SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP DẠY KIỂU BÀI ÔN TẬP, TỔNG KẾT PHẦN VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TR
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP DẠY KIỂU BÀI ÔN TẬP, TỔNG KẾT (PHẦN VĂN HỌC) TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Người thực hiện: LƯƠNG THỊ THUỲ AN Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Trãi SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
Trang 2MỤC LỤC Mục Nội dung Trang
2.3 Các biện pháp giải quyết vấn đề 7
2.3.2 Giai đoạn tổ chức hoạt động theo tiến trình giờ học 8
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 16
2.4.1 Hiệu quả trong việc tăng hứng thú học tập, hoạt động học tích
cực của HS
16
2.4.2 Hiệu quả trong việc phát huy năng lực của HS 17
2.4.3 Hiệu quả nâng cao chất lượng giảng dạy 18
Trang 41 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Nội dung chương trình Ngữ văn THPT được tổ chức thành một chỉnh thểthống nhất, mỗi mắt xích trong đó đều có vai trò nhất định trong việc hình thành
và phát triển năng lực người học Bài ôn tập, tổng kết là một kiểu bài đặc biệt,thể hiện ở những yêu cầu về hệ thống hóa nội dung và phương pháp Bài họcnày giúp người học hình thành năng lực khái quát, tổng hợp tri thức, kĩ năng tựhọc, tự nâng cao kiến thức, đồng thời GV có thể kiểm tra nhận thức của HS,giáo dục ý thức học hợp tác và học phát triển
Song, thực tiễn lại tồn tại những điểm gây bất lợi cho việc dạy và học bài
ôn tập: thời lượng phân phối chương trình còn hạn chế, chương trình chỉ tậptrung tổng kết kiến thức mà chưa chú trọng rèn kĩ năng, phát triển năng lực,phẩm chất người học GV và HS đều ngại bài học này Bởi bài ôn tập nhiều câuhỏi, HS băn khoăn không biết bắt đầu từ đâu, còn GV giảng dạy đại khái vì lúngtúng không biết triển khai hoạt động học như thế nào, đa phần là GV tổng kết hộ
HS Lí do cơ bản là chúng ta chưa hiểu đặc trưng bản chất của bài học Khi đốitượng chưa tường minh thì không thể lựa chọn phương pháp phù hợp và tích cựcđược
Trước xu thế của thời đại và thực trạng hiện nay, phương pháp dạy họchiện đại yêu cầu tích cực hóa hoạt động của HS với tư cách chủ thể của quá trìnhhọc, chủ động tiếp thu kiến thức, theo tinh thần của Nghị quyết số 29 – NQ/TWngày 04 tháng 11 năm 2013, hội nghị Trung ương 8 Ban chấp hành Trung ươngĐảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo Đây khôngcòn là lí thuyết phương pháp mới, nhưng áp dụng trong mỗi giờ học còn hạnchế Điều này đã được chú ý phát huy trong các giờ Tiếng Việt, Làm văn nhưnglại chưa được phát huy trong các tiết Đọc văn, đặc biệt là các bài văn học sử,khái quát, ôn tập, tổng kết Đó là một nghịch lí, bởi mọi việc ôn tập phải xuấtphát từ sự chuẩn bị và hứng thú của HS Hơn nữa, ôn tập, tổng kết là nền tảng để
mở ra một nấc thang tri thức mới Đây là thử thách để GV thể hiện năng lực của
Trang 5mình trong việc nâng cao chất lượng học tập, đi vào chiều sâu tri thức, phát triển
tư duy cho HS
Chính vì tầm quan trọng của bài học và sự khó khăn của GV khi giảngdạy, tôi xin được đề xuất một vài kinh nghiệm có tính chất cá nhân góp phần đổimới hướng nghiên cứu và giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường qua đề tài:
“Phương pháp dạy kiểu bài ôn tập, tổng kết (phần văn học) trong chương trình Ngữ văn 10 theo định hướng phát triển năng lực học sinh”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là tìm hiểu, đánh giá phương pháp và hiệu quả giảngdạy bài ôn tập, tổng kết văn học lớp 10, đề xuất giải pháp nhằm cải tiến phươngpháp giảng dạy bài ôn tập, tổng kết văn học nói chung ở trường THPT Mặtkhác một trong những yêu cầu đổi mới dạy học văn là nhằm phát huy vai tròchủ thể tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học và chiếm lĩnh trithức
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là 2 bài: Ôn tập văn học dân gian Việt Nam và Tổng kết phần Văn học trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 10, tập 1, 2 NXB
Giáo dục năm 2016
