1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

RÈN kĩ NĂNG làm văn NGHỊ LUẬN văn học DẠNG đề SO SÁNH CHO học SINH lớp 12 ôn THI THPT QUỐC GIA

29 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 232 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy: “Rèn kỹ năng làm văn nghị luận văn học dạng đề so sánh cho học sinh lớp 12 ôn thi THPT Quốc gia” chính là giúp thầy cô và các em đáp ứng tốt yêu cầu của xu hướng ra đề thi hiện

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT HẬU LỘC 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC DẠNG ĐỀ

SO SÁNH CHO HỌC SINH LỚP 12 ÔN THI THPT QUỐC GIA

Người thực hiện: Nguyễn Thị Duyên Chức vụ: Giáo viên

Trình độ: Thạc sĩ Đơn vị công tác: Trường THPT Hậu Lộc 3 SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Ngữ Văn

THANH HÓA NĂM 2019

Trang 2

1 MỞ ĐẬU

1.1 Lí do chọn đề tài

1.2 Mục đích ngiên cứu………

1.3 Đối tượng nghiên cứu………

1.4 Phạm vi nghiên cứu………

1.5 Phương pháp nghiên cứu

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

2.2 Thực trạng vấn đề

2.3 Giải pháp và cách thức tổ chức thực hiện

2.3.1 Khái quát các dạng đề so sánh thường gặp

2.3.2 Hướng dẫn cách làm dạng đề so sánh………

1 2.3.3 Hướng dẫn học sinh cách làm cụ thể

2 2.3.4 Hướng dẫn học sinh luyện tập

2.3.5 Kiểm tra kết quả của quá trình ôn tập ………

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm………

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 1 1 2 2 3 3 3 4 5 5 5 6 13 19 19 20

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ

1.Mở đầu

Trang 3

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài:

So sánh là một thao tác tư duy rất cơ bản Trong cuộc sống, khi ta tư duy,

ta đã dùng đến thao tác này rất thườngxuyên như một phần tất yếu Văn học cũng là một lĩnh vực của tư duy, của nhậnthức, mang tính đặc thù, cho nên việc

sử dụng thao tác so sánh trong sáng tác và nghiên cứu văn học là một điều hết sức tự nhiên Từ khi có văn học, nhất làvăn học viết đến nay, các nhà nghiên cứu đã có ý thức so sánh khi tìm hiểu vănchương, đặc biệt là khi có những hiện tượng song hành trong văn học

Khái niệm so sánh văn học cần phải được hiểu theo ba lớp nghĩa khác nhau Thứ nhất, so sánh văn học là “một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh cho câuvăn” Thứ hai, nó được xem như một thao tác lập luận cạnh các thao tác lập luậnnhư:phân tích, bác bỏ, bình luận đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 11 Thứ ba,nó được xem như “một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận”, tức là như một kiểu bài nghị luận bên cạnh các kiểu bài nghị luận về mộtđoạn trích, tác phẩm thơ; nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi… ở sách giáo khoa Ngữ văn 12 Ở đề sáng kiến này chúng ta nghiên cứu vấn đề ở góc nhìn thứ ba

So sánh là phương pháp nhận thức trong đó đặt sự vật này bên cạnh một hay nhiều sự vật khác để đối chiếu, xem xét nhằm hiểu sự vật một cách toàn diện,kỹ lưỡng, rõ nét và sâu sắc hơn Tuy nhiên, so sánh văn học như một kiểu bài nghị luận văn học lại chưa được cụ thể bằng một bài học độc lập, chưa xuất hiện trong chương trình sách giáo khoa Vì vậy, từ việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu bài, mục đích, yêu cầu, đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết song lại gặp không ít khó khăn

Nhằm đáp ứng được yêu cầu của xu hướng đề thi hiện nay, gần đây trong các đề thi trung học phổ thông quốc gia minh họa của Bộ Giáo dục và đào tạo ,

