1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kĩ năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 12 trong kỳ thi THPT quốc gia ở trường THPT hà văn mao

23 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 201,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT HÀ VĂN MAO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG KÌ THI THPT QG Ở TRƯỜNG THPT HÀ VĂN MAO N

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT HÀ VĂN MAO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG KÌ THI THPT QG Ở TRƯỜNG

THPT HÀ VĂN MAO

Người thực hiện: Bùi Văn Quỳnh

Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn

Thanh Hóa, năm 2018

Trang 2

MỤC LỤC Trang A PHẦN 1: MỞ ĐẦU ……… 3

1.1 Lí do chọn đề tài 3

1.2 Mục đích nghiên cứu 4

1.3 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Đóng góp của đề tài 4

PHẦN 2: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 5

2.1 Cở sở lí luận của đề tài 5

2.1.1 Đặc thù môn học 5

2.1.2 Đối tượng tiếp cận 5

2.1.3 Đoạn văn trong nhà trường THPT 5-6 2.2 Thực trạng của vấn đề 7

2.2.1 Thực trạng chung 7

2.2.2 Về phía giáo viên 7

2.2.3 Về phía học sinh 8

2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện 8

2.3.1 Cấu trúc kiểu đoạn văn 8

2.3.2 Rèn luyện kĩ năng thực hành 8-17 2.3.3 Tạo hứng thú cho học sinh trong các tiết học 17

2.3.4 Bài tập về nhà 18

2.3.5 Kiểm tra, đánh giá 18

2.4 Kết quả và bài học kinh nghiệm 19

2.4.1 Những thay đổi của học sinh 19

2.4.2 Những kết quả cụ thể 19

2.4.3 Bài học kinh nghiệm 20

PHẦN 3: KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài.

Trang 3

Nhà thơ Tố Hữu từng nói: "Dạy văn học thật là một niềm vui sướng lớn.Qua mỗi giờ văn học thầy giáo có thể làm cho các em yêu đời, yêu lẽ sống vàlớn thêm một chút" Là người giáo viên đã khó song làm người giáo viên dạyvăn càng khó hơn Làm thế nào để các em yêu thích môn văn và học tập tốt

bộ môn này? Làm thế nào để thắp lên trong các em niềm đam mê khát khaovới văn chương? Đây là điều luôn làm tôi trăn trở

Trong những năm gần đây, nền giáo dục có những đổi mới mạnh mẽ.Cùng với đổi mới về nội dung chương trình SGK là những đổi mới về phươngpháp dạy học Trong môi trường học tập ở các trường phổ thông hiện nay,người học là trung tâm được phát huy tối đa về tính tích cực chủ động trongquá trình học tập, hoạt động học tập cũng gắn liền với thực tiễn, học đi đôivới hành Bộ môn văn cũng có nhiều đổi mới, đổi mới trong kiểm tra đánhgiá, đổi mới trong thi cử đặc biệt thi THPT QG Theo cấu trúc đề thi thamkhảo, đề thi chính thức năm 2017; cấu trúc đề thi thử năm 2018 THPT QGkhác biệt lớn nhất trong đề nghị luận xã hội là yêu cầu viết đoạn văn, thay vìmột bài hoàn chỉnh Câu hỏi nghị luận xã hội yêu cầu viết đoạn văn khoảng

200 chữ luận bàn về một vấn đề thể hiện qua một nhận định, một khái niệm,một bài học trong một thông điệp…được rút ra từ ngữ liệu phần đọc hiểu.Đây là điểm mới nên việc giảng dạy của giáo viên và đặc biệt là việc học tậpcủa học sinh còn gặp nhiều khó khăn

Qua thực tế giảng dạy ở trường THPT Hà Văn Mao hiện nay, để học sinhthực sự hứng thú và thu được kết quả khả quan trong bộ môn làm văn, đặcbiệt để học sinh tự viết được đoạn văn là điều rất khó đối với nhiều em, nhất

là những học sinh có học lực trung bình, yếu Hơn nữa, để giúp các em họcsinh lớp 12 đạt điểm cao ở bộ môn văn trong các kì thi THPT QG Vì vậy,làm thế nào để nâng cao kĩ năng viết đoạn văn, đặc biệt là kĩ năng viết đoạnvăn nghị luận là điều tôi luôn trăn trở trong những năm gần đây Bởi chỉ khinào làm được điều này người thầy mới thực sự làm tròn vai trò, chức năngcủa mình trong giáo dục, từ đó mới có thể khẳng định được vị trí của mìnhđối với học sinh Và cũng chỉ khi đó học sinh mới hoàn thiện kĩ năng viếtđoạn văn nói chung và đoạn văn nghị luận nói riêng trong phần làm văn, mônngữ văn mới đạt được mục tiêu của mình trong giáo dục

Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài này "một số kĩ năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh Lớp 12 trong kì thi THPT QG ở Trường THPT Hà Văn Mao", để nâng cao hiệu quả giáo dục của nhà trường

nói chung, đem lại cho bản thân tôi và đồng nghiệp những cách làm cụ thểgiúp học sinh phát triển toàn diện về kĩ năng và nhân cách

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Nâng cao kĩ năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh THPT

Trang 4

Với đề tài này, tôi cũng mong đóng góp một kinh nghiệm nhỏ cho đồngnghiệp trong tổ chuyên môn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến, từ đó gópphần củng cố kĩ năng viết đoạn văn, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tậpmôn ngữ văn THPT, nâng cao tỉ lệ tốt nghiệp, các trường Đại học, Cao đẳngnâng cao hiệu quả giáo dục của Nhà trường THPT Hà Văn Mao

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu của tôi chỉ là một kinh nghiệm nhỏ được rút ra trong quá

trình giảng dạy của bản thân nên phạm vi ngiên cứu của tôi chủ yếu là khảosát tình hình học tập và viết đoạn văn nghị luận trong bộ môn Ngữ văn ở cáckhối lớp 12 Trường THPT Hà Văn Mao trong các năm học 2016 - 2017, 2017

- 2018, và áp dụng "Một số kĩ năng viết đoạn văn văn nghị luận cho học sinh Lớp 12 trong kì thi THPT QG ở trường THPT Hà Văn Mao" trong

quá trình giảng dạy

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

- Khảo sát, thống kê.

- Phân tích, so sánh, đối chiếu

- Tổng hợp, đánh giá

1.5 Đóng góp của đề tài

Góp phần tăng hứng thú môn học cho học sinh, nâng cao kĩ năng viết đoạn

văn nghị luận cho học sinh Vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, đặc biệt là đốivới học sinh lớp 12 trong kì thi THPT QG hàng năm

PHẦN 2: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận của đề tài.

Trang 5

2.1.1 Đặc thù môn học.

Trong bộ môn Ngữ văn, phân môn Làm văn có đặc thù riêng so với các

phân môn khác Đặc thù riêng ấy được thể hiện ngay trong tên gọi của nó:Làm văn, tức là thực hành là chủ yếu Những năm gần đây, sự đổi mới củachương trình giáo dục đã làm cho phần lí thuyết của phân môn này trở nênđơn giản và dễ hiểu hơn rất nhiều đối với học sinh so với trước kia Tuy líthuyết đã gần gũi và dễ hiểu nhưng từ lí thuyết làm văn đến với thực hành làmột khoảng cách xa, trong đó có phần quan trọng đó là viết đoạn văn Để cóđược sản phẩm thực hành của bộ môn này đòi hỏi sự vận dụng rất linh hoạtcủa học sinh về mặt lí thuyết, về kĩ năng làm văn khi hoàn thiện một đoạnvăn cụ thể…

Làm văn nghị luận, nhất là viết đoạn văn nghị luận gắn với phần đọchiểu trong đề thi THPTQG hiện nay thì lại càng khó khăn hơn đối với các em

Vì vậy, người giáo viên trong những tiết dạy làm văn nói chung và trongphần thực hành viết đoạn văn nghị luận nói riêng, cần rèn luyện cho các emmột số kĩ năng viết đoạn văn để từ đó các em viết bài tốt hơn, giúp các em đạtđiểm cao trong các kì thi, nhất là học sinh khối 12 trong kì thi THPT QG và

nó còn là hành trang theo các em đến suốt cuộc đời

2.1.2 Đối tượng tiếp cận.

