Đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, giải quyếtvấn đề, chú trọng kiểm tra, đánh giá trong
Trang 1Nội dung
Thực trạng
Các giải pháp nâng cao hiệu quả giờ đọc - hiểu Ngữ văn theo
chủ đề truyện ngắn lãng mạn Việt Nam
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Kết luận, kiến nghị
Kết luận
Kiến nghị
111223346
1820
20 20
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục phổ thông nước ta đang chuyển từ chương trình định hướng nộidung sang tiếp cận năng lực của người học Nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc
học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh làm được cái gì và làm như thế nào qua việc học Để đạt được mục đích này, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực
và phẩm chất Đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về
kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, giải quyếtvấn đề, chú trọng kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học để có thể tác độngkịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục.[1]
Trong Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nhấn mạnh:
"Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi,kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọnggiáo dục lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống,năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức tráchnhiệm xã hội".[2]
Những năm gần đây, hệ thống giáo dục cả nước đã thực hiện công cuộcđổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạt được những kết quảbước đầu khá thành công Đây là tiền đề quan trọng để tiến tới việc dạy học vàkiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của người học Tuynhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân và qua việc đi dự giờ đồng nghiệp, tôinhận thấy rằng việc áp dụng đổi mới phương pháp dạy học để phát huy tính tíchcực, tự giác của học sinh chưa hiệu quả Các giờ dạy học vẫn còn nặng về truyềnthụ kiến thức, việc rèn luyện kĩ năng và phát triển năng lực chưa được quan tâmđúng mức Hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa thực sự khách quan, chính xáccòn nặng về tái hiện kiến thức Vì vậy, dẫn tới học sinh học vẹt, thụ động, lúngtúng khi gặp câu hỏi lắt léo, khó khăn khi giải quyết các tình huống tương tựtrong học tập và thực tiễn
Xuất phát từ chủ trương đổi mới giáo dục toàn diện, trong đó đổi mớiphương pháp dạy học là một khâu quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dụchiện nay Đồng thời, trong quá trình dạy học tôi luôn trăn trở làm thế nào để cómột giờ dạy tốt, để học sinh phát huy tối đa năng lực chủ động, sáng tạo, vậndụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết các bài tập và vận dụng vào thực tế cuộc
sống Từ đó, tôi xin đề xuất "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giờ Đọc hiểu Ngữ văn theo chủ đề truyện ngắn lãng mạn Việt Nam" - Ngữ văn 11 1.2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng các biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo chủ đề để gópphần hình thành cho học sinh những năng lực cần hướng tới của môn Ngữ văn:
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lực hợp tác
- Năng lực giao tiếp
Trang 3- Năng lực sáng tạo.
- Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ
Dạy học theo chủ đề nhằm định hướng phát triển năng lực học sinh làthực hiện đúng tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013của Ban chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giờ Đọc
- hiểu Ngữ văn theo chủ đề truyện ngắn lãng mạn Việt Nam" - Ngữ văn 11, đểđịnh hướng phát triển năng lực cho học sinh Từ đó đưa ra những cách tiếp cận
có hiệu quả đối với những văn bản cùng chủ đề trong chương trình Ngữ vănTHPT
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giờ Đọc - hiểu Ngữ văntheo chủ đề truyện ngắn lãng mạn Việt Nam" - Ngữ văn 11, tôi vận dụng một sốphương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp điều tra thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
Trang 42 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận
Dạy học theo chủ đề là hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vịkiến thức, nội dung bài học, chủ đề có sự giao thoa, tương đồng, dựa trên cơ sởcác mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặccác hợp phần của môn học đó (tức là con đường tích hợp những nội dung từ một
số đơn vị, bài học có liên hệ với nhau) làm thành nội dung trong một chủ đề có ýnghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm rakiến thức và vận dụng vào thực tiễn.[3]
Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống vàhiện đại, ở đó giáo viên không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ kiến thức màchủ yếu là hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vàogiải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa trong thực tiễn
Dạy học theo chủ đề là một mô hình mới cho hoạt động lớp học thay thếcho lớp học truyền thống (với đặc trưng là những bài học ngắn, cô lập, nhữnghoạt động lớp học mà giáo viên đóng vai trò trung tâm) bằng việc chú trọngnhững nội dung học tập có tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực, tậptrung vào học sinh và nội dung tích hợp với những vấn đề thực hành gắn liến vớithực tiễn Với mô hình này học sinh có nhiều cơ hội làm việc theo nhóm để giảiquyết những vấn đề xác thực, có hệ thống và liên quan đến nhiều kiến thức khácnhau Việc học của học sinh thực sự giá trị vì nó kết nối với thực tế và rèn luyệncho học sinh năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Dạy học theo chủ đề mục đích là định hướng phát triển năng lực, nhấn
mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức Có thể
mô tả như sau:
Trải nghiệm/
Khởi động
- Huy động vốn kiến thức, kĩnăng để tiếp nhận kiến thức,
- Tổ chức các hoạt động đọchiểu văn bản (cá nhân,nhóm )
- Tích hợp Tiếng Việt, Làmvăn
Thực hành Học sinh vận dụng kiến thức
vừa học để giải quyết nhiệm
vụ cụ thể
- Tập trung hình thành kĩnăng
- Thực hành theo tìnhhuống giả định
Ứng dụng Học sinh sử dụng kiến thức,
kĩ năng đã học để giải quyếtcác vấn đề, nhiệm vụ trongthực tế
- Học sinh đề xuất tìnhhuống mới mang tính thựctiễn
- Triển khai ở lớp, ở nhà, ở
Trang 5cộng đồng.