ở câu nghị luận văn học 5 điểm xuất hiện dạng đề so sánh Vì vậy: “Rèn kỹ năng làm văn nghị luận văn học dạng đề so sánh cho học sinh lớp 12 ôn thi THPT Quốc gia” chính là giúp thầy cô và các em đáp ứng tốt yêu cầu của xu

hướng ra đề thi hiện nay trong việc ôn luyện và làm bài kiểm tra, bài thi

Thấy rõ xu hướng, tính thiết thực và ý nghĩa của vấn đề cho nên trong quá trình dạy và đặc biệt là ôn tập tôi luôn chú trọng tới dạng đề so sánh Bằng cách sau mỗi phần học về: thơ, văn xuôi, kí, kịch… trong chương trình Ngữ vănTrung học phổ thông tôi chỉ cho học sinh có những dạng đề so sánh nào, cách làm dạng đề đó và hướng dẫn cụ thể một số đề tiêu biểu, sau đó yêu cầu học sinh tự làm một số đề và kiểm tra đánh giá bằng bài kiểm tra cụ thể Tuy nhiên, trong khuôn khổ SKKN, tôi chỉ xin nêu một số kinh nghiệm trong việc hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn tập dạng đề so sánh ở một số tác phẩm văn xuôi trong chương trình ôn thi THPT Quốc gia

2.2 Mục đích nghiên cứu:

Trang 4

2.2.1 Giúp giáo viên dễ dàng phân loại được học sinh

So sánh trong văn học là một trong những dạng đề khó nhưng rất hay

và phù hợp với mục đích tuyển chọn và phân loại học sinh, nhất là học sinh giỏi Nên “Rèn kỹ năng làm văn nghị luận dạng đề so sánh cho học sinh THPT”còn giúp cho giáo viên đánh giá đúng năng lực học sinh, nhất là những học sinh

có năng lực cảm thụ tốt, tư duy khái quát cao Bởi vì để làm được dạng bài liên

hệ trong văn học đòi hỏi học sinh không những chỉ tái hiện kiến thức, hiểu đượcnội dung và nghệ thuật mà còn phải biết phát hiện ra cái mới của mỗi nhà văn, tức là chỉ ra điểm độc đáo của nhà văn ấy cũng như vai trò của nhà văn đó trongtiến trình phát triển văn học Việt Nam

Nếu học sinh trung bình chỉ biết phân tích đơn thuần hết tác phẩm này đến tác phẩm khác hay hết hình tượng này đế hình tượng khác, nhưng học sinh khá sẽ biết chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt của hai tác phẩm hay hai hình tượng đó Còn học sinh giỏi sẽ biết lí giải vì sao có sự giống và khác nhau giữa hai tác phẩm hay hai hình tượng ấy.Từ đó giáo viên có thể chọn được những học sinh xuất sắc cho đội tuyển học sinh giỏi và lên kế hoạch ôn luyện bồi dưỡng cho tất cả các đối tượng học sinh

2.2.2 Nâng cao năng lực cảm thụ của học sinh

“Rèn kĩ năng làm văn nghị luận dạng đề so sánh cho học sinh lớp 12 ônthi THPT Quốc gia” cũng là một bước đổi mới trong kiểm tra thi cử, tránh được

sự nhàm chán của lối văn theo mẫu (bởi không hề có sẵn) và kiểm tra được một cách khá toàn diện những kĩ năng và kiến thức cần có của học sinh như: kiến thức tác phẩm, kiến thức về tác giả, giai đoạn, kiến thức lí luận văn học…

kĩ năng phân tích bình giá, so sánh, lí giải… Với dạng đề này, học sinh có điều kiện bộc lộ sự tinh tế trong cảm nhận (có thể nhận ra được những nét khác biệt

dù rất nhỏ, rất mơ hồ) sự sắc sảo trong đối chiếu (khả năng tách đối tượng thànhnhững bình diện nhỏ để so sánh) sự chắc chắn trong kiến thức (trong việc

huy động kiến thức văn học sử, lí luận văn học…để đánh giá, lí giải) Nghĩa là, đòi hỏi ở người học sinh giỏi văn không chỉ cần phẩm chất nghệ sĩ (sự tinh tế trong cảm nhận và thẩm định) mà còn chú trọng phẩm chất khoa học (thể hiện ở

sự chính xác, chặt chẽ, khúc triết và tính hệ thống trong tư duy và trình bày bài viết) Vì thế kiểu bài này sẽ góp phần nâng cao năng lực cảm thụ đáng kể cho học sinh Nó đòi hỏi học sinh vừa phải có năng lực cảm thụ vừa có năng lực khái quát tổng hợp Cảm thụ văn học trong thế đối sánh là một biên pháp hữu hiệu để vừa nâng cao năng lực cảm thụ văn chương, vừa nâng cao tri thức và bồi dưỡng tâm hồn cho học sinh, giúp các em có khả năng cảm thụ sâu sắc tác phẩm văn chương, góp phần đảm bảo tính nghệ thụât đặc thù của môn ngữ văn trong trường phổ thông

