27/9/2018, điều 29 yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông: phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điể
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH RÈN LUYỆN
KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG QUÁ TRÌNH
Trang 21 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
1.2 Mục đích nghiên cứu
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận
2.2 Thực trạng vấn đề
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1 Hướng dẫn học sinh học bài, chuẩn bị bài ở nhà
2.3.2 Vận dụng linh hoạt, hiệu quả các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực 2.3.2.1 Phương pháp thảo nhóm
2.3.2.2 Kĩ thuật “Trình bày một phút”
2.3.2.3 Kiên trì uốn nắn, chỉnh sửa, rèn luyện cho học sinh cách trả lời, diễn đạt………
2.4 Hiệu quả………
2.4.1 Về nhận thức
2.4.2 Kết quả cụ thể
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận………
3.2 Kiến nghị………
1 1 2 2 2 3 3 3 4 4 6 6 9
10 13 13 13 15 15 15
1 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học trở thành mục tiêu lớn của ngành giáo dục
và đào tạo nước ta trong những năm qua Dự thảo Luật Giáo dục sửa đổi
Trang 3(27/9/2018), điều 29 yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông: phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp
tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học. [1]
Quan điểm chỉ đạo trong Dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục Việt nam
giai đoạn 2009 - 2020 cũng nêu rõ: Giáo dục và đào tạo phải góp phần tạo nên một thế hệ người lao động có tri thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kĩ năng sống, kĩ năng giải quyết vấn đề và kĩ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả trong môi trường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh [2]
M Gorki từng nói “văn học là nhân học” - học văn học là học đạo làmngười Với đặc trưng là môn khoa học xã hội và nhân văn, môn Ngữ văn đemđến cho học sinh (HS) những hiểu biết về xã hội, văn hóa, lịch sử, đời sống nộitâm của con người Đặc biệt, với tính chất là một môn học công cụ, môn Ngữvăn góp phần rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển ở HS năng lực
sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận và tạo lập văn bản,… Vì vậy, thông quamôn Ngữ văn, giáo dục kỹ năng sống (KNS) cho HS đặc biệt là kĩ năng giaotiếp là một phương pháp dạy học hiệu quả vừa phát huy năng lực cảm thụ vănchương vừa giúp các em hình thành những kĩ năng cơ bản, phù hợp với mục tiêugiáo dục hiện nay
Rèn kỹ năng (KN) giao tiếp cho HS cũng là một trong những nội dung cơbản của phong trào thi đua: "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực"
Ghi chú:
- Ở mục 1.1: Các đoạn in nghiêng tác giả trích nguyên văn từ TLTK số 1,2.
Là một GV đã nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp và giảng dạy bộmôn ngữ văn, tôi nhận thấy việc giáo dục cho HS những kỹ năng cơ bản, trong
đó có kỹ năng giao tiếp luôn rất cần thiết Trong những năm gần đây, việc rènluyện KNS cho HS cũng đã được lồng ghép vào một số môn học và hoạt động
Trang 4giáo dục trong nhà trường Tuy nhiên, trong thực tế GV chưa thực hiện đượcnhiều Bản thân tôi cũng nhận thấy môn Ngữ văn hiện nay vẫn còn nặng về khaithác nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, người dạy chưa thực sự giành nhiềuthời gian để liên hệ giáo dục KNS, nhất là kỹ năng giao tiếp cho HS
Đó cũng là lí do tôi chọn đề tài Một số giải pháp giúp HS rèn luyện kĩ năng giao tiếp trong quá trình dạy và học Ngữ văn 11 để trao đổi cùng đồng nghiệp
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng giao tiếp, đặc biệt là kỹ năngtrình bày, diễn đạt cho học sinh
- Đề tài này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Sách giáo khoa Ngữ văn 11 (Chương trình chuẩn)
- Học sinh lớp 11: 11B4, 11B5, 11B8
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp khảo sát (tìm hiểu), thống kê, phân loại
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận
Giao tiếp là một hoạt động cơ bản và là nhu cầu không thể thiếu trong đờisống của con người Mỗi người là một mắt xích trong xã hội, là “tổng hòa của
Trang 5các mối quan hệ xã hội” (C.Mác), vì thế hàng ngày, hàng giờ, chúng ta đều phảigiao tiếp với thế giới xung quanh để hoàn thành vai trò của mình Một người có
kỹ năng giao tiếp và ứng xử tốt sẽ dễ dàng xử lý tình huống cũng như thànhcông hơn trong sự nghiệp
Theo kết quả nghiên cứu của Kinixti - học giả người Mỹ: “Sự thành công của một người chỉ có mười lăm phần trăm dựa vào kĩ thuật chuyên ngành, còn tám mươi lăm phần trăm còn lại chính là các mối quan hệ giao tiếp và kỹ năng ứng xử của người ấy trong công việc và xã hội.”