Bổ sung Tiếp tục mở rộng kiến thức/
kĩ năng từ các nguồn, kênhthông tin
- Tìm đọc trên sách, báo,Internet
- Tham quan thực tế
- Trao đổi với người thân.Tuy nhiên, đổi mới phương pháp dạy học không đồng nghĩa với việc loại
bỏ hoàn toàn các phương pháp dạy học truyền thống mà cần bắt đầu bằng việc
kế thừa, cải tiến và phát triển để nâng cao ưu điểm và hạn chế những nhượcđiểm của phương pháp cũ Để nâng cao hiệu quả giờ Đọc hiểu Ngữ văn theo chủ
đề, người dạy phải tiến hành linh hoạt, sáng tạo các kĩ thuật dạy học hiện đại đểđịnh hướng cho người học chủ động chiếm lĩnh kiến thức và qua đó phát triểnnăng lực
2.2 Thực trạng
2.2.1 Thuận lợi
Dạy học theo chủ đề là một phương pháp dạy học đổi mới khá hiệu quảtrong giờ Đọc hiểu văn bản để phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động củangười học, hình thành và phát triển năng lực tự học, trên cơ sở đó trau dồi cácphẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy Phương pháp dạy học này đãgóp phần đổi mới cách thức tổ chức giờ học của giáo viên, tùy theo mục tiêu,nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thíchhợp như học cá nhân, học nhóm, học trải nghiệm, học sáng tạo…đảm bảo yêucầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng caohứng thú cho người học
Nhận thức rõ ưu thế của dạy học theo chủ đề, giáo viên tích cực vận dụngcác kĩ thuật dạy học hiện đại vào quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả giờĐọc hiểu Ngữ văn theo chủ đề Bởi thực tế chương trình sách giáo khoa hiệnhành có rất nhiều văn bản được ra đời trong cùng một thời kì, một khuynhhướng sáng tác có thể tích hợp kiến thức và kĩ năng để tạo cho học sinh cái nhìn
từ tổng quát đến cụ thể đối với một chủ đề Đọc hiểu Qua đó, giáo viên địnhhướng cho học sinh những năng lực giải quyết các tình huống thực tiễn
Thực tế cho thấy hiện nay học sinh ở trường phổ thường có tâm lí ngại họcmôn Ngữ văn hoặc học đối phó, học vẹt, học trước quên sau, học nhưng không
có sự vận dụng thực tiễn…Một phần vì học môn Ngữ văn phải ghi chép nhiều,khó học, khó nhớ do người học phải kết hợp hài hòa giữa tư duy và cảm xúc đểcảm nhận hình tượng văn học Một phần vì môn Ngữ văn không phải là môn ưuthế của xã hội hiện đại dẫn đến tâm lí xem nhẹ môn học ở học sinh Như vậy,việc đổi mới phương pháp dạy học theo chủ đề sẽ giúp học sinh liên kết đượckiến thức giữa các văn bản có cùng chủ đề, có sự liên hệ tri thức, giao thoa hoặctrùng lặp phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh; giúp học sinh ghi nhớkiến thức theo hệ thống các cấp độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụngcao Từ đó, định hướng phát triển năng lực toàn diện cho học sinh
Dạy học theo chủ đề là phương pháp dạy học theo quan điểm phát triểnnăng lực, không chỉ chú ý tích cực hóa học sinh lĩnh hội tri thức mà còn chú ý
Trang 6rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống cụ thể của đờisống "Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở đểngười học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực…"[4]
2.2.2 Khó khăn
Đọc hiểu Ngữ văn theo chủ đề là một phương pháp dạy học hiệu quả để đápứng mục tiêu đổi mới chương trình sách giáo khoa cũng là đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục Phương pháp này đang được ứng dụng phổ biến trong các trườngphổ thông nhưng để thành công cần sự nỗ lực hợp tác từ hai phía là người dạy
và người học Bởi trong tư duy cũ vẫn quen với lối truyền thụ một chiều nhữngcảm nhận của giáo viên về văn bản, chưa hướng tới việc cung cấp cho học sinhcách học, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật củavăn bản Dạy học chú trọng đến nội dung tư tưởng của văn bản văn học, chútrọng đến dạy kiến thức hơn là hình thành kĩ năng
Việc vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong giờ Đọchiểu Ngữ văn đã được quan tâm, tuy nhiên vẫn mang tính khiên cưỡng, ví dụnhư: phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vào mộtvài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại vẫn dựa dẫm, ỉ lạichưa thực sự chủ động Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được tính dânchủ - mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, thói quen bình đẳng, biết đónnhận quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá nhân; phương pháp đóngvai chưa thực sự được chú trọng, nếu có thực hiện chỉ là dạng bài viết (nhập vainhân vật kể lại truyện), việc chuyển thể thành kịch bản, xử lí tình huống giảđịnh, trình bày một vấn đề chưa được quan tâm đúng mức Vì vậy học sinh ít có