2.2.3 Khơi gợi lòng yêu thích và say mê tìm tòi, khám phá môn Ngữ văn của các em học sinh

Trang 5

Để làm tốt dạng bài so sánh trong văn học, học sinh cần phải trang bị rất nhiều kiến thức Vì vậy, đòi hỏi học sinh phải có một quá trình tích luỹ cộng với lòng yêu thích và say mê tìm tòi, khám phá môn Ngữ văn Chính điều đó đã thắp lên ngọn lửa của sự đam mê khiến các em ngày càng thích thú và gắn bó với môn học Ngữ văn hơn Có thể nói so sánh là một thao tác lập luận hết sức cần thiết trong văn nghị luận: một mặt nó làm sáng tỏ vấn đề nghị luận, mặt khác nó chứng tỏ người viết có kiến thức rộng rãi, phong phú, có được khả năng

tư duy và cảm thụ văn học tốt Điều này rất cần thiết đối với một học sinh giỏi văn

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh các lớp khối C và D mà tôi đã được phân công giảng dạy từ năm học 2017-2018 đến 2018- 2019

* Chương trình Ngữ văn 12

- Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)

- Vợ nhặt (Kim Lân)

- Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)

- Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)

- Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

- Người lái đò Sông Đà( Nguyễn Tuân)

- Ai đã đặt tên cho dòng sông ( Hoàng Phủ Ngọc Tường)

1.5 Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, phân tích đối chiếu với thực trạng đua ra những giải pháp có tính khoa học để giáo viên vận dụng

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Dạng đề so sanh là một dạng đề khó Thực chất dạng này học sinh chỉ cần chỉ ra vài nét tương đồng, khác biệt là được (Tuy nhiên với học sinh khá giỏi thì có thể làm lồng vào nhau như so sánh đã nói ở trên)

Dạng đề so sánh văn học rất phong phú có thể liên hệ trên nhiều bình diệnkhác nhau: đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiết nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật…Quá trình so sanh có thể chỉ diễn ra ở các tác phẩm

ở cùng một tác giả nhưng cũng có thể diễn ra ở nhiều tác phẩm của các tác giả cùng hoặc không cùng một thời đại, giữa các tác phẩm của những trào lưu, trường phái khác nhau của một nền văn học

Trang 6

Mục đích cuối cùng của dạng đề này là yêu cầu học sinh chỉ ra chỗ giống

và khác nhau giữa hai tác phẩm, hai tác giả từ đó thấy được những mặt kế thừa, những điểm cách tân của từng tác giả, từng tác phẩm, thấy được vẻ đẹp riêng của từng tác phẩm, sự đa dạng muôn màu của phong cách nhà văn Dạng đề nàycòn góp phần hình thành kĩ năng tổng hợp, khái quát, so sánh, lí giải nguyên nhân của sự khác nhau giữa các hiện tượng văn học- một năng lực rất cần thiết góp phần tránh đi khuynh hướng bình tán, khuôn sáo trong các bài văn của học sinh hiện nay

Tuy nhiên, đây là dạng đề khó, giáo viên chỉ có thể đưa ra các tiêu chí liên hệ so sánh có mức độ khó vừa phải, khả năng lí giải giống và khác nhau cũng cần thiết phải tính toán hợp lí với năng lực của học sinh THPT

Phần văn xuôi thuộc chương trình thi THPT Quốc gia gồm nhiều tác phẩm, kiến thức của từng tác phẩm lại nhiều, học sinh nhớ được kiến thức của từng tác phẩm đã là khó nên kiến thức liên hệ ở nhiều tác phẩm lại càng khó hơn Đặc biệt trong các đề minh họa của Bộ gần đây luôn xuất hiện dạng đề so sánh dựa trên những nét tương đồng hoặc khác biệt về nội dung, tư tưởng, cảm hứng… Ví dụ như: Cảm nhận của anh/chị về hình tượng người lái đò trong cảnh

vượt thác (Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập một, NXB

Giáo duc Viêt Nam, 2016) Từ đó so sánh với nhân vật Huấn Cao trong cảnh

cho chữ (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo

dục, 2016) để nhận xét quan niệm của nhà văn về vẻ đẹp con người Việt Nam Ngoài ra, ở dạng đề so sánh giáo viên phải hướng dẫn học sinh thấy được được nét riêng, độc đáo trong từng tác phẩm về nội dung, nghệ thuật, nhân vật, chi tiết…để thấy được giá trị của từng tác phẩm đóng góp vào nền văn học và phong cách nhà văn

