1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phương pháp làm bài văn nghị luận về một vấn đề của tác phẩm qua hai đoạn trích trong một tác phẩm văn xuôi

25 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 212 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA IV - * ---SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM QUA HAI ĐOẠN TRÍCH TRONG MỘT TÁC PHẨM

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA IV

- *

-SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM QUA HAI ĐOẠN TRÍCH TRONG MỘT TÁC PHẨM VĂN XUÔI ( THỂ LOẠI VĂN

XUÔI) THEO HƯỚNG ĐỀ THI THPTQG

Người thực hiện: Lê Thị Hải Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THPT Hoằng Hóa IV

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn

THANH HOÁ, NĂM 2019

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

1 Mở đầu ……… ……….……… …1

1.1 Lí do chọn đề tài ……….1

1.2 Mục đích nghiên cứu ……….………… … …….2

1.3 Đối tượng nghiên cứu ……… ……… 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu……… ………3

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm ……… …… ….………3

2.1 Cơ sở lí luận ……… ……….……4

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm …………5

2.3 Sáng kiến kinh nghiệm và những giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề ……….……….6

2.3.1 Đối với khâu dạy- học……….………6

2.3.2 Đối với khâu ra đề, kiểm tra, đánh giá ………7

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm ….………… ……… ……….13

3 Kết luận, kiến nghị.……… ……… ….14

3.1 Kết luận ……….……14

3.2 Kiến nghị ……… ……… 14

Tài liệu tham khảo ……….……….……… 15

Trang 3

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài

Cái khó của người dạy văn là làm thế nào để học sinh chiếm lĩnh đượctrọn vẹn kiến thức được truyền tải trong văn bản Cái khó nhất của ngườihọc văn là làm thế nào để biến kiến thức mà thầy cô truyền đạt thành tri thứccủa bản thân Tất cả gói trọn trong hai chữ “ phương pháp” Anh không cóphương pháp, tất nhiên việc khai thác và chiếm lĩnh tri thức sẽ là vô cùngkhó, vậy phải tìm ra phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với yêu cầucủa từng môn học Muốn đạt được điều đó, người giáo viên cần căn cứ vàomục đích yêu cầu của bộ môn để tìm tòi phương pháp tối ưu nhất, đáp ứngđích học tập và thi cử cho phù hợp với bối cảnh xã hội hiện nay

Trong nhiều năm trước, các đề thi văn của chúng ta còn khá khô cứng,những nhân vật và vấn đề cũng như yêu cầu đặt ra trong đề thì thường trùnglặp nhau quá nhiều Việc chuyển trọng tâm từ truyền thụ kiến thức sang pháttriển năng lực sẽ làm thay đổi cách dạy và học, thay đổi các chuẩn đánh giákết quả học tập Khi ấy, các bài văn trong sách giáo khoa chỉ chủ yếu làphương tiện để hình thành năng lực văn cho học sinh Dạy, học và kiểm tra,đánh giá là những khâu liên hoàn có quan hệ chặt chẽ với nhau trong nhàtrường Cố nhiên, kết quả của việc học tập chỉ được đánh giá chính xác vàtoàn diện trong việc vận dụng vào thực tiễn, khi người học vào đời, nhưngtrong nhà trường thì kiểm tra, thi cử vẫn là cách đánh giá quan trọng, thậmchí có khi còn là duy nhất Thông thường thì kiểm tra, thi cử phải phù hợpvới nội dung và cách thức dạy, học và yêu cầu cần đạt được của chươngtrình Nhưng trong thực tế ở nước ta, lại có điều tưởng như nghịch lý mà đãthành quy luật: thi thế nào sẽ dạy và học thế ấy Vì thế, muốn thay đổi cáchdạy và học ngữ văn, theo tôi cần tác động vào khâu then chốt là thay đổicách thi, đề thi