Đối tượng khảo sát là HS khối 10, cụ thể tiến hành thực nghiệm sáng kiếnkinh nghiệm ở lớp 10A2,10A3,10A9 (năm học 2018-2019), trường THPTNguyễn Trãi, thành phố Thanh Hoá
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Thực nghiệm đề tài (thiết kế thử nghiệm) theo PPDH mới, phát huy nănglực hợp tác và tính tích cực, chủ động của HS Phương pháp nghiên cứu được sử
dụng trong sáng kiến kinh nghiệm là: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, so sánh,
phương pháp quan sát thực nghiệm, phương pháp phỏng vấn, phương pháp tiếpcận tâm lý
Trang 62 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận
Trong Luật Giáo dục, điểu 24.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Có thể nói cốt lõi trong đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủđộng, chống lại thói quen học tập thụ động của học sinh Căn cứ vào mục tiêutrên cùng với việc dựa vào đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT: ham tìmhiểu, tiếp cận, thích cái mới lạ nhưng chóng chán, việc vận dụng các phươngpháp dạy học phù hợp với kiểu bài, đặc trưng môn sẽ giúp giáo viên kích thíchđược sự chủ động, sáng tạo của học sinh trong các giờ học Vì phương pháp dạy
học được coi “là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học” [7;9]
Bài ôn tập, tổng kết khối lượng kiến thức nhiều, phong phú ở nhiều thểloại, nên cả GV và HS thấy e ngại, nhưng nhất thiết không được bỏ qua bài họcquan trọng này Trong chương trình Ngữ văn, chúng ta quan tâm nhiều hơn đếnviệc đọc - hiểu các tác phẩm văn học cho đúng phong cách, thể loại, nhưng việcrèn luyện kĩ năng khái quát tổng hợp, việc hình thành quan điểm văn học ở HS
Trang 7lại ít được chú ý Dạy học dạng bài này được xem là đạt yêu cầu khi hình thànhcho HS cả phương diện lí thuyết và phương diện thực hành, có kĩ năng phân tích
và tổng hợp GV và HS cần khắc phục tâm lí ngại và sợ, tích cực tìm kiếmnhững PPDH phù hợp với đối tượng Bài ôn tập không đơn giản là “cái gói”chứa tất cả kiến thức đã học, mà hơn thế, nó còn đáp ứng yêu cầu của HS làđược rèn luyện kĩ năng học tập và tổ chức lại những đơn vị cơ bản cấu thành nênchương trình học
HS không thể ngay lập tức hình dung được cấu trúc nội dung bài học ôntập, tổng kết Mục tiêu chúng ta hướng đến ở dạng bài này không phải là nhắclại những kiến thức đã học mà phải từ những tri thức đã có để hình thành nên trithức mới, ở dạng khái quát Do đó, đòi hỏi HS phải có tư duy khái quát, tổnghợp, so sánh, đánh giá các đơn vị kiến thức với nhau
Bài ôn tập, tổng kết được xem là kiểu bài bản lề, bởi để có thể nắm bắttoàn bộ nội dung chương trình học thì HS phải nỗ lực vượt qua tư duy phân lập
để có được tư duy tổng hợp Tri thức mà người học có được không phải từ mộtvăn bản, một bài học mà là cả một quá trình tiếp nhận Một khi dạng bài nàyđược triển khai theo đúng cách của nó, HS được trực tiếp làm việc, tự mình thayđổi nhận thức, biết cách đánh giá tổ chức kiến thức ở một trình độ nhất định.Mặt khác, bài ôn tập, tổng kết thường ở cuối mỗi phần, mỗi giai đoạn văn học,
do vậy nó là bản lề giữa kiến thức cũ và mới Cánh cửa muốn mở rộng thì bản lềphải vững Kiến thức và kĩ năng hình thành cho HS thông qua bài ôn tập cũngvậy, chúng ta không nên tham vọng ôm trọn những kiến thức trong một khoảngthời gian ở một hai tiết học Chúng ta chỉ triển khai ở góc độ vĩ mô, tổng quátkiến thức cũ, giúp HS hình thành tư duy lôgíc, bồi dưỡng tư duy hình tượng
Hơn nữa, bài ôn tập, tổng kết cũng là dạng bài bản lề giáo dục ý thức họctập của HS Đối với bài học này, HS phải làm việc hết mình, sự tiến triển củagiờ học phụ thuộc vào khả năng học tập của HS Ở các dạng bài đọc- hiểu, haykhái quát, HS chờ GV giảng rồi mới có định hướng tư duy Còn ở dạng bài ôntập, HS phải dựa vào chính vốn học tập suốt thời gian trước để tự tổng kết theo
Trang 8các mức độ khác nhau Như vậy, bài ôn tập, tổng kết là bản lề từ việc học tập tậpthể, học nhận thức sang học tự nhận thức, HS càng tích cực thì chất lượng giờhọc càng cao.