cơ hội bày tỏ thái độ, chưa hứng thú với giờ học, chưa hình thành các kĩ năng vànăng lực cho người học
Trong thực tế giảng dạy, khó khăn nhất của giáo viên bộ môn chính là việcđịnh hình quy trình xây dựng và tiến hành soạn giảng một chủ đề Vì chưa cómột sự thống nhất để đưa ra hướng dẫn cụ thể cho sự tích hợp và xây dựng chủ
đề, giáo viên vừa tìm tòi vừa thử nghiệm vừa rút kinh nghiệm Đồng thời, đểtiến hành một chủ đề dạy học đòi hỏi sự chuẩn bị kĩ lưỡng từ phía người dạy vàngười học về thời gian, công sức, chủ động, sáng tạo trong hoạt động dạy và học
vì dạy học theo chủ đề phải gắn với nhiệm vụ học tập, gắn với giải quyết cácvấn đề thực tiễn nên khâu chuẩn bị phải tiến hành trước tiết dạy nhiều thời gian.Các dự án dạy học cần có kế hoạch theo dõi tiến trình thực hiện để có cơ sởkiểm tra, đánh giá năng lực học sinh ngay trong quá trình thực hiện nhiệm vụhọc tập Điều này thực sự khó khăn với dung lượng chương trình Ngữ văn hiệnhành còn nặng và dàn trải, với thói quen thụ động tiếp nhận tri thức của học sinh
và sự chủ động của giáo viên trong quá trình dạy học Trong khuôn khổ củasáng kiến kinh nghiệm, tôi muốn tập trung vào "Một số giải pháp để nâng caohiệu quả giờ Đọc hiểu Ngữ văn theo chủ đề truyện ngắn lãng mạn Việt Nam" -Ngữ văn 11 Mong muốn hình thành kĩ năng chủ động, sáng tạo trong việc tiếpthu tri thức và định hướng phát triển năng lực cho học sinh, góp phần vào côngcuộc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng
Trang 72.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả giờ Đọc - hiểu Ngữ văn theo chủ đề truyện ngắn lãng mạn Việt Nam - Ngữ văn 11
2.3.1 Đọc - hiểu chủ đề thông qua các hoạt động hình thành kiến thức, khơi dậy những tiềm năng sáng tạo
Trong phương pháp dạy học tích cực, giáo viên không giảng giải hay cungcấp kiến thức mà định hướng, khích lệ, hỗ trợ học sinh tự lực khám phá tri thức,hình thành kĩ năng Nghĩa là học sinh được đặt vào tình huống cụ thể, trực tiếpquan sát, thảo luận, phát hiện, giải quyết vấn đề đặt ra theo suy nghĩ của mình
Đó là cơ sở giúp người học phát huy sức sáng tạo
2.3.1.1 Hoạt động 1: Khởi động/ trải nghiệm/ tạo tình huống xuất phát.
Mục đích của hoạt động: giúp học sinh huy động vốn kiến thức và kĩ năng
để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức và kĩ năng mới; giúp học sinh tạo hứng thú đểbước vào bài học; giúp giáo viên tìm hiểu xem học sinh có những hiểu biết nhưthế nào về những vấn đề trong cuộc sống có liên quan đến nội dung bài học.Nội dung, hình thức khởi động:
+ Sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập: quan sát tranh, ảnh để trao đổi vớinhau về một vấn đề có liên quan đến bài học
Ví dụ như khi Đọc hiểu truyện ngắn "Chữ người tử tù" của nhà văn NguyễnTuân, giáo viên cho học sinh trải nghiệm tại các địa điểm viết thư pháp hoặc chohọc sinh xem tranh minh họa về cảnh cho chữ để tạo tâm thế hứng khởi cho bàihọc mới
Hình ảnh trải nghiệm nghệ thuật thư pháp
Trang 8Hình ảnh minh họa về cảnh cho chữ
+ Sử dụng trò chơi: trong hoạt động khởi động, sử dụng trò chơi để tạohứng thú cho học sinh trước khi vào bài mới
Ví dụ như khi Đọc hiểu chủ đề "Truyện ngắn lãng mạn", giáo viên chohọc sinh tiếp cận bài học bằng hình thức giải ô chữ để tìm chủ đề "Truyện ngắnlãng mạn"
Hệ thống câu hỏi:
1 Bút danh của Nguyễn Tường Vinh (có 8 chữ cái)
2 Truyện ngắn Thạch Lam có đặc điểm gì nổi bật? (có 15 chữ cái)
3 Tên tập truyện ngắn đầu tay của nhà văn Thạch Lam (có 9 chữ cái)
4 Không gian được nhà văn miêu tả trong "Hai đứa trẻ".( có 9 chữ cái)
5 Câu văn đặc biệt, trầm buồn, đậm chất thơ trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ".(có 13 chữ cái)
6 "Hai đứa trẻ" được in trong tập truyện ngắn nào? (có 13 chữ cái)
7 Phân loại tình huống truyện "Hai đứa trẻ".(có 16 chữ cái)