Đối tượng thứ nhất là người dạy - giáo viên Trong giờ làm văn nóichung và giờ dạy văn nghị luận nói riêng, người thầy cần cho học sinh nắmvững phần lí thuyết, từ đó hướng dẫn các em thực hành cách viết đoạn văn cụthể đặc biệt là kĩ năng viết đoạn văn nghị luận qua ngữ liệu, trong các đề thikhảo sát, thi THPT QG năm 2017, 2018 của Bộ GDĐT, các trường THPTtrong cả nước Đây là cơ sở để người thầy thiết kế một giáo án hợp lí cho giờlàm văn nhằm đạt kết quả tốt nhất trong dạy học

Đối tượng thứ hai có tính chất quyết định đến hiệu quả của giờ học, đếnchất lượng của bài làm đó chính là học sinh Người học vừa là chủ thể tiếpcận tri thức, vừa là chủ thể sáng tạo Dưới sự hướng dẫn của giáo viên trên cơ

sở SGK, các đề thi cụ thể người học vừa hình thành kiến thức vừa hình thành

kĩ năng Và như vậy, việc học của học sinh trong giờ làm văn nói chung và

viết đoạn văn nghị luận nói riêng là một công việc lao động và sáng tạo

2.1.3 Đoạn văn trong nhà trường THPT.

Thế nào là đoạn văn? Khái niệm đoạn văn ở trường phổ thông hiện nay được hiểu theo nhiều cách khác nhau:

- Cách hiểu thứ nhất (đoạn ý): Đoạn văn được dùng với ý nghĩa để chỉ sựphân đoạn nội dung, phân đoạn ý của văn bản Một văn bản bao gồm nhiềuđoạn văn: Đoạn mở đầu văn bản, những đoạn khai triển văn bản, đoạn kếtthúc văn bản Mỗi đoạn phải có sự hoàn chỉnh nhất định nào đó về mặt ý, vềmặt nội dung Nhưng thế nào là một nội dung, một ý hoàn chỉnh thì không cótiêu chí để xác định rõ ràng Một văn bản, tuỳ theo người đọc cảm nhận màphân chia ra thành các đoạn, sự phân chia có thể không thống nhất giữa

Trang 6

những người đọc: có người chia theo ý lớn, có người chia theo ý nhỏ Ý lớn làđoạn bài có hai hoặc ba ý nhỏ được khai triển từ ý lớn, bao gồm hai hoặc bađoạn văn ngắn, mỗi đoạn ngắn đó là một ý nhỏ, các đoạn này hợp ý với nhauthành một ý lớn; ý nhỏ là ý được khai triển từ ý lớn, về mặt nội dung chỉ triểnkhai theo một phương diện, một hướng cụ thể, mỗi ý nhỏ là một đoạn Cáchhiểu này khiến cho cách phân đoạn thiếu tính khách quan Với cách hiểu này,diện mạo đoạn văn không được xác định ( đoạn văn bắt đầu từ đâu, như thếnào, các câu văn trong đoạn có mối liên kết với nhau như thế nào,…) cho nênviệc xây dựng đoạn văn trở nên khó khăn, phức tạp, khó rèn luyện các thaotác để trở thành kĩ năng kĩ xảo

- Cách hiểu thứ hai (đoạn lời): Đoạn văn được hiểu là sự phân chia văn bảnthành những phần nhỏ, hoàn toàn dựa vào dấu hiệu hình thức: một đoạn vănbao gồm những câu văn nằm giữa hai dấu chấm xuống dòng Cách hiểu nàykhông tính tới tiêu chí nội dung, cơ sở ngữ nghĩa của đoạn văn Với cách hiểunày, việc rèn luyện xây dựng đoạn văn càng trở nên mơ hồ, khó xác định vìđoạn văn không được xây dựng trên một cơ sở chung nào vì hình thức bao giờcũng phải đi đôi với nội dung, bao chứa một nội dung nhất định và phù hợpvới nội dung mà nó bao chứa