b Nội dung các bài ôn tập, tổng kết (phần văn học) trong chương trình Ngữ văn 10
* Về số lượng câu hỏi: Mỗi bài đều có hệ thống câu hỏi triển khai nộidung ôn tập, tổng kết thống nhất với mục tiêu bài học Đánh giá câu hỏi, chúng
ta nên dựa vào các mặt tri thức, kĩ năng, thái độ
- Bài Ôn tập văn học dân gian Việt Nam: Số lượng câu hỏi là 10 câu (4
câu phần nội dung và 6 câu phần bài tập vận dụng)
- Bài Tổng kết phần Văn học: Số lượng câu hỏi là 7 câu, bao quát kiến
thức cơ bản đã học trong chương trình Ngữ văn 10
* Về tri thức:
Các tác giả biên soạn sách đã đưa vào bài hệ thống các câu hỏi phongphú, bao quát được nội dung chương trình văn học dân gian đã học, tái hiện lạinhững tri thức khái quát, sau đó dùng những tri thức cụ thể về tác phẩm đểchứng minh
Trong sách giáo viên hướng dẫn khai thác các câu hỏi theo trình tự, địnhhướng những nội dung cơ bản Nhiều GV xây dựng giáo án y nguyên theo sựtrình bày của sách giáo viên, vì thế chưa bộc lộ được ý tưởng thiết kế một giờdạy phù hợp, chỉ đơn thuần là đáp án các câu hỏi hướng dẫn học bài Nếu GVbiết vận dụng sáng tạo sách giáo viên và tài liệu tham khảo thì bài dạy mới thực
Trang 92.2.2 Thực trạng dạy học các bài ôn tập, tổng kết (phần văn học) trong nhà trường
- Về thực tiễn dạy học: Tư duy của HS phổ thông giai đoạn này phù hợpcho dạy học kiểu bài ôn tập, tổng kết GV có thể căn cứ vào trình độ của HS để
tổ chức các hoạt động học tập sinh động, giúp các em hứng thú hơn
b Khó khăn
- Về nội dung bài học: Hệ thống câu hỏi không tránh khỏi một số nhược
điểm, như GS Phan Trọng Luận khẳng định: “Không thể có ảo tưởng về một cuốn sách giáo khoa, nhất là sách giáo khoa Ngữ văn hoàn hảo 100%” [4,14]
+ Hệ thống câu hỏi chưa chú ý phát triển năng lực khái quát - tổng hợpcho HS, mà chỉ đơn thuần yêu cầu HS tái hiện kiến thức, kỹ năng phân tích tácphẩm để minh họa cho kiến thức khái quát Câu hỏi đòi hỏi suy luận, sáng tạocòn ít
+ Hệ thống câu hỏi chưa chú trọng phát triển những năng lực khác nhaucủa HS như: Đọc - hiểu, bình văn, vận dụng… được hình thành song song cùngvới những tri thức về văn bản
- Về thực tiễn dạy - học:
+ Phía giáo viên:
Về tâm lí: GV có phần ngại giảng dạy loại bài này và cho rằng đây là kiểubài nhắc lại kiến thức đã học nên chủ yếu là HS tự trả lời câu hỏi, còn trên lớpdạy qua loa cho xong
Trang 10Về phương pháp: Từ việc soạn giáo án, tôi nhận thấy giáo án các bài ôntập, tổng kết văn học giống như một dàn ý các câu hỏi trong SGK, trong phầnhoạt động của thầy và trò thì chưa thấy rõ biện pháp tổ chức tiết học ôn tập sinhđộng, hấp dẫn Vì thế, trên lớp triển khai tiết dạy mỗi người một cách: hoặc coicâu hỏi như bài tập, giao HS về nhà làm, hoặc GV diễn giảng, HS chép vàovở… HS không phải thắc mắc, giải đáp vấn đề mà trở thành “cái bồ” chứa kiếnthức.