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các tài liệu hướng dẫn ôn thi THPT

Quốc gia : Tuyển tập các dạng đề văn nghị luận văn học, Chiến thuật ôn thi THPT Quốc gia – Trịnh Quỳnh, Bộ đề tinh túy ôn thi THPT Quốc gia…các em

ở những lớp tôi dạy có nhiều em có những quyển sách như vậy để tham khảo thêm nhưng trong các tài liệu đó chỉ đưa ra các đề và giải, thậm chí làm sẵn các

đề đó mà không đưa ra cách làm và hướng dẫn học sinh ôn tập Vì vậy, nếu giáo viên chỉ trang bị kiến thức mà không hướng dẫn các em ôn tập để các em

tự ôn tập dựa vào tài liệu thì sẽ dẫn đến tình trạng thụ động trong học tập cũng như trong thi cử

Hơn nữa, trong chương trình SGK Ngữ văn 12 có các bài học riêng về

các kiểu bài nghị luận: Nghị luận về một đoạn trích, một tác phẩm thơ; Nghị luận về một đoạn trích, một tác phẩm văn xuôi Còn dạng đề liên thì chưa được

cụ thể bằng một bài học độc lập Vì vậy, từ việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu bài, mục đích, yêu cầu đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết

Về phía giáo viên và học sinh – những nhân tố quyết định thì hầu như chỉchú trọng đến học bài mới, học nội dung chính chứ chưa chú trọng đến ôn tập

Trang 7

Hoặc ôn tập một cách đại khái, sơ sài hay chỉ dừng lại ở khái quát nội dung

ở nhân vật bà cụ Tứ Giáo viên có thể khái quát lên những phẩm chất của ngườiphụ nữ Việt Nam: nhân hậu, giàu lòng vị tha, đức hi sinh Nếu giáo viên ôn tập

có nói những vấn đề đó và đưa ra những đề văn có sự liên hệ các tác phẩm, nhân vật như vậy thì học sinh sẽ được cung cấp những kiến thức sâu hơn, rộng hơn Và các em sẽ hứng khởi hơn khi ôn tập văn học, tránh được tình trạng chủ quan, đơn giản, xem nhẹ khi nghĩ đến ôn tập văn trong quan niệm của học sinh lâu nay

Mặt khác nhiều giáo viên khi ôn tập chỉ đưa ra các đề trong mỗi tác phẩm

và yêu cầu học sinh làm (hoặc lập dàn ý) các đề đó Tức là giáo viên chỉ chú trọng các đề và làm đề Giáo viên không khái quát thành các dạng đề và khái quát thành các cách làm Như vậy, sẽ không phát huy được sự chủ động, sáng tạo của học sinh Điều này dẫn đến tình trạng học sinh lúng túng khi gặp các đề khác và sẽ không biết phải làm như thế nào

Ngoài ra, dạng đề so sánh là một dạng đề khó và mới nên nhiều giáo viên chủ quan, ít chú trọng đến dạng đề này Do vậy, trong quá trình ôn tập không đềcập tới hoặc có đề cập thì chỉ mang tính chất giới thiệu một cách qua loa Vì vậy, nhiều học sinh rất ngại khi phải tiếp xúc với dạng đề này Các em mơ hồ với kiểu bài, cách làm và làm bài thì rối rắm, sơ sài

Bản thân tôi là giáo viên trường THPT Hậu Lộc 3, trường chủ yếu là các

em theo ban KHTN, chỉ có vài lớp theo ban KHXH Hầu hết các em chỉ dừng lại ở học lực yếu, trung bình, có rất ít học sinh khá mà học sinh khá lại học ở những lớp khối A, B.Vì vậy, dạng đề liên hệ đối với học sinh của tôi là một dạng đề khó Cho nên, trong quá trình dạy và ôn tập nếu giáo viên không hướngdẫn mà để học sinh tự phát hiện thì các em không thể liên hệ, so sánh các tác phẩm, nhân vật, chi tiết với nhau Do đó, bên cạnh việc trang bị kiến thức thì khâu ôn tập, tôi rất chú trọng tới dạng đề so sanh, hướng dẫn cho các em cách làm để các em biết cách tự làm khi gặp các đề tương tự Điều đó giúp các em chủ động, tự tin khi đứng trước dạng đề này