- Cách hiểu thứ ba (đoạn văn xét theo cả hai tiêu chí về ý và về lời): Đoạn vănvừa là kết quả của sự phân đoạn văn bản về nội dung ( dựa trên cơ sở logicngữ nghĩa) vừa là kết quả của sự phân đoạn về hình thức ( dựa trên dấu hiệuhình thức thể hiện văn bản) Về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ởmột mức độ nhất định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được mộtcách tương đối dễ dàng Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý cómối liên quan chặt chẽ với nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản Mỗiđoạn trong văn bản có một vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo mộttrật tự nhất định: đoạn mở đầu văn bản, các đoạn thân bài của văn bản ( cácđoạn này triển khai chủ đề của văn bản thành các khía cạch khác nhau), đoạnkết thúc văn bản Mỗi đoạn văn bản khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đốicủa nó: nội dung của đoạn tương đối hoàn chỉnh, hình thức của đoạn có mộtkết cấu nhất định Về mặt hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh Sự hoànchỉnh đó thể hiện ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu vănnằm giữa hai dấu chấm xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức,thể hiện bằng các phép liên kết; mỗi đoạn văn khi mở đầu, chữ cái đầu đoạnbao giờ cũng được viết hoa và viết lùi vào so với các dòng chữ khác trongđoạn Đây là cách hiểu hợp lí, thoả đáng hơn cả giúp người đọc nhận diệnđoạn văn trong văn bản một cách nhanh chóng, thuận lợi đồng thời giúpngười viết tạo lập văn bản bằng cách xây dựng từng đoạn văn được rõ ràng,rành mạch

2.2 Thực trạng của vấn đề.

2.2.1 Thực trạng chung:

Trang 7

Cách viết đoạn văn học sinh chủ yếu được học từ THCS, ở THPT các

em chỉ được thực hành 3 tiết cụ thể về cách viết đoạn văn ở chương trình lớp

10 đó là: Luyện tập viết đoạn văn tự sự (tiết 29), Luyện tập viết đoạn vănthuyết minh (tiết 70), Luyện tập viết đoạn văn nghị luận (Tiết 95) Ở chươngtrình lớp 11 có 10 tiết về làm văn tuy nhiên học sinh không được học tiết nào

về cách viết đoạn văn nói Ở chương trình lớp 12 học sinh cũng chỉ được học

3 tiết về kiểu bài nghị luận, cụ thể: nghị luận xã hội 2 tiết ( nghị luận về một

tư tưởng đạo lí-tiết 3 và nghị luận về một hiện tượng đời sống - tiết 13); Nghịluận văn học có 5 tiết: (Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ - tiết 16, nghị luận

về một ý kiến bàn về văn học - tiết 19, nghị luận về một tác phẩm, một đoạntrích văn xuôi - tiết 62) Tuy nhiên phần thực hành viết đoạn văn nói chung,đặc biệt là cách viết đoạn văn nghị luận nói riêng học sinh chỉ được học mộttiết theo phân phối chương trình môn học ở lớp 10 đó là: Luyện tập viết đoạnvăn nghị luận (Tiết 95) Vì thế đa phần học sinh gặp nhiều khó khăn khi viếtmột đoạn văn cụ thể, đặc biệt là đoạn văn nghị luận, đây là dạng đề mới đốivới học sinh lớp 12 trong kì thi THPT QG, khi gặp kiểu đề này các emthường lúng túng khi trình bày, các em không biết bắt đầu từ đâu? Viết nhưthế nào? Triển khai các ý ra sao…, chính vì vậy kết quả đạt không cao

Hơn nữa, trường THPT Hà Văn Mao là một trường trẻ về tuổi đời ( 19năm), đóng trên địa bàn miền núi với điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khókhăn, vùng 30A, trình độ dân trí thấp, đi lại còn nhiều khó khăn đã ảnhhưởng không nhỏ đến việc học tập của các em Cùng với sự nổ lực của Bangiám hiệu, tập thể cán bộ giáo viên nhà trường, Trường THPT Hà Văn Mao

đã cố gắng vươn lên để khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp giáo dụccủa huyện Bá Thước Những năm gần đây cơ sở vật chất của nhà trường đãđược đầu tư, đáp ứng tương đối đầy đủ yêu cầu của dạy học theo hướng đổimới với những trang thiết bị hiện đại, phòng học bộ môn Nhưng thực tế vẫnchưa đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh

2.2.2 Về phía giáo viên

Tổ Văn trường THPT Hà Văn Mao hiện nay có 8 đồng chí, trẻ về tuổi

đời và tuổi nghề nên có những mặt mạnh và hạn chế nhất định

Thứ nhất là ưu thế: trẻ năng động dễ tiếp cận với cái mới về chuyênmôn nghiệp vụ Trình độ chuyên môn đạt chuẩn, giáo viên có khả năng pháttriển cao về chuyên môn nghiệp vụ

Thứ hai là hạn chế: kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, tâm lí không ổn