+ Phía học sinh: Có rất ít HS chuẩn bị bài, hoặc chuẩn bị theo kiểu “chốngđối” cho có để tránh bị phạt Hầu hết HS không tự giác, nỗ lực để tìm kiếm trithức, mà thụ động, trông chờ việc đọc chép Vì thế, trên lớp HS không hứng thúhọc tập
Tóm lại, qua khảo sát nội dung ôn tập của sách giáo khoa, thực tiễn dạy học của GV và HS, chúng tôi nhận thấy việc dạy học kiểu bài ôn tập, tổng kếtvăn học còn nhiều vấn đề cần giải quyết Những thực trạng trên là cái chúng tacần nhìn nhận thẳng thắn và nghiêm túc suy nghĩ để khắc phục Mỗi GV cầnnghiên cứu nội dung và tìm hiểu yêu cầu của việc dạy học bài ôn tập, tổng kết
-để có hướng triển khai phù hợp, đồng thời chú ý đến trình độ của đối tượng HS.Thực tiễn cho thấy, những cách thức giảng dạy bài ôn tập, hoặc là rất sơ sài,hoặc là chưa tích cực, hấp dẫn Đó là lí do thôi thúc tôi triển khai đề tài sángkiến kinh nghiệm này, cố gắng khắc phục những tồn tại đang có, đề xuất một vàikinh nghiệm giảng dạy kiểu bài ôn tập, tổng kết đúng với tinh thần dạy học mới,đảm bảo nội dung, tổ chức hoạt động phong phú, sinh động, tăng tính hấp dẫn,phát huy năng lực, kích thích tinh thần tự giác, sáng tạo học tập của học sinh
2.3 Các biện pháp giải quyết vấn đề
PPDH tích cực được thực hiện thông qua tổ chức các hoạt động học tậpcủa HS Học sinh - đối tượng của hoạt động dạy và là chủ thể của hoạt độnghọc, phải được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức Trong mỗigiờ, GV là người chỉ đạo, hướng dẫn, giám sát, còn HS là người trực tiếp giảiquyết vấn đề theo cách suy nghĩ của mình Những hoạt động GV có thể tổ chức
Trang 11rất phong phú, chúng ta có thể chia làm các giai đoạn để tổ chức các hoạt độngphù hợp: Giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn tổ chức các hoạt động theo tiến trình giờdạy, giai đoạn tổ chức củng cố kiến thức.