2.3 Giải pháp thực hiện.

2.3.1 Khái quát các dạng đề so sánh thường gặp:

Các đề so sánh trong phần văn xuôi rất phong phú và đa dạng từ nội dung, nghệ thuật cho đến hình ảnh, chi tiết, nhân vật…Nhưng trong quá trình dạy học , đặc biệt là theo dõi các đề thi minh họa THPT Quốc gia năm nay, tôi chỉ khái quát những đề chính có tính chất chung, tổng hợp để học sinh nắm

Trang 8

được kiến thức cơ bản tránh bị lúng túng khi đứng trước quá nhiều đề vụn vặt Tôi khái quát lại các dạng đề so sánh thường gặp như sau:

- So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm văn học:

- So sánh hai đoạn văn

- Nối tiếp: Lần lượt phân tích hai văn bản rồi chỉ ra điểm giống và khác nhau

- Song song: Tìm ra các luận điểm giống và khác nhau rồi lần lượt phân tích

từng luận điểm kết hợp với việc lấy song song dẫn chứng của cả hai văn bản minh họa

a Cách 1: Phân tích theo kiểu nối tiếp

Đây là cách làm bài phổ biến của học sinh khi tiếp cận với dạng đề này, cũng là cách mà Bộ giáo dục và đào tạo định hướng trong đáp án đề thi Ưu điểm cách làm này là dễ dàng triển khai các luận điểm trong bài viết, bài viết rõ ràng, không rối kiến thức Nhược điểm: phần nhận xét điểm giống và khác nhaunếu bạn không thành thạo kĩ năng, nắm chắc kiến thức sẽ viết lặp lại những gì

đã phân tích ở trên hoặc suy diễn một cách tùy tiện Mô hình khái quát của kiểu bài này như sau:

Mở bài:

- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)

- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh

Thân bài

- Làm rõ đối tượng so sánh thứ 1

- Làm rõ đối tượng so sánh thứ 2

Kết bài:

- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu

Trang 9

- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.

b Cách 2: Phân tích song song được hiểu song hành so sánh trên mọi bình

diện của hai đối tượng.Cách này hay nhưng khó, đòi hỏi khả năng tư duy chặt chẽ, lôgic,sự tinh nhạy trong phát hiện vấn đề học sinh mới tìm được luận diểm của bài viết và lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu phù hợp của cả hai văn bản

để chứng minh cho luận điểm đó

Mở bài:

- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)

- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh

Thân bài:

- Điểm giống nhau

 Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)

 Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)

 Luận điểm

- Điểm khác nhau

 Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)

 Luận điểm 1 (lấy dẫn chứng cả hai văn bản)

 Luận điểm

Kết bài

- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu

- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân

==> Kết luận:

Hai cách làm bài của kiểu đề so sánh văn học là vậy, mỗi cách làm đều có mặt mạnh, mặt yếu khác nhau Trong thực tế không phải đề nào chúng ta cũng có thể áp dụng theo đúng khuôn mẫu cách làm như đã trình bày ở trên Phải tùy thuộc vào cách hỏi trong mỗi đề cụ thể mà ta áp dụng theo cách nào và áp dụng sao cho linh hoạt, phù hợp Cũng có khi vận dụng đầy đủ các ý của phần thân bài,cũng có khi phải cắt bỏ một phần cho hợp với yêu cầu trọng tâm của đề, haydụng ý của người viết

2.3.3 Một số dạng đề cụ thể: ở phần này GV hướng dẫn học sinh một số dạng

đề cụ thể, nhưng vì đối tượng chủ yếu là học sinh ôn thi THPT Quốc gia nên

Trang 10

GV sẽ hướng dẫn theo cách 1 Đây là cách làm phổ biến và đem lại hiệu quả

cao.

Đề 1: So sánh hai chi tiết nghệ thuật

Kết thúc đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài là hành động Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ và “hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi” Kết thúc truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân trong óc Tràng vẫn thấy “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”.

Cảm nhận của anh (chị) về hai chi tiết nghệ thuật trên.