Những năm trước đây, những bộ đề thi và hướng dẫn làm bài của cácmôn học có thi đại học, được biên soạn như một tài liệu chính thức, theo chủtrương của Bộ Giáo dục và Đào tạo lúc ấy Phải nói là bộ đề thi môn vănđược biên soạn khá công phu, đã có tác dụng định hướng rất cơ bản cho việcdạy và học môn văn ở lớp 11 và 12 Từ người dạy đến người học, rồi người

ra đề thi, các nhà quản lý giáo dục đều hiểu là nội dung và yêu cầu của bàithi môn văn là nằm trong bộ đề ấy Thậm chí, trong một số năm đầu, BộGiáo dục và Đào tạo còn khuyến khích các trường ra đề theo cách rút thămngẫu nhiên các câu trong bộ đề thi Và thế là, ngay lập tức các cuốn sách bàivăn mẫu được biên soạn và tung ra thị trường, bán rất chạy bởi nó đáp ứngmột yêu cầu mang tính thực dụng của người đi thi Những năm gần đây, bộ

đề thi đã không còn được coi là tài liệu chính thức nữa Việc ra đề cũng có

Trang 4

một số cải tiến, ví như đề thi chung cho toàn quốc, tăng thêm số lượng câu

từ hai lên ba câu v.v Nhưng tất cả những thay đổi đó không mang ý nghĩa

cơ bản

Mặt khác, tất cả mọi người - từ thầy đến trò đến nhà quản lý giáo dục,

từ phụ huynh học sinh đến các cơ quan ngôn luận đều quan niệm rằng đềthi môn văn nhất thiết chỉ có thể nằm trong các văn bản ở sách giáo khoa.Không một ai, không một trường nào lại dám đưa vào đề thi một bài văn haythậm chí chỉ một đoạn thơ không có trong sách giáo khoa, vì điều đó bị coi

là ở ngoài chương trình Nhưng hiểu như thế nào là nằm trong chương trìnhđối với môn ngữ văn? Có phải là đề thi chỉ được hỏi về các văn bản đượchọc chính (không tính phần đọc thêm trong sách giáo khoa)? Chính từ cáchhiểu như thế, cách ra đề như thế, đã dẫn đến cách học thi như lâu nay Nghĩa

là, thí sinh chỉ cần thuộc cho kỹ những mẫu phân tích, bình giảng về các tácphẩm, hay về một đoạn trong tác phẩm ấy, đã được cung cấp trong bài giảngcủa thầy, trong các sách văn mẫu Thậm chí, có trường hợp một bài thi đượcđiểm 10, sau đó đã bị phát hiện là giống hệt với một bài mẫu nào đó trongsách luyện thi Lối học tầm chương, trích cú, cử tử, không coi trọng tínhthực tiễn, thực nghiệp vốn là một nhược điểm nặng nề của giáo dục ở nước

ta, tồn tại dai dẳng hàng nghìn năm, nay vẫn tiếp tục theo cách ấy ở trongviệc học và thi môn văn Và như thế, môn văn ngày càng xa rời đời sống,không coi trọng việc phát triển năng lực của người học, còn các kỳ thi thì lạichủ yếu đánh giá khả năng ghi nhớ, thuộc bài, viết lại theo mẫu của thí sinh.Cách dạy học và thi như thế tất sẽ dẫn đến tình trạng chán học văn của sốđông học sinh Theo TS Nguyễn Văn Long, cần có ngay những sự thay đổitrong cách ra đề, trong việc đánh giá kết quả học tập về môn học này, đó làđiểm then chốt sẽ tác động lại toàn bộ hệ thống, từ dạy, học, đến biên soạnsách giáo khoa, chương trình môn học

Trong năm học 2019- 2019 , đề thi THPTQG sẽ chuyển hướng theodạng tìm những ngữ liệu văn học, những khía cạnh của một nhân vật haytình tiết trong chính một tác phẩm qua hai đoạn trích trong một tác phẩmvăn xuôi , hoặc 2 đoạn thơ trong tác phẩm thơ ( Đề minh họa lần 1, lần 2của Bộ Giáo Dục ) Đây là một kiểu bài mới khiến nhiều giáo viên và họcsinh còn lúng túng trong việc xác định đề và các bước làm bài , do đó đãảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng làm bài của học sinh cũng như quá trìnhđịnh hướng ôn tập cho học sinh từ phía giáo viên

