nghĩa củng cố, định hướng cho HS tiếp cận bài thơ
Tây Tiến, một bài thơ được viết theo bút pháp lãng mạn HS sẽ có cơ sở
Trang 26khoa học hơn khi đọc hiểu các đoạn trong bài thơ, khi tìm hiểu bức tranhthiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, dữ đội, vừa êm đềm, thơ mộng; vẻ đẹp củangười lính Tây Tiến qua cái nhìn nhiều chiều của nhà thơ, vừa lãng mạn,vừa bi hùng Ở góc độ Làm văn, tri thức này càng có ý nghĩa quan trọng khi
HS tiếp cận với các dạng đề: Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến qua bài thơ Tây Tiến; Cảm hứng lãng mạn của bút pháp thơ Quang Dũng qua bài thơ Tây Tiến…
1.2.2 Khảo sát cách dạy tri thức LLVH của GV
Chúng tôi khảo sát cách dạy những tri thức LLVH của GV ở THPT để
có cái nhìn khoa học hơn khi đưa ra những biện pháp nâng cao chất lượng dạy
học như mục tiêu đã đặt ra
- Đối tượng khảo sát là GV đang trực tiếp dạy Ngữ văn một số trườngTHPT trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá :
+ Trường THPT Quảng Xương 3
+ Trường THPT Quảng Xương 4
+ Trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên
+ Trường THPT Đào Duy Từ, thành phố Thanh Hóa
+ Trường THPT Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa
- Để tìm hiểu thực trạng của vấn đề, chúng tôi tiến hành khảo sát qua
hình thức dự giờ, nghiên cứu giáo án
Qua thực tế khảo sát ở các đối tượng GV và HS, chúng tôi rút ra một sốnhận xét sau:
1.2.2.1 Ưu điểm
- Phần đông số GV giảng dạy Ngữ văn THPT đều ý thức được vai tròcủa tri thức LLVH, trong đó có tri thức về tác phẩm trữ tình đối với việckhám phá, phân tích tác phẩm văn học Nội dung dạy học những tiết học nàyđều bám sát phân phối CT của Bộ giáo dục và đào tạo, SGK Đây cũngchính là vấn đề đã được GV ý thức một cách đúng đắn về vai trò của tri thứcLLVH đối với việc tiếp cận tác phẩm theo định hướng thể loại: “Làm gì có
Trang 27chuyện đối lập giữa hiểu và cảm, giữa hiểu biết lý luận và tình cảm thẩm
mỹ Trình độ am hiểu LLVH chỉ tăng cường hỗ trợ cho khả năng cảm thụthẩm mỹ mà thôi Nhấn mạnh khả năng thưởng thức mà coi nhẹ nâng caotrình độ LLVH chính là vô tình duy trì trình độ của HS ở mức thấp nhất củakiến thức” [27; tr.198]
- Tri thức LLVH, được hiểu “kiến thức siêu kiến thức” [27; tr.198],cũng đã được GV ở THPT giảng dạy theo hướng gắn tri thức trừu tượng, kháiquát với thực hành: “việc hình thành kiến thức LLVH xuất phát từ việc họccác bài văn, bài thơ, tác phẩm, tác giả, sự kiện văn học…” [27 ; tr 220]
- Tri thức LLVH được GV ở THPT giảng dạy theo phương pháp đặcthù của môn học Đó là con đường diễn dịch, tức là bắt đầu là khái niệm, sau
đó, GV dùng dẫn chứng để chứng minh
Ví dụ :
Bài “Phong cách nghệ thuật” có hai nội dung: khái niệm phong cách nghệ thuật và những biểu hiện của phong cách nghệ thuật Khái niệm phong cách nghệ thuật được hình thành từ các ý sau:
+ Đó là cái độc đáo, biểu hiện sự trưởng thành về bản lĩnh nghệ thuậtcủa một số cá nhân nhà văn
+ Phong cách nghệ thuật được nảy sinh do chính nhu cầu của cuộcsống
+ Là sự thể hiện tài nghệ của người nghệ sĩ trong việc đưa đến cho độcgiả một cái nhìn mới mẻ về cuộc sống thông qua những phương thức, phươngtiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn của cá nhân người sáng tạo
Mỗi nội dung trên đều được GV dùng dẫn chứng để chứng minh cụ thể,nhằm cụ thể hóa khái niệm phong cách nghệ thuật
- Các đề bài Làm văn định kì theo phân phối chương trình đã hướngđến những tri thức LLVH Đây cũng là xu hướng đổi mới ra đề, tích hợpnhiều tri thức, kĩ năng trong bài làm văn của HS
Trang 28sơ sài.