Hướng dẫn cụ thể

1 Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và chi tiết cần cảm nhận.

- Tô Hoài là cây đại thụ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam Ông đã để lạicho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú,

hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật "Vợ chồng A Phủ" là một truyện ngắn

xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung

- Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại ViệtNam Ông là một cây bút viết truyện ngắn tài hoa Thế giới nghệ thuật của KimLân chủ yếu tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông

dân “Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, in trong tập “Con chó xấu xí”.

- Kết thúc hai tác phẩm là hai chi tiết nghệ thuật đặc sắc.

2 Cảm nhận về giá trị nội dung và nghệ thuật của hai chi tiết:

a Chi tiết cuối trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ’’ của Tô Hoài:

Học sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau, nhưng cần làm nổi bậtcác ý chính sau:

- Thuật dựng lại chi tiết: Nằm ở phần cuối đoạn trích; trước tình huống A Phủ bịtrói đứng, đang giữa ranh giới mỏng manh của sự sống và cái chết, Mị đã rútcon dao nhỏ vẫn dùng để cắt lúa, cắt sợi dây mây, cởi trói cho A Phủ, rồi “haingười lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi”

- Ý nghĩa nội dung của chi tiết: Thể hiện sức sống tiềm tàng, tinh thần phảnkháng âm ỉ, quyết liệt của Mị mà lần phản kháng sau bao giờ cũng cũng quyếtliệt, mạnh mẽ hơn so với lần trước; phản ánh chân thực quy luật cuộc sống “tứcnước vỡ bờ", “có áp bức có đấu tranh ” và con đường đấu tranh đến với cáchmạng đi từ tự phát đến tự giác của Mị, cũng là con đường mà người dân TâyBăc đã đi; bộc lộ thái độ trân trọng, ngợi ca của nhà văn với khát vọng sốngmãnh liệt của Mị, tạo bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời nhân vật, đem lạigiá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc, mới mẻ cho tác phẩm

Ý nghĩa về nghệ thuật của chi tiết: Góp phần khác hoạ rõ nét nhân vật, hợp quyluật vận động và phát triển của tâm lí, tính cách; tạo sự vận động cùa côt truyệntheo lôi kết thúc “có hậu” thường thấy cùa văn học cách mạng sáng tác theocảm hứng lãng mạn đương thời

b Chi tiết cuối truyện ngẳn “ Vợ nhặt ” của Kim Lân:

Học sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau, nhưng cần làm nổi bậtđược các ý chính sau:

Trang 11

- Thuật dựng lại chi tiết: Xuất hiện ở phần cuối tác phẩm “Vợ nhặt” của KimLân, trong tình huống sau bữa cơm đón “nàng dâu mới” của bà cụ Tứ, nghetiếng trống thúc thuế ở đình làng, người vợ nhặt hết sức ngạc nhiên nói với mẹcon bà cụ Tứ: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóngthuế nữa dâu Người ta còn phá cả kho thóc Nhật, chia cho người đói nữa đấy”,trong óc Tràng hơn một lần thấy “đám người đói và lá cờ đó bay phấp phới”.

- Ý nghĩa nội dung của chi tiết: Gợi tả không khí sục sôi của cách mạng ViệtNam thời kì tiền khởi nghĩa (phong trào phá kho thóc Nhật chia cho dânnghèo); hé mở với người đọc con đường mà mẹ con bà cụ Tứ sẽ đi theo, thểhiện khát vọng sống mãnh liệt và niềm tin tươi sáng vào tương lai của ngườinông dân; gửi tới người đọc bức thông điệp: chỉ có cách mạng mới có thể giúpngười nông dân thoát khỏi cái đói, cái nghèo, thể hiện khát vọng muốn đổi đờicho họ của Kim Lân, đem lại giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc, mới mẻ cho Vợnhặt

- Ý nghĩa về nghệ thuật của chi tiết: Góp khắc hoạ tính cách, tâm lí nhân vật, tạo

ra lối kết thúc “có hậu”, thể hiện cảm hứng lãng mạn, niềm tin vào tương laitươi sáng của nhà văn

c Chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của hai chi tiết để thấy được vẻ đẹp riêng của mỗi chi tiết.