Từ lý do trên thôi thúc tôi chọn đề tài: Phương pháp làm bài văn nghị

luận về một vấn đề của tác phẩm qua hai đoạn trích trong một tác phẩm văn xuôi” (thể loại văn xuôi) theo hướng đề thi THPTQG năm 2019.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Trang 5

Với đề tài này mực đích của tôi là trao đổi cùng đồng nghiệp và cungcấp cho học sinh Phương pháp làm bài văn nghị luận về một vấn đề của tác phẩm qua hai đoạn trích trong một tác phẩm văn xuôi (thể loại văn

xuôi) theo hướng đề thi THPTQG năm 2019 hi vọng phần nào góp sức cùngcác đồng nghiệp, đưa ra những giải pháp thiết thực nhất nhằm nâng cao hiệuquả dạy-học và thi cử hiện nay

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đây là dạng bài khá mới mẻ đối với học sinh nhất là học sinh lớp

12 năm nay, bởi vì các em đã quen với các dạng đề của những năm học

trước Vì vậy, trong đề tài này tôi sẽ tập trung trình bày: Phương pháp

làm bài văn nghị luận về một vấn đề của tác phẩm qua hai đoạn trích trong một tác phẩm văn xuôi” (thể loại văn xuôi) theo hướng đề thi

THPTQG năm 2019

1.4 phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lí thuyết : Đọc và nghiên cứu các tài liệu về môn Ngữ Văn Các văn bản học trong chương trình lớp 12 Các thao tác lập luận, hìnhthức nghị luận trong phân môn làm văn

Nghiên cứu thực tiễn: Thực hiện hướng dẫn học sinh thực hành một

số đề trong các tác phẩm khác nhau.So sánh, đối chiếu kết quả giảng dạy ởcác lớp khác Đánh giá kết quả, mức độ tiến bộ và kết quả bài thi của họcsinh qua các kì thi học kì, thi thử THPTQG và các bài thực hành

1.5 Những điểm mới của SKKN

2 Nội dung

2.1 Cơ sở lí luận.

Những năm trước, câu hỏi nghị luận văn học thường thể hiện sự tổng hợpkiến thức, biết vận dụng so sánh, tìm nét tương đồng và khác biệt ở 2 tácphẩm Trong năm nay, đề thi mẫu là tìm những ngữ liệu văn học, những khíacạnh của một nhân vật hay tình tiết trong chính một tác phẩm Học sinh gầnnhư không thể học vẹt, hay chép y nguyên một bài văn mẫu Đánh giá cácdạng câu hỏi này là phát huy tính sáng tạo của học sinh, theo đó các em cầnphải nhớ dẫn chứng quan trọng , dùng dẫn chứng sáng tạo Tuy nhiên dạng

đề thi này đối với hs yếu, trung bình, các em sẽ gặp rất nhiều khăn khi làmbài Cụ thể là các em thường viết sơ sài, hoặc không sát với yêu cầu của đềbài

Dạng đề nghị luận về một vấn đề của tác phẩm qua hai đoạn trích

trong một tác phẩm văn xuôi” ( Đề minh họa lần 1, lần 2 của Bộ Giáo Dục )

là một kiểu bài mới, chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong

Trang 6

chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông, do đó đã ảnh hưởng ít nhiềuđến chất lượng làm bài của học sinh cũng như quá trình định hướng ôn tậpcho học sinh từ phía giáo viên Góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, bàiviết này xin đưa ra một số gợi ý để cùng các em khắc phục khó khăn, từngbước chinh phục tri thức

Dạng câu hỏi thường là cho hai đoạn trích trong một tác phẩm vănxuôi Từ đó yêu cầu người viết bàn luận về một khía cạnh của nhân vật haytình tiết trong tác phẩm đó Cần phải hiểu :