8 Nét đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn "Hai đứa trẻ".(có 9 chữ cái)
9 Tập tùy bút đặc sắc viết về các thức quà của nhà văn Thạch Lam (có 20 chữcái)
10 Bút danh của Nguyễn Tuân có nghĩa là chàng trai số một (có 8 chữ cái)
11 Một trong những đề tài tiêu biểu của Nguyễn Tuân trước Cách mạng thángTám 1945 (có 14 chữ cái)
12 Tính cách của Huấn Cao trong "Chữ người tử tù" được Nguyễn Tuân miêu
tả trong một chữ (có 6 chữ cái)
13 Tên gọi ban đầu của truyện ngắn "Chữ người tử tù" (có 15 chữ cái)
14 Cụm từ được Nguyễn Tuân sử dụng để ca ngợi phẩm chất của viên quảnngục (có 16 chữ cái)
15 Lời khen ngợi về con chữ của Huấn Cao (có 14 chữ cái)
Trang 916 Hành động của viên quản ngục trước lời khuyên của Huấn Cao (có 7 chữcái)
17 Ở truyện ngắn "Chữ người tử tù", Nguyễn Tuân muốn ca ngợi vẻ đẹp gì? (có
+ Đọc hiểu văn bản: đọc là hoạt động quan trọng, là bước đi đầu tiên khitiếp xúc với văn bản, cũng là khâu đầu tiên của quá trình tìm hiểu văn bản Giáoviên giao nhiệm vụ cho học sinh trước ở nhà Đến lớp chỉ đọc ví dụ một đoạnngắn và một vài lưu ý trong phần chú thích Sau đó, giáo viên thiết kế nhữnghoạt động hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản bằng việc sử dụng một số câuhỏi tập hợp thành một bài tập/nhiệm vụ lớn hơn; thiết kế các bài tập trắc nghiệm,kết hợp tự luận; thiết kế các hoạt động kích thích sáng tạo… Nội dung các bàitập/ nhiệm vụ trong mục này nêu lên các yêu cầu tìm hiểu về đặc điểm thể loại,nội dung, nghệ thuật của văn bản
Trang 10Ví dụ: sử dụng bảng xác định và mô tả mức độ yêu cầu của mỗi loại câuhỏi/bài tập sử dụng trong kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất học sinhtrong dạy học chủ đề "Truyện ngắn lãng mạn Việt Nam" - Ngữ văn 11.
Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vân dụng và
vận dụng cao
Những nét chính về tác
giả
Chỉ ra những biểu hiện vềcon người tác giả được thểhiện trong truyện ngắn
Truyện ngắn giúp emhiểu thêm những gì vềtác giả?
Nêu hoàn cảnh sáng
tác của truyện ngắn
Tác động của hoàn cảnh rađời đến nội dung tư tưởngcủa truyện ngắn
Nếu ở trong hoàn cảnhtương tự của tác giả em
theo thể loại nào?
Chỉ ra những đặc điểm vềkết cấu, bố cục, cốttruyện…và cắt nghĩanhững sự việc, chi tiết,hình ảnh…trong truyệnngắn
Em thấy việc sử dụng thểloại truyện ngắn có hợp
Theo em sức hấp dẫn củahình tượng nghệ thuật đó
là gì?
Tư tưởng của nhà văn
được thể hiện rõ nhất
trong những câu văn,
đoạn văn nào?
Lí giải tư tưởng của nhàvăn qua các câu văn, đoạnvăn đó
Em hãy nhận xét về tưtưởng của tác giả thểhiện trong truyện ngắn?
+ Tích lũy kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt: Tích hợp với nhiệm vụ tìm hiểuvăn bản, giáo viên đưa ra một số bài tập/nhiệm vụ yêu cầu học sinh tìm hiểu cáckiến thức Tiếng Việt Các khái niệm thuộc ngôn ngữ học được giảm tải, chuyểnhóa thành dạng kĩ năng, giúp học sinh dễ tiếp nhận hơn Chẳng hạn như trongvăn bản "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân, giáo viên có thể tích hợp với bài
"Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân" với những bài tập như sau: Em hãy
Trang 11tìm những chi tiết thể hiện ngôn ngữ của Huấn Cao? Nội dung của những câunói ấy có ý nghĩa gì? Nguyễn Tuân đã vận dụng vốn ngôn ngữ chung để cá thểhóa tính cách nhân vật Huấn Cao như thế nào?
+ Tích lũy kiến thức, kĩ năng Làm văn: các kiến thức làm văn cũng đượcdạy tích hợp với Đọc hiểu và Tiếng Việt Cũng như phần kiến thức Tiếng Việt,những nội dung lí thuyết Làm văn được giảm tải và chuyển hóa thành kĩ năng,được chuyển tải tới học sinh dưới dạng các nhiệm vụ, bài tập để học sinh chủđộng hình thành kiến thức cho mỗi cá nhân
Ví dụ như trong văn bản "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam, giáo viên có thểtích hợp với bài "Thao tác lập luận phân tích", "Thao tác lập luận so sánh" để
giúp học sinh tìm hiểu cảnh chợ tàn bằng hệ thống bài bập: Cảnh chợ tàn trong
truyện ngắn "Hai đứa trẻ" được nhà văn tái hiện qua những chi tiết nào? Em hãynhận xét về nghệ thuật miêu tả của nhà văn? Từ câu văn "Chợ họp giữa phố đãvãn từ lâu" trong "Hai đứa trẻ" gợi cho em liên tưởng đến câu thơ nào của HuyCận? Hãy so sách cách sử dụng từ "vãn" của hai tác giả?