Học sinh có thể có những cảm nhận và diễn đạt khác nhưng phải hợp lí, có sứcthuyết phục, làm nổi bật được:

- Nét tương đồng: Cả hai chi tiết đều góp phần khắc họa tính cách nhân vật, biểuhiện tình cảm yêu thương, trân trọng của nhà văn với những giá trị phẩm chất,những khát vọng chính đáng cùa con người, tạo nên những lối kết thúc “cóhậu”, và giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của các tác phẩm và thểhiện kì công tìm tòi, sáng tạo của người nghệ sĩ trong việc xây dựng những “chitiết nhỏ làm nên nhà văn lớn ” (Goor-ki)

- Sự khác biệt: Kết thúc truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân mới chỉ hé mở tương lai

tươi sáng cho mẹ con bà cụ Tứ Còn kết thúc đoạn trích Vợ chồng A Phủ, saukhi và “hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi”cuộc đời Mị và APhủ đã sang trang Họ đã hoàn toàn được giải phóng khỏi kiếp dâu gạt nợ nhàthống lí, xây dựng cuộc sống mới ở Phiềng Sa và tham gia phong trào cáchmạng chung của dân tộc

3 Đánh giá:

- Hai chi tiết kết thúc hai tác phẩm là những chi tiết đặc sắc, không chỉ thể hiệntài năng mà còn cả tấm lòng của hai tác giả Tô Hoài và Kim Lân xứng đáng lànhững cây bút tài hoa của nền văn học Việt Nam

Đề 2: Cảm nhận của anh/chị về 2 đoạn văn sau:

(1) Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi Bao người có chồng cũng đi chơi ngày Tết Huống chi A Sử với Mị, không có lòng

Trang 12

với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ

ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa

ra Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường.

Anh ném pao, em không biết

Em không yêu, quả pao rơi rồi…

Lúc ấy, A Sử vừa ở đâu về, lại đang sửa soạn đi chơi A Sử thay áo mới, khoác thêm hai vòng bạc vào cổ rồi bịt cái khăn trắng lên đầu Có khi nó đi mấy ngày mấy đêm Nó còn muốn rình bắt mấy người con gái nữa về làm vợ Cũng chẳng bao giờ Mị nói gì.

Bây giờ Mị cũng không nói Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo.Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi Mị lại quấn tóc Mị lấy cái váy hoa vắt ở trong vách (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

(2) Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những bụi cỏ mọc nham nhở Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dư phần tu sửa lại căn nhà.

(Vợ nhặt – Kim Lân, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

Hướng dẫn cụ thể

1 Giới về tác giả, tác phẩm và chi tiết cần cảm nhận :

- Tô Hoài là cây đại thụ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam Ông đã để lại

cho đời một sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặc sắc về nghệ thuật "Vợ chồng A Phủ" là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại của ta nói chung

- Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam Ông là một cây bút viết truyện ngắn tài hoa Thế giới nghệ thuật của Kim Lân chủ yếu tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân

“Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, in trong tập

“Con chó xấu xí”

- Hai đoạn văn trên miêu tả những thay đổi trong tâm hồn của các nhân vật

2 Cảm nhận về hai đoạn văn trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật

a Đoạn văn trong “Vợ chồng A Phủ” – Tô Hoài:

Trang 13

- Tâm trạng, hành động của Mị:

+ “Mị ngồi xuống giường Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước” -> Mị không còn giống tảng

đá như trước, tâm hồn Mị đã có những cảm xúc

+ Mị nhớ về quá khứ tươi đẹp và cảm thấy vui

+ Mị ý thức mình còn trẻ cũng là cô hiểu rõ mình có quyền được hưởng hạnh phúc lứa đôi

+ Nhưng hiện thực đen tối đối lập với quá khứ tươi đẹp, mơ ước về hạnh phúc khó trở thành sự thật Mị lại muốn chết “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này,Mị sẽ ăn cho chết ngay,chứ không buồn nhớ lại nữa” Mị ý thức được quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của mình đã bị tước đoạt Mị đang sống trong hoàn cảnh bi thảm mà cô khó có thể thoát ra được Ý nghĩ về cái chết lúc này có thể được coi như một hành động phản kháng để lên tiếng đòi quyền được sống, được hạnh phúc

+ “Mị đến góc nhà,lấy ống mỡ,xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”