Đoạn trích trong tác phẩm văn xuôi bao giờ cũng nằm trong chỉnhthể của một tác phẩm, hể hiện một khía cạnh nội dung, nghệ thuật của tácphẩm Những đoạn trích được lựa chọn ra đề bao giờ cũng là những đoạntiêu biểu tập trung thể hiện chủ đề của tác phẩm, tư tưởng của tác giả Nghịluận về 2 đoạn trích trong tác phẩm văn xuôi có thể là yêu cầu về giá trị nộidung, giá trị nghệ thuật, nhân vật hoặc cũng có thể là tổng hợp của các khíacạnh ấy

Dạng câu hỏi thường là : Cho hai đoạn trích trong một tác phẩmvăn xuôi Từ đó yêu cầu người viết bàn luận về một khía cạnh của nhân vậthay tình tiết trong tác phẩm đó Nhưng học sinh cần phải tinh ý nhận ra câuhỏi chỉ nằm trọn trong 1 tác phẩm nhưng vẫn ẩn chứa sự so sánh trong nộitại Vì thế, cần phải hiểu về thao tác so sánh

Khái niệm so sánh văn học cần phải được hiểu theo ba lớp nghĩa khácnhau Thứ nhất, so sánh văn học là “một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh chocâu văn” Thứ hai, nó được xem như một thao tác lập luận cạnh các thao táclập luận như: phân tích, bác bỏ, bình luận đã được đưa vào sách giáo khoaNgữ văn 11 Thứ ba, nó được xem như “một phương pháp, một cách thứctrình bày khi viết bài nghị luận”, tức là như một kiểu bài nghị luận cạnh cáckiểu bài nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm thơ; nghị luận về một đoạntrích, tác phẩm văn xuôi… ở sách giáo khoa Ngữ văn 12 Tuy nhiên, so sánhvăn học như một kiểu bài nghị luận văn học lại chưa được cụ thể bằng mộtbài học độc lập Vì vậy, từ việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu bài, mụcđích, yêu cầu, đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Trong những năm gần đây, môn văn thực sự không còn là niềm yêu thíchvới học sinh Đa số các em không còn hứng thú học và rất ngại học văn.Chât lượng học ngày càng giảm sút Mặt khác, trong xu thế đổi mới dạy,học, kiểm tra đánh giá đối với các môn học nói chung, môn Ngữ văn nóiriêng, tôi nhận thấy, hầu như với dạng bài còn mới mẻ, học sinh vẫn cònchưa có được định hướng đúng đắn khi triển khai bài viết Việc lựa chọndung lượng và nội dung kiến thức như thế nào trong bài viết đối với các emcũng là một vấn đề đáng được quan tâm và cần được định hướng cụ thể Mặt

Trang 7

khác ,với dạng đề mới này, hầu hết học sinh tỏ ra lúng túng, không biết cáchgiải quyết vấn đề đặt ra trong đề bài như thế nào, đặc biệt đối với hs yếu,trung bình, các em sẽ gặp rất nhiều khăn khi làm bài Cụ thể là các emthường viết sơ sài, hoặc không đáp ứng được với yêu cầu của đề bài.

Điều này được thể hiện thông qua kết quả khảo sát trước khi thực hiện đềtài:

Khối Sĩsố

kết quả bài kiểm tra môn ngữ văn

Số hs đạt điểm8,0 trở lên

Số hs đạtđiểm 6,5 ->

7,9

Số hs đạtđiểm5-> dưới 6,5

Số hs đạt dưới4,5

2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện

2.3.1 Đối với khâu dạy – học

Theo truyền thống dạy, học văn lâu nay, đới với các văn bản, giáoviên thướng hướng dẫn học sinh cảm nhận một cách chung nhất các giá trịlớn trên hai phương diện: nội dung và nghệ thuật Hiện nay, để đáp ứngđược những yêu cầu về kiến thức đối với dạng đề mới , cách dạy “bình quânchủ nghĩa” như vậy, theo tôi, không còn hợp lí nữa.Thêm vào đó, nếu giảngvăn mà chỉ chú trọng vào dung lượng kiến thức mang tính đại khái như vậy,

vô tình sẽ làm mất đi tính chất văn chương của một người giảng văn Vì thế,theo ý kiến của cá nhân tôi, đối với khâu dạy - học văn, cần có sự thay đổi