- Trong quá trình hướng dẫn HS vận dụng tri thức LLVH trong bài làmvăn, phần lớn GV đều chưa nhấn mạnh được vai trò của loại tri thức này.Việc dạy học tri thức LLVH (những tiết học đã nêu ở phần trên) chưa có sựgắn kết với phần Làm văn
- Vận dụng tri thức LLVH trong bài làm văn nghị luận không chỉ đơnthuần là sự am hiểu nội dung, vai trò của nó mà quan trọng hơn là hình thànhđược quy trình vận dụng, cách thức vận dụng sao cho phù hợp, linh hoạt, đápứng yêu cầu của từng đề văn Đây chính là khâu yếu nhất của GV hiện nay.Điều đó cũng dẫn đến tình trạng tuyệt đối hóa, cô lập hóa mối quan hệ giữacác phân môn trong CT Ngữ văn
1.2.3 Thực trạng về khả năng lĩnh hội và vận dụng tri thức LLVH của HS trong bài làm văn
- Khảo sát cách lĩnh hội và vận dụng tri thức LLVH của HS trong bài
nghị luận văn học giúp chúng tôi thấy rõ hơn về thực trạng viết văn của HS,
từ đó có cơ sở khi đưa ra những biện pháp nâng cao rèn luyện kỹ năng nàyphù hợp hơn
Trang 29- Chúng tôi tiến hành khảo sát các bài kiểm tra thường xuyên, bài thihọc kì, bài thi thử đại học… của HS trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Tiêu chí đánh giá là cách lĩnh hội và vận dụng tri thức LLVH trongbài nghị luận văn học của HS Những tri thức này được dựa vào các nội dungtri thức LLVH được giảng dạy trong CT, SGK Ngữ văn
- Đề văn mà chúng tôi dùng để khảo sát là:
Cảm nhận của anh/ chị về vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiếnqua khổ thơ sau :
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm (Tây Tiến - Quang Dũng, Ngữ văn 12, tập 1, tr.89)
Căn cứ vào yêu cầu của đề bài, chúng tôi tiến hành chấm bài của 300đối tượng HS ở một số trường THPT Chúng tôi rút ra một số nhận xét sau :
- Đề bài yêu cầu HS thể hiện sự cảm nhận của mình về vẻ đẹp lãng mạncủa người lính Tây Tiến qua khổ thơ Đó là vẻ đẹp khác thường, được nhà thơkhắc họa bằng thủ pháp đối lập Đó là sự đối lập giữa ngoại hình và nội tâm ;giữa những thiếu thốn, khó khăn về đời sống vật chất và vẻ đẹp lý tưởng ;giữa lòng căm thù và khát vọng về hạnh phúc, tình yêu tuổi trẻ Từ ngữ, cácbiện pháp tu từ… đã góp phần quan trọng để Quang Dũng tái hiện bức chândung những người lính Tây Tiến oai phong, lẫm liệt nhưng cũng rất hào hoa,lãng mạn
Như vậy, để triển khai được yêu cầu của đề bài trên, ngoài kiến thức vềtác phẩm, các thao tác lập luận phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận, HS còn
Trang 30phải có những tri thức tối thiểu về LLVH: cảm hứng, cảm hứng lãng mạn,phong cách nhà văn, nhân vật trữ tình…
+ Các bài văn mà chúng tôi khảo sát đều rơi vào tình trạng chung:không đề cập đến tri thức LLVH, nhận xét, phân tích theo cảm tính, thậm chí
co xu hướng diễn xuôi đoạn thơ Vì thế, bài làm của các em sa vào kể lể, diễnđạt rời rạc, vụn vặt Các thao tác lập luận cũng không được vận dụng trongbài làm, đặc biệt là thao tác bình luận, giải thích
+ Tuy nhiên, trong số 300 bài văn mà chúng tôi khảo sát, chỉ có 25 bài(tức là khoảng 8%) có vận dụng tri thức lý luận Ở số 8% bài làm này, các emcũng chưa có ý thức vận dụng tri thức LLVH theo mục đích, theo quy trình
Vì không có những hiểu biết về tri thức LLVH và cách sắp xếp, diễn đạt trithức LLVH kết hợp với các thao tác lập luận thiếu lôgic nên bài làm chỉ dừng
lại ở mức độ có vận dụng tri thức LLVH nhưng cách vận dụng mang tính áp
đặt, đối phó
Ví dụ:
“…Người lính Tây Tiến hiện lên thật đẹp: “Không mọc tóc” Đó làcách nói về bệnh sốt rét của chiến sĩ ta Nhưng họ hiện lên dữ dằn: “quânxanh màu lá… ”
(Nguyễn Đăng Hoàng Anh - Trường THPT Quảng Xương 3)
“…Vẻ đẹp lãng mạn là vẻ đẹp khác thường Vì thế, người lính TâyTiến rất khác thường, từ ngoại hình đến nội tâm …”
(Trần Thị Minh - Trường THPT Đào Duy Từ)
Thực trạng này khá phổ biến trong số bài làm của HS Nguyên nhânchính của thực trạng này là sự hiểu biết về tri thức LLVH về tác phẩm trữ tìnhcủa HS mơ hồ; không có cách thức vận dụng tri thức LLVH phù hợp Chính
vì thế, chất lượng bài làm của các em chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu mà đềbài đặt ra
Trang 31Tiểu kết chương 1
Chương 1 của đề tài đã tập trung vào một số vấn đề sau: quan niệm vềvăn nghị luận; bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ; quan niệm về tri thứcLLVH; vai trò của tri thức LLVH trong bài làm văn Trên cơ sở đó, chúng tôicũng khảo sát nội dung CT, SGK Ngữ văn THPT: cách sắp xếp tri thứcLLVH, mối quan hệ giữa số tiết LLVH với Đọc văn, tiếng Việt đặc biệt làLàm văn; khảo sát cách dạy của GV và cách tiếp cận tri thức LLVH qua bàilàm văn của HS Điều đó giúp chúng tôi có cơ sở khoa học để đề xuất cácbiện pháp vận dụng tri thức LLVH trong bài nghị luận về một bài thơ, đoạnthơ trong CT Ngữ văn 12 ở chương 2 có hiệu quả hơn
Trang 32Chương 2 TỔ CHỨC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VẬN DỤNG TRI THỨC LÍ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ
Tri thức LLVH, mặc dù không phải là tri thức chính trong bài nghị luậnvăn học nói chung và bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ ở lớp 12 nóiriêng nhưng lại có ý nghĩa quan trọng, chi phối đến hiệu quả bài văn của từng
HS Tuy nhiên, muốn vận dụng tri thức LLVH trong bài văn, cần có sự nắmvững nội dung tri thức LLVH, xác định mối quan hệ giữa tri thức LLVH vàtri thức về kiểu bài nghị luận, cách thức vận dụng tri thức LLVH phù hợp,khoa học Chương 2 của luận văn tập trung giải quyết những vấn đề này
2.1 Các nguyên tắc dạy cách vận dụng tri thức LLVH cho HS lớp
12 trong bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo đặc trưng của phân môn Làm văn
“Mục đích cuối cùng của dạy học Làm văn là giúp cho HS rèn luyệnđược kỹ năng xây dựng văn bản vừa đúng với yêu cầu chính xác về nội dung,chặt chẽ về lập luận, trong sáng về chữ nghĩa, vừa phải nhanh, phù hợp vớiđiều kiện giao tiếp” [1; tr.201] Muốn thực hiện được yêu cầu này, cần phảichú ý đặc biệt đến các giờ dạy lý thuyết và thực hành Làm văn
Vận dụng tri thức LLVH trong bài nghị luận văn học cũng phải đạtđược những yêu cầu này Điều đó đòi hỏi GV phải chú ý tới quy trình rènluyện kỹ năng vận dụng tri thức LLVH: từ thực hành để rút ra lý thuyết,khẳng định lý thuyết, mỗi kiến thức lý thuyết phải được HS minh họa bằngmột mẫu thực hành
Những tri thức LLVH tiếp thu được không thể biến thành kĩ năng nếukhông qua quá trình luyện tập nhiều lần Quá trình ấy liên quan đến việc dẫnmẫu, phân tích mẫu Theo hướng phát huy tính tích cực của chủ thể, việcphân tích mẫu là cơ sở đầu tiên để rút ra những kết luận cần thiết cho việc
Trang 33thực hành - luyện tập Mục đích của Làm văn là học theo mẫu, làm theo mẫumột cách sáng tạo