-> Hành động của sự thức tỉnh Mị thắp đèn là thắp lên ánh sáng để xua tan bóngtối đang bao phủ căn buồng mình, cuộc đời mình, là làm cho khát vọng về hạnh phúc của mình sớm trở thành hiện thực Có thể nói hành động Mị thắp đèn là một bước chuyển quan trọng đánh dấu sự thức tỉnh trong tâm hồn Mị Cô đang thắp lên ánh sáng của niềm tin, hi vọng

+ “Mị lại quấn tóc Mị lấy cái váy hoa vắt ở trong vách” -> thiên tính nữ trở về khi con người ta khao khát tình yêu, khao khát hạnh phúc

=> Dù tuyệt vọng, dù hành động và khao khát của Mị bị chặn đứng bởi bàn tay độc ác, thô bạo của A Sử nhưng những tâm trạng, hành động đó đã cho thấy sự hồi sinh, sự thức tỉnh mạnh mẽ của Mị

* Nghệ thuật:

- Diễn tả thành công diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật

- Nghệ thuật trần thuật hấp dẫn

- Sáng tạo được chi tiết đặc sắc: tiếng sáo

b Đoạn văn trong “Vợ nhặt” – Kim Lân:

* Nội dung:

- Tình huống: Tràng có vợ theo không về nhà sau mấy câu bông đùa ngoài chợ Sáng sớm hôm sau, tỉnh dậy, hắn thấy mình đã có 1 gia đình đầm ấm

- Tâm trạng của Tràng trong buổi sáng đầu tiên khi có vợ:

+ Tràng trông thấy những thay đổi khác lạ ở ngôi nhà của mình, thay đổi ở người mẹ và cả người vợ Nạn đói khủng khiếp khiến Tràng quên mất những viêc anh ta phải làm và khiến cuộc sống của anh trở nên tạm bợ, ngôi nhà trở nên trống trải Nay Tràng đã có một gia đình và tổ ấm Mẹ và vợ Tràng đang dọn dẹp, sửa sang lại ngôi nhà

+ Với người khác, cảnh tượng ấy không có gì đặc biệt nhưng với Tràng đó là hình ảnh của cuộc sống gia đình, là thứ mà anh ta tưởng chẳng bao giờ có được.Bởi vậy nên tiếng chổi kêu sàn sạt trên mặt đất cũng đủ làm cho Tràng thấm thía và cảm động

Trang 14

+ Từ khi có gia đình là từ khi Tràng được sống trong những cảm xúc rất con người, ý thức được trách nhiệm, bổn phận của mình Hắn nghĩ đến tương lai sáng sủa, không còn bế tắc.

* Nghệ thuật:

- Am hiểu sâu sắc đời sống tâm lí nhân vật và diễn tả nó một cách sâu sắc

- Giọng kể đậm chất trữ tình nhưng không chua xót, cay đắng mà đôn hậu, thấp thoáng đâu đó sau câu chữ là nụ cười hóm hỉnh

c Điểm tương đồng và khác biệt:

* Điểm tương đồng:

- Hai đoạn văn đều khắc họa những chuyển biến mới mẻ trong tâm trạng của hainhân vật mà ngọn nguồn xuất phát từ khao khát tình yêu, khao khát cuộc sống lứa đôi hạnh phúc

- Kết thúc hai đoạn văn là những dấu hiệu đáng mừng, có khả năng mở ra tươnglai tươi sáng cho nhân vật

- Các đoạn văn đều bộc lộ tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của các tác giả

Hướng dẫn cụ thể

1 Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh

Giới thiệu khái quát về hai nhân vật trong hai tác phẩm

- Kim Lân là nhà văn chuyên viết về nông thôn và cuộc sống người dân quê, có

sở trường về truyện ngắn Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc, viết về tình huống

"nhặt vợ" độc đáo, qua đó thể hiện niềm tin mãnh liệt vào phẩm chất tốt đẹp củanhững con người bình dị trong nạn đói thê thảm

- Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu thời chống Mĩ, cũng là cây bút tiên phong thời đổi mới Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn xuất sắc ở thời kì sau,viết về lần giáp mặt của một nghệ sĩ với cuộc sống đầy nghịch lí của một gia đình hàng chài, qua đó thể hiện lòng xót thương, nỗi lo âu đối với con người và những trăn trở về trách nhiệm của người nghệ sĩ

2 Cảm nhận vẻ đẹp của từng nhân vật

a Vẻ đẹp khuất lấp của người Vợ nhặt

+ Về cảnh ngộ, xuất hiện trong tác phẩm:

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w