2.3.1.3 Hoạt động 3: Luyện tập.
- Mục đích của hoạt động: yêu cầu học sinh phải vận dụng những kiếnthức vừa học ở hoạt động hình thành kiến thức để giải quyết những nhiệm vụ cụthể Thông qua đó kiểm tra việc nắm kiến thức của học sinh
- Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ: hoạt động luyện tập gồm cácbài tập/nhiệm vụ yêu cầu học sinh củng cố các tri thức vừa học và rèn luyện các
kĩ năng liên quan Các bài tập/nhiệm vụ trong phần luyện tập cũng theo trình tự:Đọc hiểu, Tiếng Việt và Làm văn Tập trung hướng tới hình thành các kĩ năngcho học sinh như trình bày, viết văn…
Ví dụ: Anh/Chị hãy viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về tình huống truyện
"Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân
2.3.1.4 Hoạt động 4: Ứng dụng, vận dụng.
- Mục đích của hoạt động: hoạt động này giúp học sinh sử dụng kiến thức,
kĩ năng đã học để giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ trong thực tế "Thực tế" ở đâyđược hiểu là thực tế của nhà trường, trong gia đình và trong cuộc sống của họcsinh Hoạt động này sẽ khuyến khích học sinh nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cáimới theo sự hiểu biết của mình; tìm phương pháp giải quyết vấn đề và đưa ranhững cách giải quyết vấn đề khác nhau; góp phần hình thành năng lực học tậpvới gia đình và cộng đồng
- Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ: Vận dụng kiến thức Đọc hiểu
để giải thích, phân tích một hiện tượng văn học, văn hóa khác tương ứng Ví dụvận dụng kiến thức về đặc trưng của truyện ngắn lãng mạn để đọc hiểu các tácphẩm cùng xu hướng và thể loại, từ việc xin chữ và cho chữ trong "Chữ người
tử tù" (Nguyễn Tuân) giúp học sinh hiểu được nghệ thuật thư pháp và ý nghĩacủa nét đẹp truyền thống xin chữ đầu năm trong đời sống cộng đồng; Vận dụngkiến thức, kĩ năng Tiếng Việt để giải quyết một số vấn đề như: giải nghĩa từ, xácđịnh cấu tạo từ…trong các hiện tượng ngôn ngữ của cuộc sống Như vận dụngcác từ Nguyễn Tuân sử dụng trong "Chữ người tử tù" (nhất sinh, hứng sinh bình,
Trang 12biệt nhỡn liên tài…) để vận dụng hoặc hiểu trong các trường hợp giao tiếp củacuộc sống.
2.3.1.5 Hoạt động 5: Mở rộng, bổ sung, phát triển ý tưởng sáng tạo.
- Mục đích của hoạt động: hoạt động này giúp học sinh tiếp tục mở rộng kiếnthức, kĩ năng Hoạt động này dựa trên lập luận cho rằng, quá trình nhận thức củahọc sinh là không ngừng, như vậy cần có sự định hướng để đáp ứng nhu cầu tiếptục học tập, rèn luyện sau mỗi bài học cụ thể
- Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ: Đọc thêm các đoạn trích, văn bản cóliên quan Trau dồi với người thân về nội dung bài học như: kể cho người thânnghe về câu chuyện vừa học, hỏi về ý nghĩa của câu chuyện Tìm đọc sách, báo,mạng Internet…một số nội dung theo yêu cầu
Ví dụ giáo viên yêu cầu học sinh sưu tầm những bài viết, nhận định, đánhgiá về tác giả Thạch Lam, tình huống truyện "Chữ người tử tù" (Nguyễn Tuân)
2.3.2 Đọc - hiểu chủ đề thông qua việc chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biệnpháp nâng cao hiệu quả giờ đọc - hiểu mà còn là một mục tiêu dạy học Muốnhọc sinh biết tự học, phải dạy cho học sinh cách học, cách tư duy trước mỗi vấn
đề, mỗi tình huống học tập
Trong các phương pháp dạy học thì phương pháp tự học được xem là cốtlõi Rèn luyện cho học sinh có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tựhọc thì sẽ tạo cho học sinh lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi conngười, kết quả học tập sẽ được nâng cao Với phương pháp dạy học hiện đại,nhấn mạnh hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo sự chuyển biến từhọc tập thụ động sang chủ động, chú trọng vấn đề phát triển năng lực tự họctrước, trong và cả sau quá trình học tập trên lớp
Cụ thể như với văn bản "Hai đứa trẻ" (Thạch Lam), giáo viên hướng dẫnhọc sinh áp dụng phương pháp tự học như sau:
- Trước khi đến lớp:
+ Đọc kĩ văn bản và phần chú thích: đọc và xác định bố cục, đánh dấu các chitiết quan trọng để ghi nhớ và phục vụ cho hoạt động luyện tập
~ Bố cục: ba phần
Phần 1 (Từ đầu đến nhỏ dần về phía làng): Phố huyện lúc chiều tàn.
Phần 2 (Trời đã bắt đầu đêm…mơ hồ không hiểu): Phố huyện lúc đêm tối.