định do thuyên chuyển Công tác tự học, tự nghiên cứu chuyên sâu chưa

thường xuyên Tất cả những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc tìm

ra giải pháp giúp nâng cao hiệu quả dạy học

2.2.3 Về phía học sinh.

Trang 8

Trường đóng trên địa bàn 8 xã Quý Lương, Hồ Điền của huyện BáThước Học sinh của trường chủ yếu là người dân tộc Mường, năng lực họctập và khả năng giao tiếp của các em có những hạn chế nhất định Mặt khác,

đa số các em trọ học, chủ yếu sống tự lập xa gia đình nên không có được sựkèm cặp thường xuyên của cha mẹ Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc

tự học của các em

Một thực tế trong việc học tập của học sinh hiện nay là nhiều em khônghọc bài, không chịu làm bài tập ở nhà Các em đến lớp với một tâm lí ngạihọc, phải học theo yêu cầu của cha mẹ, điều đó khiến cho học sinh không chủđộng tiếp thu kiến thức, không chủ động thực hành Trong các bài thi kiểm tra

ở trên lớp các em không thực sự nỗ lực tìm tòi, suy nghĩ, bài làm về nhà thìcác em chép lại những tài liệu có sẵn trong các bài văn mẫu, trên mạnginternet….Vì vậy các em chưa nắm vững kĩ năng viết đoạn văn nói chung và

kĩ năng viết đoạn văn nghị luận nói riêng

2.3.1 Cấu trúc kiểu đoạn văn:

Đoạn mở đầu văn bản, các đoạn thân bài của văn bản ( các đoạn này triểnkhai chủ đề của văn bản thành các khía cạch khác nhau), đoạn kết thúc vănbản

Kết cấu đoạn văn Trong văn bản, nhất là văn nghị luận, ta thường gặpnhững đoạn văn có kết cấu phổ biến: quy nạp, diễn dịch, tổng phân hợp; bêncạnh đó là đoạn văn có kết cấu so sánh, nhân quả, vấn đáp, đòn bẩy, nêu giảthiết, hỗn hợp,…

2.3.1.1 Đoạn diễn dịch Đoạn diễn dịch là một đoạn văn trong đó câu chủ đềmang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai ý tưởngchủ đề, mang ý nghĩa minh hoạ, cụ thể Các câu triển khai được thực hiệnbằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèmnhững nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết

2.3.1.2 Đoạn quy nạp Đoạn văn quy nạp là đoạn văn được trình bày đi từ các

ý chi tiết, cụ thể nhằm hướng tới ý khái quát nằm ở cuối đoạn Các câu trênđược trình bày bằng thao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét,đánh giá chung

2.3.1.3 Đoạn tổng phân hợp Đoạn văn tổng phân hợp là đoạn văn phối hợpdiễn dịch với quy nạp Câu mở đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếptheo khai triển ý khái quát, câu kết đoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chấtnâng cao, mở rộng Những câu khai triển được thực hiện bằng thao tác giảithích, chứng minh, phân tích, bình luận, nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từ

Trang 9

Ví dụ:

Bà lão cúi đầu nín lặng Bà lão hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì… Trong

kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó

có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không? ( Trích Vợ Kim Lân)

nhặt-Từ văn bản, viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về tình mẫu tử

Hướng dẫn: Đoạn văn cần đảm bảo các ý:

– Dẫn ý bằng chính dòng độc thoại nội tâm xúc động của bà cụ Tứ

– Tình mẫu tử là gì? Biểu hiện của tình mẫu tử?

– Ý nghĩa của tình mẫu tử?

– Phê phán những đứa con bất hiếu với mẹ và nêu hậu quả

– Bài học nhận thức và hành động?

2.2 Viết đoạn văn theo yêu cầu của đề

+ Sau khi tìm được những ý chính cho đoạn văn, chúng ta tiến hành viết câu

mở đầu Câu mở đầu có nhiệm vụ dẫn dắt vấn đề Đối với đoạn văn trong đềđọc hiểu, các em nên dẫn dắt từ nội dung của văn bản được trích dẫn Đoạnvăn có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cách đơn giản nhất là

Trang 10

Dù đoạn văn dài hay ngắn thì câu kết cũng giữ vai trò quan trọng, để lại ấntượng cho người đọc Câu kết có thể nêu cảm xúc cá nhân, mở rộng vấn đề,hoặc tóm lược vấn đề vừa trình bày

+ Về dung lượng , đoạn văn cần đảm bảo yêu cầu của đề bài Đoạn văn viết

đủ ý, sâu sắc thì chắc chắn sẽ đạt được điểm cao

Lưu ý: Nếu bài viết yêu cầu nêu quan điểm, cảm nhận của cá nhân Các em cóthể trình bày quan điểm cá nhân nhưng phải thể hiện được quan điểm và thái

độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật Cónhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh vàcác yếu tố biểu cảm,…)

2.3.3 Bài tập minh hoạ.

Đối với dạng đề yêu cầu viết một đoạn văn ngắn khoảng 7,8 dòng.