Vì vậy, để rèn luyện kỹ năng vận dụng tri thức LLVH trong bài văn nghịluận văn học nói chung và bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ nói riêngcho HS lớp 12, cần phải đảm bảo nguyên tắc này GV phải cung cấp cho HSnhững mẫu sinh động về sự vận dụng tri thức LLVH qua những bài văn khá,giỏi; qua những bài viết của các nhà nghiên cứu để HS học hỏi cách diễn đạt,cách sắp xếp tri thức LLVH Từ đó, học theo mẫu một cách sáng tạo Điều đócũng đòi hỏi việc chọn mẫu, dẫn mẫu phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu: tiêubiểu; đảm bảo tính tư tưởng; tính tích hợp…
Bên cạnh đó, để hình thành và rèn luyện cho HS lớp 12 kĩ năng vận dụngtri thức LLVH trong bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ, GV cần phải lựachọn được hệ thống bài tập phong phú, đa dạng Hệ thống bài tập này vừađảm bảo tính tích hợp giữa Làm văn - Đọc hiểu văn bản và tiếng Việt, vừaphát huy được khả năng sáng tạo của từng HS, đồng thời phải phù hợp với nộidung CT Ngữ văn
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu
Tổ chức vận dụng tri thức LLVH trong bài làm văn nghị luận về một bàithơ, đoạn thơ cho HS lớp 12 trước hết cần phải hướng đến mục tiêu mà đề bàiyêu cầu Vì vậy, việc vận dụng tri thức lý luận LLVH trong mỗi bài văn của
HS cần phải dựa vào yêu cầu cụ thể của mỗi đề văn Mỗi một đề văn cónhững yêu cầu về tri thức, về kỹ năng khác nhau, đòi hỏi việc vận dụng trithức LLVH cũng khác nhau Đó có thể là tri thức về phương pháp sáng tác, vềphong cách tác giả, về tiếp nhận văn học, về cảm hứng, về nhân vật trữ tình,chủ thể trữ tình,… Có những đề bài phải huy động vốn tri thức LLVH mộtcách trực tiếp, cũng có những đề bài yêu cầu sự vận dụng tri thức LLVH mộtcách gián tiếp Vấn đề là HS cần xác định đúng đắn mục tiêu của đề văn, mụctiêu của sự vận dụng tri thức LLVH để lựa chọn cách thức diễn đạt, các thaotác lập luận phù hợp
Trang 34Nhìn chung, nguyên tắc tổ chức vận dụng tri thức LLVH trong bài nghịluận văn học của HS cần hướng đến các mục tiêu chính sau:
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
Khoa học là nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng hệ thống các phươngpháp, biện pháp rèn luyện kỹ năng trong bài làm văn nói chung, bài làm vănnghị luận nói riêng Nguyên tắc này đòi hỏi việc lựa chọn, tổ chức rèn luyện
kỹ năng vận dụng tri thức LLVH trong bài làm văn nghị luận nói chung và bàinghị luận về một bài thơ, đoạn thơ nói riêng cho HS lớp 12 phải đảm bảođúng yêu cầu khoa học trong quá trình dạy học, đồng thời phải đảm bảo đúngnhững đặc trưng của phần Làm văn Cụ thể là:
- Các biện pháp, cách thức rèn luyện phải được sắp xếp từ dễ đến khó,
từ đơn giản đến phức tạp
- Các biện pháp, cách thức rèn luyện phải có khả năng tích hợp, vậndụng những tri thức trong phần Đọc hiểu, nâng cao năng lực đọc hiểu văn bảncũng như những tri thức trong phần Tiếng Việt Trên cơ sở đó, HS vận dụnglinh hoạt các tri thức LLVH đã được học để làm bài nghị luận văn học đạthiệu quả cao nhất
Trang 352.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức
Vận dụng tri thức LLVH trong bài văn nghị luận văn học cũng cần phảidựa trên nguyên tắc vừa sức Khi nghiên cứu sự phát triển tâm sinh lý conngười, các nhà giáo dục nhận thấy ở mỗi độ tuổi, khả năng tư duy, nhận thứccủa con người có sự thay đổi Đến lớp 12, có thể khẳng định tư duy của HS đãtương đối hoàn thiện Các em có thể độc lập suy nghĩ, phát hiện và giải quyếtnhững yêu cầu thực tế Năng lực phân tích, tổng hợp, khái quát của các emcũng rất phát triển Tuy nhiên, tri thức LLVH vốn là loại tri thức khó, trừutượng Vì vậy, việc vận dụng tri thức LLVH trong bài nghị luận văn học của