Phần 3 (Còn lại): Phố huyện lúc chuyến tàu đi qua
~ Các chi tiết quan trọng: miêu tả thời gian, không gian, con người
+ Tóm tắt truyện: nắm được cốt truyện, các tình tiết quan trọng, ghi nhớ tên vàđặc điểm của nhân vật
Ví dụ: Đặc điểm của truyện ngắn Thạch Lam là không có cốt truyện Có thểtóm tắt theo diễn biến tâm trạng của Liên (Buồn man mác -> Buồn sâu lắng ->Hồi hội, mong chờ -> Hụt hẫng, nuối tiếc khi chuyến tàu đi qua)
+ Trả lời những câu hỏi phần hướng dẫn học bài theo sự hiểu biết của bản thân.(SGK, trang 101)
Trang 13- Khi học trên lớp:
+ Tập trung lắng nghe, suy nghĩ, trả lời các câu hỏi mà giáo viên yêu cầu
+ Tích cực tham gia các hoạt động nhóm và phát biểu ý kiến, qua đó góp phầntrau dồi vốn ngôn ngữ, kĩ năng trình bày tự tin trước mọi người
+ Mạnh dạn bày tỏ những suy nghĩ của cá nhân
Ví dụ hệ thống câu hỏi như sau:
(1) Em hãy trình bày hiểu biết về Thạch Lam và truyện ngắn "Hai đứa trẻ".(2) Xác định bố cục và đại ý của truyện ngắn
(3) Bức tranh phố huyện được miêu tả ra sao? Qua những hình ảnh nào? Em cónhận xét gì về những hình ảnh ấy?
(4) Nghệ thuật miêu tả nhân vật đặc sắc của nhà văn
(5) Tại sao Liên và An đêm nào cũng cố thức để chờ tàu? Ý nghĩa biểu tượngcủa hình ảnh chuyến tàu
+ Ghi chép bài đầy đủ, chính xác: ngoài phần hệ thống kiến thức cơ bản, tập chohọc sinh thói quen tự ghi chép theo cách hiểu của bản thân để có thể so sánh, đốichiếu, nâng cao, mở rộng vấn đề
+ Đọc tài liệu tham khảo để mở rộng, khắc sâu kiến thức
+ Nên tìm và học thuộc những nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu, phêbình văn học về Thạch Lam và truyện ngắn "Hai đứa trẻ" Chẳng hạn:
Nhà văn Nguyễn Tuân viết:
"Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc…Văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm, nó là cái kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và từng trải về sự đời Thạch Lam có những nhận xét tinh tế về cuộc sống hàng ngày Xúc cảm của Thạch Lam thường bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với tầng lớp dân nghèo thành thị và thôn quê Thạch Lam là nhà văn quý mến cuộc sống, trân trọng trước cuộc sống của mọi người chung quanh Ngày nay đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái
dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học "[5]
Nhà văn Vũ Ngọc Phan nhận định:
"Ngay trong tác phẩm đầu tay (Gió đầu mùa), người ta thấy Thạch Lam đứng vào một phái riêng…Ông có một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỉ mỉ những cái rất nhỏ và rất đẹp…Phải là người giàu tình cảm lắm mới viết được như vậy…"[6]
Như vậy, phương pháp tự học đóng vai trò quan trọng trong môn Ngữ văn,giúp người học diễn đạt trôi chảy và giao tiếp chủ động trong quá trình lĩnh hộitri thức
Trang 142.3.3 Đọc - hiểu chủ đề thông qua việc tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học, năng lực nhận thức, khả năng tư duy của học sinhkhông đồng đều nên khi áp dụng phương pháp tích cực phải có sự phân hóa vềcường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập Áp dụng phương pháp dạy họctích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Tuy nhiên, trong họctập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng nhữnghoạt động độc lập Lớp học là môi trường giao tiếp giữa giáo viên và học sinh,học sinh và học sinh; tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trong quátrình kiến tạo tri thức Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi
cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lênmột trình độ mới
Trong giờ học Ngữ văn, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấpnhóm, mỗi nhóm từ 6 đến 8 học sinh được giao những nhiệm cụ học tập cụ thể
và có thời gian hoàn thành Học tập hợp tác sẽ làm tăng hiệu quả giờ học, nhất làtrong những tình huống giải quyết các vấn đề gay cấn, lúc cần sự phối hợp giữacác cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ học tập Học tập hợp tác được phát huyhiệu quả tối đa khi các thành viên được phân công nhiệm vụ cụ thể, tính cách,năng lực của mỗi cá thể được bộc lộ, phát triển, ý thức tổ chức, tinh thần tươngtrợ được nâng cao góp phần hình thành năng lực hợp tác cho học sinh trong họctập cũng như trong lao động và cuộc sống
Ví dụ ở truyện ngắn "Hai đứa trẻ" (Thạch Lam), giáo viên hướng dẫn họcsinh tìm hiểu hình ảnh chuyến tàu đêm thông qua hình thức học tập hợp tác củacác nhóm với kĩ thuật "Khăn trải bàn" bằng hệ thống câu hỏi như sau:
Ý kiến chung của cả nhóm về
chủ đề:
Hình ảnh chuyến tàu đêm
Câu 1
Câu2
Câu 3
Câu4
Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh chuyến tàuđêm? Qua đó nhà văn Thạch Lam gửi tới độcgiả thông điệp gì?
cố thức đểchờ tàu?
Có phải vìcuộc sốngmưu sinhkhông?
Sự xuất hiện của chuyến tàu đêm được miêu
tả như thế nào? Chuyến tàu có ý nghĩa gìvới cuộc sống của người dân phố huyện?