Ví dụ, trong đoạn văn bản nào đó có nội dung về người mẹ Sẽ có một câuhỏi: viết một đoạn văn ngắn khoảng 7,8 dòng nói lên những suy nghĩ của anh/chị về đức hi sinh của Mẹ

Từ khóa của câu hỏi là “đức hi sinh”- đây cũng chính là trọng tâm củađoạn văn Chúng ta sẽ có đoạn văn sau :

Có ai đó đã nói rằng, nếu trong gia đình ấy có những đứa con thành đạt thìchắc chắn ở đó có một người mẹ giàu đức hi sinh Vâng! Mẹ là người đã dànhhết cả đời mình vì tương lai của con Mẹ có thể nhịn đói cho ta no, nhịn mặccho ta có tấm áo đẹp Mẹ là người có thể cho ta cả đôi mắt, quả tim, tráithận… chỉ mong sao cho con mình lành lặn Khi ta khổ đau, bờ vai mẹ là bến

bờ cho ta quay về Người đời có thể bỏ rơi ta nhưng mẹ thì không bỏ con baogiờ Bởi thế hạnh phúc nhất là còn mẹ nên chúng ta hãy nhớ :”Ai còn mẹ xinđừng làm mẹ khóc – Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không”

Lưu ý: câu mở đoạn phải có từ khóa :”đức hi sinh” Câu kết phải rút ra bàihọc hoặc chiêm nghiệm triết lý

Trang 11

Đối với đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ

Khi viết đoạn văn 200 chữ, thí sinh cần chú ý trình bày đúng quy tắc mộtđoạn văn là không ngắt xuống dòng Dung lượng an toàn của một đoạn là 2/3

tờ giấy thi, tương đương khoảng 20 dòng viết tay

Học sinh nên linh hoạt lựa chọn hình thức đoạn văn phù hợp, có thể làdiễn giải, quy nạp, tổng phân hợp… Tuy nhiên, nên ưu tiên sự lựa chọn hìnhthức tổng phân hợp để tạo ấn tượng về một văn bản hoàn chỉnh, độc lập, đầyđặn

Cần lưu ý nguyên tắc viết đoạn, tránh kể lể bàn luận lan man trùng lặp.Phần mở đoạn và kết đoạn chỉ nên viết trong một câu ngắn gọn Trong đó mởđoạn giới thiệu vấn đề nghị luận, thân đoạn triển khai nội dung nghị luận, kếtđoạn viết về bài học cho bản thân…

Trong phạm vi một đoạn văn ngắn, chỉ nên chọn một dẫn chứng mang tínhtiêu biểu, điển hình và phù hợp làm nổi bật vấn đề nghị luận Tuyệt đối tránh

kể chuyện lan man dông dài

Ví dụ 1:

Chẳng hạn : Đề bài yêu cầu đọc hiểu về đoạn thơ trong Trường ca “Nhữngngười đi tới biển” – Thanh Thảo, sau đó yêu cầu viết đoạn văn khoảng 200chữ về trách nhiệm của thanh niên với đất nước

Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình

Tuổi hai mươi làm sao không tiếc?

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ Quốc?

(Trường ca “Những người đi tới biển” – Thanh Thảo)

Đoạn văn có các ý sau :

+ Câu mở đầu dẫn dắt vấn đề : Những câu thơ trên của Thanh Thảo nhắc nhởthế hệ trẻ chúng ta hôm nay: Bất cứ thời đại nào, mỗi con người chúng ta nhất

là thế hệ thanh niên cũng luôn phải ý thức vai trò trách nhiệm của mình đốivới đất nước

+ Các ý chính của đoạn :

- Thế hệ trẻ phải xác định tư tưởng, tình cảm, lí tưởng sống của mình

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w