HS đòi hỏi phải phù hợp với trình độ nhận thức, tư duy của các em
Điều đó đòi hỏi đề bài văn phải chính xác, vừa sức, luôn gắn liền vớinhững tri thức trong SGK Hơn nữa, trong quá trình xây dựng các biện pháp rènluyện kỹ năng kết hợp tri thức LLVH trong bài làm văn nghị luận của HS, cácđơn vị tri thức, các dạng, các hình thức rèn luyện khi được triển khai phải phù hợpvới khả năng của HS Đó là điều kiện thiết yếu để việc rèn luyện của đề tài đạtmục tiêu đã đề ra
2.2 Quy trình rèn luyện kĩ năng vận dụng tri thức LLVH cho HS lớp 12 trong bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
2.2.1 Hệ thống hóa những tri thức LLVH liên quan đến yêu cầu của
đề bài nghị luận
Cũng như các môn học khác, Làm văn cũng có lí thuyết nhưng lí thuyếtLàm văn không phải là lí thuyết thuần túy mà là lí thuyết kĩ năng, lí thuyếtthực hành Mặc dù lý thuyết không phải là mục đích cuối cùng của Làm vănnhưng nếu không nắm vững lí thuyết sẽ dẫn đến nói, viết tùy tiện Bài nghịluận văn học là tổng hợp của những tri thức về lý thuyết: lý thuyết vê kiểu bàivăn nghị luận; lý thuyết về cách kỹ năng nghị luận; lý thuyết về tác giả, tácphẩm liên quan trực tiếp đến nội dung đề bài… Trong số đó, tri thức LLVH
có vai trò quan trọng
Trang 36Trong CT, SGK Ngữ văn 12, tri thức LLVH được giảng dạy chỉ gồm các
nội dung: phong cách văn học, quá trình văn học, giá trị văn học và tiếp nhận văn học Tuy nhiên, trong thực tế làm bài nghị luận văn học, HS không chỉ
đơn thuần dựa vào những tri thức này mà đòi hỏi có sự hiểu biết, vận dụnghàng loạt các tri thức LLVH đã được học từ các lớp dưới Đó là tri thức về thểloại, đặc trưng của từng thể loại; về mối quan hệ gữa nhà văn - bạn đọc - tácphẩm; tri thức về ngôn ngữ nghệ thuật Không nắm vững những tri thức này,
HS khó có thể thực hiện được mục tiêu của đề bài Làm văn
Tuy nhiên, đối với bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ, GV cầnchú ý hệ thống hóa cho HS một số tri thức LLVH tiêu biểu sau :
2.2.2.1 Quan niệm về tác phẩm văn học
Nội dung tri thức LLVH được dạy học trong SGK Ngữ văn 10, chỉ ra đốitượng của hoạt động Đọc - hiểu Tuy nhiên, sự nhận thức về đặc điểm của vănbản văn học lại có ý nghĩa quan trọng khi HS làm bài văn nghị luận về mộttác phẩm văn học
Theo quan niệm của SGK Ngữ văn 10 Chương trình Nâng cao, khái
niệm này được hiểu theo cả hai nghĩa, rộng và hẹp “Văn bản văn học là sựhiện diện bằng văn tự (ngôn từ), là phương diện kí hiệu của tác phẩm, Thôngqua hoạt động đọc của người đọc, văn bản văn học mới chuyển hóa thànhkhách thể thẩm mỹ, đó là tác phẩm trong tâm trí của người đọc” [37; tr.125]
Vì thế, có thể nhận diện văn bản văn học theo một số tiêu chí sau:
+ Thứ nhất, văn bản văn học gồm truyện cổ tích, bài thơ, cuốn tiểu
thuyết, bút kí, kịch là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan
và khám phá thế giới tư tưởng, tình cảm, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của conngười
+ Thứ hai, văn bản văn học thường được xây dựng bằng ngôn từ nghệ
thuật, có tính hình tượng, có tính thẩm mĩ cao, sử dụng nhiều phép tu từ ẩn
Trang 37dụ, hoán dụ, nhân hóa, tượng trưng, hàm súc và gợi lên nhiều liên tưởng,tưởng tượng
+ Thứ ba, văn bản văn học được xây dựng theo một phương thức riêng.