Trang 15Sau khi các cá nhân trả lời câu hỏi và viết vào phần xung quanh, thảo luậnnhóm, thống nhất ý kiến và viết vào phần chính giữa Kết quả thu được như sau:
2.3.4 Đọc - hiểu chủ đề không tách rời với kiểm tra, đánh giá
Trong quá trình dạy học, việc đánh giá học sinh không phải để xếp loại
mà là để khích lệ học sinh hứng thú học tập, tư vấn giúp học sinh tìm ra cáchhọc phù hợp nhất Một trong những mục tiêu của phương pháp dạy học tích cực
là hướng dẫn học sinh biết cách tự học Muốn vậy ngoài sự thuần thục về kĩnăng, học sinh phải có hứng thú Giáo viên cần tạo hứng thú cho học sinh bằngcách định hướng, khích lệ những ý tưởng sáng tạo thông qua đánh giá Bản thân
+ Ước mơ, khao khát thoát khỏi c/s quẩn quanh, tù túng
Chi tiết: đèn ghi, tiếng còi, tiếng xe,tiếng hành khách, đoàn tàu -> từ xa đếngần qua âm thanh, hình ảnh, màu sắc
Ý nghĩa với người dân: bán thêm mộtmón hàng để phục vụ cho cuộc sốngmưu sinh
"muốnđược nhìnchuyếntàu" và
"lặng theo
mơ tưởng"
về "Hà Nội
xa xăm"
Ý nghĩa biểu tượng: hồi ức đẹp, niềm
an ủi, ước mơ, hi vọng
Thông điệp: yêu thương, trân trọng vẻđẹp tâm hồn và niềm khát khao của con người
4
1
2
3
Trang 16học sinh cũng cần rèn kĩ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau để hiểu đúng vềnăng lực, sở trường của mình Đó là lí do giáo viên cần hướng dẫn học sinh pháttriển kĩ năng tự đánh giá, tự điều chỉnh cách học.
Trước đây, giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh nhưng trongphương pháp dạy học tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩnăng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Đồng thời giáo viên cần tạo điềukiện để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điềuchỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần để tạo ra những con người năngđộng, sớm thích nghi với đời sống xã hội trong việc vận dụng trí thông minh, ócsáng tạo để giải quyết các tình huống thực tế
Khi dạy học chủ đề "Truyện ngắn lãng mạn Việt Nam" - Ngữ văn 11, giáoviên có thể tiến hành kiểm tra, đánh giá việc học theo chủ đề với hệ thống câuhỏi/bài tập phù hợp như sau:
2.3.4.1 Bài tập hệ thống hóa kiến thức:
Căn cứ vào bảng mô tả, giáo viên tiến hành xây dựng các câu hỏi/ bài tậptương ứng để khai thác và đánh giá học sinh theo: bảng xác định và mô tả mức
độ yêu cầu của mỗi loại câu hỏi/bài tập sử dụng trong kiểm tra, đánh giá nănglực và phẩm chất học sinh trong dạy học chủ đề "Truyện ngắn lãng mạn ViệtNam" - Ngữ văn 11 (Mục 2.3.1.2)
Ví dụ: Hệ thống câu hỏi cho truyện ngắn "Hai đứa trẻ" (Thạch Lam)
Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận
- Đặc điểm sáng tác củaThạch Lam
- Truyện ngắn "Hai đứatrẻ" giúp em hiểu thêmđiều gì về tác giả?
- Truyện ngắn "Hai
đứa trẻ" được viết
trong hoàn cảnh nào?
- Xuất xứ của truyện
- Nhan đề của truyện
- Truyện ngắn được
viết theo thể loại nào?
- Chỉ ra những đặc điểmkhác biệt về cốt truyệncủa "Hai đứa trẻ" so vớicác truyện ngắn khác
- Em thấy việc sử dụng cốttruyện, ngôn ngữ có phùhợp với thể loại truyệnngắn không? Vì sao?
- Nhận xét về phẩm cách,
số phận của các nhân vật
Trang 17- Truyện ngắn xây
dựng hình tượng nhân
vật nào?
- Phân tích các đặc điểmcủa hình tượng nhân vậtLiên
- Từ hình tượng nhân vậtLiên, nhà văn thể hiện cáinhìn về cuộc đời và conngười như thế nào?
- Theo em, sức hấp dẫncủa hình tượng nhân vậtLiên là gì?
- Tư tưởng của nhà
văn được thể hiện rõ
nhất trong những câu
văn, đoạn văn nào?
- Lí giải tư tưởng của nhàvăn trong các câu văn,đoạn văn đó
- Em có nhận xét gì về tưtưởng của nhà văn quatruyện ngắn "Hai đứa trẻ"
2.3.4.2 Bài tập phát triển năng lực:
Câu hỏi/bài tập đưa ra nhằm kiểm tra, đánh giá việc tiếp thu kiến thức, kĩnăng, trong đó chú ý đến năng lực cần phát triển sau khi học xong chủ đề
"Truyện ngắn lãng mạn Việt Nam" - Ngữ văn 11 như:
2.3.4.2.1 Năng lực giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết)
Việc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh là một mụctiêu quan trọng của môn Ngữ văn, là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù củamôn học Văn bản Đọc hiểu là môi trường để người học được giao tiếp với tácgiả, với bối cảnh thực tiễn, giúp học sinh nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt
và vận dụng kiến thức vào những tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộcsống
Ví dụ: Hãy đọc đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu:
"Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại, tìm tòi Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì đó có thể dùng được của các người bán hàng để lại, Liên trông thấy động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó".[7]
Câu 1 Đoạn văn tái hiện cảnh gì? Qua những hình ảnh nào? Từ đó em hiểu gì
về hoàn cảnh xã hội nước ta trước Cách mạng tháng Tám 1945?
Câu 2 Nhân vật Liên có tâm trạng như thế nào? Qua đó nhà văn gửi tới chúng tathông điệp gì?