ít nhiều

Bản thân tôi nhận thấy nên có sự thay đổi trong một số vấn đề sau:

(1) Đảm bảo về 2 phương diện:

Trang 8

Một là những kiến thức cơ bản, trọng tâm, thiết yếu nhất học sinh cần

nắm được đối với văn bản cả về nội dung và hình thức nghệ thuật

Hai là nói về những điểm mấu chốt, điểm nhấn, có ý nghĩa như

những “nhãn tự” trong một bài thơ Trước bất kì một tác phẩm văn học nào,người giáo viên cũng cần tích cực tìm hiểu,xem xét, cảm nhận trên nhiềuphương diện Quan trọng nhất là phải nhìn ra những “điểm sáng” của vănbản đó, từ đó có định hướng giảng dạy đối với học sinh

Đối với các tác phẩm văn xuôi trong chương trình THPT hiện nay, từkinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi nhận thấy cần tập trung xem xéttrên một vài điểm như: tình huống truyện, nghệ thuật giới thiệu nhân vật,những đặc sắc trong phần mở đầu tác phẩm, chi tiết nghệ thuật liên quan đến

sự phát triển có tính chất bước ngoặt của nhân vật…

(2) Phát huy tích cực tính chủ động sáng tạo của học sinh

Vấn đề này đã không còn xa lạ gì đối với phương pháp dạy học trongnhững năm gần đây trong mục tiêu xây dựng nền giáo dục mới, phát huytính chủ động tích cực của người dạy.Nhưng trên thực tế, đối với bộ mônngữ văn nói riêng, việc thực hiện không hề đơn giản Vì thế, lâu nay, hầunhư đó vẫn chỉ là khẩu hiệu để phấn đấu mà rất ít khi trở thành thực tế giảngdạy Nguyên nhân của hiện trạng này xuất phát từ cả 2 phía Về phía ngườidạy, sở dĩ chưa có điều kiện thực hiện tốt phương pháp dạy học này là bởimột bộ phận còn quá quen thuộc với phương pháp cũ, chưa thể thay đổi; một

bộ phận chưa tìm thấy hướng thay đổi cho phù hợp Phía học sinh: đa phầnchưa thể tiếp cận ngay với phương pháp mới, vẫn tâm lí quen ỷ lại vào giáoviên; cũng có bộ phận lười học, không chấp nhận sự thay đổi hoặc không có

ý thức học bộ môn…Vì thế, để thực hiện được biện pháp này, đòi hỏi sự nỗlực cố gắng từ cả hai phía

2.3.2 Đối với khâu ra đề, kiểm tra, đánh giá:

Cần đổi mới hình thức và nội dung kiểm tra đánh giá học sinh, tránhtình trạng học tủ, học sơ sài mà vẫn có điểm Nội dung kiểm tra đánh giácấn tích cực hướng vào phất triển năng lực cảm thụ văn bản một cách độclập, tập trung vào nhận thức được các vấn đề mấu chốt, có ý nghĩa xâu chuỗi

ở từng văn bản

Đối với dạng đề nghị luận về một vấn đề qua hai đoạn trích trong mộttác phẩm văn xuôi, tôi mạnh dạn giới thiệu một số đề và đáp án tham khảosau: (gồm các đề sưu tầm và đề của cá nhân)

2.3.2.1 Dàn ý khái quát đối với dạng bài nghị luận về một vấn đề của tác phảm qua hai đoạn trích trong một tác phẩm văn xuôi

Trang 9

Vì là một bài nghị luận nên bố cục một bài văn nghị luận về một vấn

đề của tác phẩm qua hai đoạn trích trong một tác phẩm văn xuôi cũng có baphần như một bài nghị luận thông thường Tuy nhiên chức năng cụ thể củatừng phần lại có những điểm khác biệt so với kiểu bài nghị luận khác

Dàn ý khái quát của kiểu bài này như sau

Phần mở bài :

- Giới thiệu khái quát về tác giả tác phẩm

- Giới thiệu vấn đề qua hai đoạn trích

Thân bài:

Bước 1 Khái quát về tác phẩm, về vấn đề cần bàn luận

Bước 2 Làm rõ vấn đề qua 2 đoạn trích

Luận điểm 1 Đoạn trích thứ nhất (vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luậnnhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)

* Khái quát vấn đề trong đoạn trích

- Dùng các luận cứ để làm rõ luận điểm

* Đánh giá vấn đề qua đoạn trích

Luận điểm 2 Đoạn trích thứ hai ( bước này thực hiện các thao tác như phầntrên)

Bước 3 So sánh : Rút ra nét tương đồng và khác biệt giữa hai đoạn tríchtrên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật (bước này cần vậndụng nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích vàthao tác lập luận so sánh)

Phần kết bài:

-Đánh giá vấn đề qua hai đoạn văn

- Nêu những cảm nghĩ của bản thân

2.3.2.2 Một số dạng đề bài và đáp án

Đề 1: Trong tùy bút người lái đò Sông Đà Nguyễn Tuân đã khám phá được “chất vàng mười” của thiên nhiên Tây Bắc đặc biệt qua 2 đoạn văn:

“Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có thác đá mà nó còn là cảnh

đá bờ sông , dựng vách thành , mặt sông chỗ ấy chỉ đúng lúc ngọ mới có mặt trời Có chỗ vách đá chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ có lầ vọt từ bờ này sang bờ kia Ngồi trong khoang dò khoảng ấy mùa hè cũng thấy lạnh, cảm thấy như mình đang đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy vừa tắt phụt đền điện.

Lại như quãng mặt ghềnh Hát Lóong, dài hàng ngàn cây số nước xô

đá, đá xô sóng, sóng xô gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt

Trang 10

bất cứ ngườ lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ bị lật ngữ bùng thuyền ra.

Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La.Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu Nước ở đây thở và kêu cửa cống cái bị sặc Trên mặt cái hút xoáy tít đáy cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn, không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, Thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là o tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực.”

…“sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc

ẩn hiện trong mây trời tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói Mèo đót nương xuân.Tôi đã say sưa nhìn làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, Tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước sông Đà Mùa xuân dòng sông ngọc bích, chứ nước SĐ không xanh màu xanh canh hến như sông Gâm, sông Lô Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ

ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng sông Đà đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực tây vào mà gọi bằng cái tên Tây lếu láo rồi cứ thế mà phiết vào bản đồ lai chữ

…Đã có lần tôi nhìn sông Đà như một cố nhân.Chuyến ấy đi rừng ở núi cũng đã howim lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng mãi bám gót anh lien lạc quên mất mình sắp đổ ra sông Đà Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy Tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường Thi “ Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” Bờ Sông đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn, bươm bướm trên sông Đà Chao ôi, trông con sông vui như thấy nắng giòn tan sau

kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng….nó đắm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đáy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.”

(Trích” Người lái đò Sông Đà, SGK ngữ văn12, tập 1 NXB GD) Cảm nhận của anh/ chị về vẻ đẹp của sông Đà qua 2 đoạn văn trên Từ đó nhận xét về nghệ thuật của tùy bút

Mục đích và yêu cầu của kiểu bài này là người viết trên cơ sở cảmnhận được vẻ đẹp của hình tượng nghệ thật qua hai đoạn văn, so sánh đểthấy được sự khác nhau của hai đoạn văn đó trên cả bình diện nội dung và

Trang 11

nghệ thuật để từ đó thấy được những phát hiện và cảm nhận khác nhau vềmột đối tượng, cách thể hiệnn và tài năng nghệ thuật của tác giả.

2 Lần lượt phân tích , cảm nhận về Sông Đà qua 2 đoạn văn

2 1 Làm rõ hình tượng sông Đà trong văn thứ nhất :

- Sông Đà hùng vĩ , hung bạo dữ dội

+Cảnh đá bờ sông dựng vách thành và độ hẹp của lòng sông(dẫn chứng)+Khung cảnh dữ dội của sông Đà ở quãng mặt ghềnh Hát Loong…(dẫnchứng)

+ Những cái hút nước chết người (dẫn chứng)