Mỗi văn bản văn học đều thuộc về một thể loại nhất định, và theo những quyước, cách thức của thể loại đó Kịch bản có hồi, có cảnh, có lời đối thoại, độcthoại, Văn bản thơ có vần điệu, luật, có câu thơ, khổ thơ Văn bản văn họckhông chỉ là những biện pháp, những kĩ xảo ngôn từ mà là một sáng tạo tinhthần của nhà văn Tư tưởng, tình cảm, những trải nghiệm trường đời sâu sắc
là điều mà nhà văn luôn thể hiện trong tác phẩm giúp người đọc hiểu được cáihay cái đẹp của văn bản văn học
2.2.2.2 Thơ và những đặc điểm của thơ
- Đã có nhiều cách định nghĩa về thơ Nhìn một cách tổng quát nhất,thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâmtrạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh vànhất là có nhịp điệu Đây là một trong các thể loại văn học được giảng dạytrong nhà trường phổ thông, bên cạnh tự sự và kịch Khái niệm này phù hợpvới đối tượng HS THPT, đồng thời cũng phù hợp với quan niệm đọc hiểu vàtạo lập văn bản
- Là một thể loại văn học thuộc phương thức trữ tình nhưng bản chấtcủa thơ rất đa dạng Tuy nhiên, tác phẩm thơ có một số đặc điểm sau:
+ Thơ chỉ thực sự hình thành khi con người có nhu cầu tự biểu hiện Vìvậy, đặc trưng đầu tiên của thơ là gắn liền với thế giới nội tâm Cho nên, thơthể hiện được sinh động nhất vẻ đẹp của mềm mại của tình cảm con người
+ Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình.Thơ tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng,tưởng tượng phong phú; thơ được phân chia thành nhiều loại hình khác nhau,nhưng dù thuộc loại hình nào thì yếu tố trữ tình vẫn giữ vai trò cốt lõi trongtác phẩm
Trang 38+ Thơ là tiếng nói của tình cảm con người, những rung động của tráitim trước cuộc đời Lê Quý Đôn từng khẳng định: “Thơ phát khởi từ lòngngười ta”, hay như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim tacuộc sống đã thật đầy” Nhà thơ Pháp Alfret de Mussé chia sẻ: “Hãy biết rằngchính quả tim ta đang nói và thở than lúc bàn tay đang viết”, “nhà thơ khôngviết một chữ nào nếu cả toàn thân không rung động” (dẫn theo PGS.TSNguyễn Thị Thanh Hương, Tạp chí Nghiên cứu văn học số 01/2009)
+ Thơ thường không trực tiếp kể về sự kiện, nhưng bao giờ cũng có ítnhất một sự kiện làm nảy sinh rung động thẩm mĩ mãnh liệt trong tâm hồnnhà thơ mà văn bản thơ là sự thể hiện của niềm rung động ấy Đó là lòng biết
ơn với chiến khu Việt Bắc trong ngày chiến thắng, khi cơ quan cách mạng củaĐảng và Chính phủ ta chuyển về xuôi, gợi cảm hứng để Tố Hữu việt “ViệtBắc”, là xúc cảm mãnh liệt của Thanh Thảo trước nhân cách, tài hoa và số
phận oan khuất của Lorca, nhà thơ Tây Ban Nha với câu nói: “Khi tôi chết, hãy chôn tôi với cây đàn ghi ta”…
+ Thơ thường có dung lượng câu chữ ngắn hơn các thể loại khác (tự sự,kịch) Hệ quả là nhà thơ biểu hiện cảm xúc của mình một cách tập trung hơnthông qua hình tượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua dòngthơ, qua vần điệu, tiết tấu Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chậthẹp của ngôn từ, cho nên mới có chuyện “ý tại ngôn ngoại” Do đó, thơ cóthể tạo điều kiện cho người đọc thực hiện vai trò “đồng sáng tạo” để pháthiện đời sống, khiến người đọc phải suy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệthuật của tác giả cũng như những điểm đặc sắc trong tư duy nghệ thuật củamỗi nhà thơ
+ Thơ chú trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người vàcuộc sống khách quan Vẻ đẹp và tính chất gợi cảm, truyền cảm của thơ cóđược còn do ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh và nhạc điệu Sựphân dòng, và hiệp vần của lời thơ, cách ngắt nhịp, sử dụng thanh điệu…làmtăng sức âm vang và lan tỏa, thấm sâu của ý thơ Bàn về đặc điểm này, nhà