2.3.1 Giai đoạn chuẩn bị
Đây là giai đoạn GV giao công việc và HS có nhiệm vụ hoàn thành nhữngbài tập định hướng cho việc tiến hành giờ học GV có thể tổ chức giai đoạn nàycho cá nhân hoặc nhóm HS hợp tác chuẩn bị Tổ chức dạy học hợp tác giúp cácthành viên trong nhóm chia sẻ những băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân,cùng nhau xây dựng tri thức mới
Bài ôn tập không thể chỉ triển khai trên lớp với thời gian hạn hẹp được
Do vậy, GV cần mở rộng ngữ cảnh sư phạm, định hướng cho HS học bằngnhiều hình thức và nội dung khác nhau GV cần kiểm tra chặt chẽ việc chuẩn bịcủa HS, đồng thời sử dụng kết quả học tập ở nhà hợp lí, sẽ giúp việc tổ chức ôntập trên lớp hiệu quả và sinh động hơn
Chẳng hạn, đối với bài Ôn tập văn học dân gian Việt Nam, GV giao
nhiệm vụ cho HS về nhà chuẩn bị trước các công việc như: Lập bảng thống kê(thể loại, tên tác phẩm, nội dung, nghệ thuật chủ yếu), trả lời trước các câu hỏi
và bài tập ôn tập vào vở soạn, lập sơ đồ tư duy về đặc trưng, thể loại, giá trị củavăn học dân gian Việt Nam (chuẩn bị cho phần nội dung ôn tập) Trong bướckiểm tra bài cũ, GV kiểm tra phần chuẩn bị của HS trong vở soạn
2.3.2 Giai đoạn tổ chức các hoạt động theo tiến trình giờ học
a Hoạt động trải nghiệm kết nối
Đây là hoạt động nhằm mục đích tạo hứng thú cho HS khi vào bài GV cóthể đưa tình huống có vấn đề, thiết kế trò chơi trí tuệ… tùy thuộc vào mục tiêubài học, đối tượng học sinh và thời gian cho phép
Ví dụ: Đối với bài Ôn tập văn học dân gian Việt Nam, GV tổ chức lớp
chơi trò chơi ô chữ, khám phá bí ẩn đằng sau ô chữ Nhiệm vụ của HS là đi tìm
từ khóa (Gồm 5 chữ cái: Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của văn họcdân gian?) Có 5 câu hỏi, tương ứng với 5 hàng ngang; mở một ô hàng ngang sẽ
Trang 12tìm được các chữ cái tương ứng của từ khóa Nếu HS đoán được từ khóa sau khi
mở dưới 5 hàng ngang thì GV có thể khuyến khích điểm thưởng (Từ khóa: Dị
bản) Hàng 1 (6 chữ cái): Loại quả do Mai An Tiêm mang về từ hoang đảo?
(DƯA HẤU chữ: D) Hàng 2 (3 chữ cái): Hóa thân của cô Tấm trước khi trở lại thành người? (THỊ chữ: I) Hàng 3 (8 chữ cái): Điền từ còn thiếu trong câu sau: Lạc Long Quân và Âu Cơ/ Đẻ ra đồng bào ta trong (BỌC TRỨNG
Chữ: B) Hàng 4 (3 chữ cái): Tên nhân vật bị viên lí trưởng xử phạt một chục
roi trong truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày? (CẢI chữ: A) Hàng 5 (5 chữ cái): Hình ảnh thường xuất hiện trong ca dao, thể hiện sự tảo tần, lam lũ của
người nông dân thời xưa? (CON CÒ chữ: N)
b Hoạt động hình thành kiến thức:
Hoạt động này giúp HS tìm hiểu, lĩnh hội nội dung kiến thức của bài, rènluyện năng lực cảm nhận, cung cấp cho HS cơ sở khoa học của những kiến thứcđược đề cập đến trong bài học Do đặc thù của bài ôn tập, tổng kết (so với nhữngbài học về văn bản), nên GV cần lựa chọn PP và các KTDH phù hợp, giúp pháttriển năng lực và kích thích tính tự giác và tích cực học tập ở HS
PPDH bài ôn tập, tổng kết nói chung và bài ôn tập phần văn học nói riêngđược sử dụng chủ yếu là dạy học hợp tác theo nhóm Đây là một PPDH mà HSđược phân chia thành từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nhiệm về một mụctiêu duy nhất, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người Cáchoạt động cá nhân riêng biệt được tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằmthực hiện một mục tiêu chung Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụngnhằm giúp cho mọi HS tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo
cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyếtcác vấn đề có liên quan đến nội dung bài học; tạo cơ hội cho các em được giaolưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung
PPDH thảo luận theo nhóm được cụ thể hóa bằng một số KTDH tươngứng, phù hợp Đối với bài ôn tập, tổng kết văn học, GV nên sử dụng một số kĩ