- Khái quát sự hung bạo ,dữ dội của Sông Đà qua đoạn văn và đặc sắc nghệthuật

2 2 Làm rõ hình tượng sông Đà trong văn thứ hai

- Sông Đà thơ mộng, trữ tình

+Từ trên cao nhìn xuống Nguyễn Tuân đã có những khám phá thú vị, bấtngờ về hình dáng và sắc nước sông Đà Dáng sông mềm mại, kiều diễm sắcnước sông Đà thay đổi theo mùa (dẫn chứng)

+ Từ điểm nhìn của người đi rừng lâu ngày bắt gặp sông Đà lại thấydòng nước ánh lên màu nắng tháng ba Đường Thi, mang lại cảm giác đằmđằm ấm ấm như một cố nhân,một tình nhân chưa quen biết cảm giác ấm áp,gần gũi

- Khái quá sông Đà thơ mộng, trữ tình, và làm rõ nét đặc sắc nghệthuật trong đoạn văn

3 So sánh : Nét tương đồng và khác biệt giữa hai đoạn văn trên cảhai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật :

- Tương đồng Cả 2 đều thể hiện được vẻ đẹp của thiên nhiên TâyBắc qua sông Đà, vẻ đẹp ấy được viết nên bởi cảm hứng ngợi ca, tự hàocủa tác giả về dòng sông đất nước

+ Nghệ thuật cả 2 đều cho thấy sự tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuântrong việc vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực, trí trưởng tượng, ngôn từlinh hoạt, phối hợp các biện pháp tu từ…

Trang 12

- Khác biệt : Ở đoạn thứ nhất là vẻ đẹp hùng hiểm, đoạn văn thứhai

là vẻ đẹp mềm mại, thơ mộng, trữ tình

+ Nghệ thuật: Đoạn 1: ngôn ngữ góc cạnh, gân guốc, nét bút chắckhỏe như những nhát khắc kì vĩ Đoạn 2 ngôn ngữ mềm mại, tinh tế, tàihoa

4 Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm qua 2 đoạn trích

- Rút ra đặc sắc nghệ thuật của 2 đoạn trích từ đó khẳng định nét đặcsắc nghệ thuật đó tiêu biểu cho toàn bộ tác phẩm

+ Vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau để làm nổi bậthình tượng sông Đà

+Quan sát tinh tế, liên tưởng, tưởng tượng phong phú, táo bạo

+Ngôn ngữ, phối kết hợp nhiều biện pháp tu từ

Kết bài:

- Khái quát vẻ đẹp của sông Đà Tư tưởng của nhà văn và đặc sắc nghệthuật

Đề 2 : Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, Nhà văn Tô Hoài đã hai

lần miêu tả sự trỗi dậy của sức sống tiềm tàng trong nhân vật Mị

“Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuồng mờ

mờ trăng trắng Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng độtnhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước Mị trẻ lắm , Mị vẫncòn trẻ Mị muốn đi chơi bao nhiêu người có chồng như Mị cũng đichơi ngày tết Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau màvẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăncho chết ngay, chứ không thèm nhớ lại nữa nhớ lại , chỉ thấy nướcmắt ứa ra, mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lơ lửng lơ bay ngoài đường

Anh ném pao, em không bắt

Em không yêu, quả pao rơi rồi ”

-“Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây A Phủ cứ thở phètừng hơi, không biết mê hay tỉnh Lần lần, đến lúc gỡ được hết dâytrói oqr người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào đượcmột tiếng “Đi ngay”…Rồi Mị cũng vụt chạy ra Trời tối lắm Nhưng

Mị vẫn băng đi Mị đuổi kịp A Phủ đã lăn, chạy, chạy xuống vớilưng dốc”

( Tô Hoài, ngữ văn 12, Tập 1, NXB giáo dục, 2015)

Anh, chị hãy phân tích nhân vật Mị qua 2 lần miêu tả trên, từ đó hãynhận xét về sức sống tiềm tàng của nhân vật này

Kiểu bài này được cụ thể hóa bằng một hệ thống dàn ý chi tiết sau :

a/ Yêu cầu về kĩ năng :

Sử dụng thao tác lập luận so sánh, phân tích bình luận

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w