Trang 39thơ Sóng Hồng viết: “Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Ngườilàm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưngthơ là có tình cảm, lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật.Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua nhữnglời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu”
+ Về cấu trúc, mỗi bài thơ là một cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt Sự sắpxếp các dòng (câu) thơ, khổ thơ, đoạn thơ làm nên một hình thức có tính tạohình Đồng thời, sự hiệp vần, xen phối bằng trắc, cách ngắt nhịp vừa thốngnhất vừa biến hóa tạo nên tính nhạc điệu Hình thức ấy làm nên vẻ đẹp nhịpnhàng, trầm bổng, luyến láy của văn bản thơ Ngôn ngữ thơ chủ yếu là ngônngữ của nhân vật trữ tình, là ngôn ngữ hình ảnh, biểu tượng Ý nghĩa mà vănbản thơ muốn biểu đạt thường không được thông báo trực tiếp, đầy đủ qua lờithơ, mà do tứ thơ, giọng điệu, hình ảnh, biểu tượng thơ gợi lên Do đó ngônngữ thơ thiên về khơi gợi, giữa các câu thơ có nhiều khoảng trống, những chỗkhông liên tục gợi ra nhiều nghĩa, đòi hỏi người đọc phải chủ động liên tưởng,tưởng tượng, thể nghiệm thì mới hiểu hết sự phong phú của ý thơ bên trong
- Phân loại:
Nhìn chung, có nhiều cách phân loại thơ
+ Theo nội dung biểu hiện có thơ trữ tình, thơ trào phúng
+ Theo cách thức tổ chức bài thơ có thơ cách luật (viết theo luật đãđịnh trước, ví dụ các loại thơ Đường, lục bát, song thất lục bát,…), thơ tự do(không theo niêm luật có sẵn), thơ văn xuôi (câu thơ giống như câu văn xuôi,tuy nhiên vẫn giàu nhạc điệu)
+ Dựa vào tiến trình xuất hiện, có thể chia thành: Thơ trữ tình dân gian;thơ trữ tình trung đại; thơ trữ tình hiện đại Cách phân chia này, hiện đangđược sử dụng trong CT, SGK Ngữ văn phổ thông
Trang 402.2.1.3 Những vấn đề chung về hình tượng văn học, nhân vật trữ tình, cách tổ chức một bài thơ
do nhà văn tạo ra bằng sức gợi ngôn từ Gọi là hình tượng vì một mặt, nócũng sống động y và hấp dẫn như thật, nhưng mặc khác nó chỉ tồn tại trong trítưởng tượng con người, nó không phải là sự thật trăm phần trăm
Hình tượng, một mặt nó vừa mang tính khách quan, mặt khác vừa mang
tính chủ quan của nghệ sĩ Hình tượng là kết tinh của những ấn tượng sâu sắc
về cuộc đời làm nhà văn day dứt Hình tượng, như thế nó gắn liền với quan
điểm, lí tưởng và khát vọng của nhà văn, vừa khái quát, vừa cụ thể Diễn đạt theo một cách khác, hình tượng văn học mang tính phi vật thể Nhờ dùng chất
liệu ngôn từ mà bức tranh đời sống không bị hạn chế về không gian, thời gian.Những gì tinh vi, mong manh, mơ hồ, ngay cả tâm trạng sâu thẳm của conngười, đều có thể mô tả trực quan, sinh động bằng từ ngữ Hình tượng nhânvật được sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực sự sống bằng tâm trí
của chính người đọc Hình tượng văn học là thước đo giá trị tài năng của nhà
văn và là tiêu chí đánh giá giá trị của mỗi giai đoạn, mỗi thời kì văn học
- Nhân vật trữ tình:
Nội dung tác phẩm trữ tình gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình(có người gọi là chủ thể trữ tình) Ở đây, cần phân biệt rõ các khái niệm: nhânvật trữ tình và nhân vật trong tác phẩm trữ tình Nhân vật trong tác phẩm trữtình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tâm sự, cảm xúc, suy nghĩ của mình, lànguyên nhân trực tiếp khêu gợi nguồn cảm hứng cho tác giả Nhân vật trữ tình