Câu 3 Viết đoạn văn với chủ đề: tình yêu thương
2.3.4.2.2 Năng lực thẩm mĩ (cảm thụ và sáng tạo)
Hình thành và phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh cũng là một mụctiêu mà môn Ngữ văn hướng tới Năng lực này được hình thành trong việc xácđịnh những ý tưởng được gửi gắm trong chủ đề Đọc hiểu, bộc lộ đam mê, thái
độ chủ động tìm hiểu của học sinh, không suy nghĩ theo lối mòn, theo côngthức Trong giờ Đọc hiểu, với tư cách là người học, học sinh phải là người đồngsáng tạo với nhà văn
Trang 18Ví dụ: Cảm nhận của em về vẻ đẹp của đoạn văn:
"Chiều, chiều rồi Một buổi chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào Trong cửa hàng hơi tối, muỗi
đã bắt đầu vo ve Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị; Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn".[8]
Với ví dụ trên yêu cầu học sinh phải có cách cảm thụ riêng, độc đáo vềhình ảnh, ngôn từ, nhân vật; có cách trình bày và diễn đạt mang dấu ấn cá nhân.2.3.4.2.3 Năng lực giải quyết vấn đề
Định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh là một yêucầu cần thiết đối với môn Ngữ văn trong tiến trình đổi mới Do tính ứng dụngthực tiễn, đòi hỏi người học phải vận dụng kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm củabản thân để giải quyết các tình huống trong cuộc sống
Ví dụ: Từ sự quan tâm của Liên với những người dân nơi phố huyệnnghèo trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ", anh/chị hãy viết đoạn văn bày tỏ tìnhcảm của mình với những người xung quanh; hoặc: Từ nhân vật Liên trongtruyện ngắn "Hai đứa trẻ" anh/chị hãy viết đoạn văn bày tỏ niềm mơ ước củabản thân trong cuộc sống hiện tại
2.3.4.3 Bài tập thực hành.
Sau mỗi chủ đề, giáo viên kiểm tra học sinh dưới dạng kiểm tra 15 phúthoặc 1 tiết theo kế hoạch dạy học Qua đó, cần phân tích, đánh giá kết quả/hiệuquả của hoạt động học, cụ thể là: qua hoạt động đó, học sinh đã học được gì (thểhiện qua việc đã chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng gì)? Những kiến thức, kĩnăng gì học sinh chưa học được (theo mục tiêu của hoạt động học)?
Ví dụ: Đề Đọc hiểu 15 phút về "Chữ người tử tù" (Nguyễn Tuân)
"Biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ Có được chữ ông Huấn
mà treo là có một vật báu trên đời Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ Không can đảm giáp mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt đây ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời mất" (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân)
Câu 1 Cho biết chủ đề của đoạn văn
Câu 2 Anh/Chị hiểu như thế nào là "Biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền"?
Câu 3 Theo anh/chị, quản ngục khổ tâm vì điều gì? Sự khổ tâm ấy cho thấy vẻđẹp gì ở viên quản ngục?
Câu 4 Anh/Chị có đồng tình với suy nghĩ của quản ngục: Có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời không? Vì sao?
Qua đề Đọc hiểu này, kiểm tra được các cấp độ chiếm lĩnh kiến thức củahọc sinh từ việc nhận biết nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của văn bản (vẻ đẹp tâm
Trang 19hồn của quản ngục: yêu chữ, khát chữ, trọng tài; sẵn sàng hi sinh vì cái đẹp) đếnviệc vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết các tình huống thực tế (thái độứng xử với nghệ thuật thư pháp - đạo lí, lẽ sống; tôn vinh các giá trị văn hóa cổtruyền của dân tộc - tình yêu quê hương, đất nước).
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Trong thực tế dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, tôi đã áp dụng cácgiải pháp trên một cách linh hoạt cho các bài dạy học theo chủ đề, đặc biệt là giờ
"Đọc hiểu Ngữ văn theo chủ đề truyện ngắn lãng mạn Việt Nam" - Ngữ văn 11.Qua kiểm nghiệm, thực sự đề tài tôi ứng dụng đã có tác động tích cực đến hiệuquả giảng dạy của bản thân Các tiết học diễn ra nhẹ nhàng hơn, học sinh học tậpsôi động và hứng thú hơn Điều quan trọng, từ những tiết học ấy tôi đã giúp họcsinh chủ động lĩnh hội tri thức, hình thành các năng lực cần thiết để vận dụnggiải quyết các nhiệm vụ học tập cũng như các tình huống trong thực tiễn cuộcsống Đó chính là nhiệm vụ quan trọng của mỗi giáo viên dạy Ngữ văn trongtiến trình đổi mới phương pháp
Kết quả của đề tài đã được kiểm chứng từ thực tế dạy học ở hai lớp 11A4
và 11A8 trong năm học 2016 - 2017, bằng các phương pháp: thực nghiệm, thống
kê, thu thập thông tin, xử lí số liệu, so sánh …để phát huy tính tích cực chủđộng, phát triển năng lực của học sinh Cụ thể qua bảng số liệu sau:
Lớp Sĩ số Tích cực, chủ động Phát triển năng lực
Chủ độnglĩnh hộikiến thức
Thụ độnglĩnh hộikiến thức
Nănglựcgiaotiếp
Nănglực tựhọc
Nănglực hợptác
Nănglựcthẩmmĩ