Người Việt từ xa xưa cũng đã biết chọn và ưu tiên số một cho việc “Học
ăn, học nói, học gói, học mở” Ông cha ta cũng đã biết nhắc nhở nhau như làmột kinh nghiệm trong cuộc sống: “mồm miệng đỡ tay chân” hay “nói ngọt lọtđến xương”,
Như vậy, vai trò của giao tiếp, ứng xử là rất quan trọng Cũng có nghĩa làviệc rèn luyện kỹ năng giao tiếp với mỗi người, nhất là với lứa tuổi HS THPTtrở nên hết sức cần thiết
2.2 Thực trạng của vấn đề
Kỹ năng giao tiếp không phải do bẩm sinh, di truyền mà nó được hìnhthành, phát triển trong quá trình sống, qua hoạt động, trải nghiệm, học tập, rènluyện của mỗi người
Giáo dục phổ thông nước ta trong những năm vừa qua đã được đổi mới cả
về nội dung và phương pháp gắn với 4 trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI “Học đểbiết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” Trong đó,
“học để chung sống” (learning to live together) gồm các kĩ năng xã hội như:
Ghi chú: Ở mục 2.1: Đoạn “Giao tiếp là… và xã hội” tác giả tự viết, có tham khảo TLTK số
3; Ở mục 2.2: Đoạn cuối trang 3, đầu trang 4 tác giả tự viết, có tham khảo TLTK số 5
giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sựcảm thông,…
Thực trạng hiện nay trong xã hội nói chung, học sinh nói riêng, và nhất làđối với học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, các em đang còn hạn chế rất nhiều
Trang 6về kỹ năng giao tiếp Nhiều em vẫn còn rụt rè, thiếu tự tin không mạnh dạn đứnglên trình bày ý kiến của mình, không dám thẳng thắn phê bình, lên án nhữnghành vi tiêu cực trong tập thể lớp, nói và viết còn vụng về, lúng túng Thậm chívẫn còn những học sinh có những lời nói thô tục, hành vi, cử chỉ chưa đẹp, bạolực học đường vẫn còn xảy ra, Trong các em vẫn còn thiếu rất nhiều những lờinói “cảm ơn”, “xin lỗi” cần thiết trong cuốc sống hằng ngày Tất cả các thựctrạng trên đã đánh mất đi những nét đẹp của học sinh, ảnh hưởng đến bản thâncác em cũng như chất lượng giáo dục, chất lượng cuộc sống nói chung.
Như vậy, việc trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử ngàycàng trở nên cấp thiết đối với thế hệ trẻ Từ nhận thức được tầm quan trọng,đồng thời với kết hợp cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn trên, tôi đã luôn có ý thứctrong việc rèn KN giao tiếp cho HS trong quá trình giảng dạy của mình
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện
Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy, quy trình họctập cũng như môi trường đào tạo Việc rèn KN giao tiếp cho HS cũng phải vừađáp ứng nhu cầu của người học, vừa đảm bảo yêu cầu về nội dung và phươngpháp giáo dục nói chung Trong khuôn khổ một sáng kiến kinh nghiệm và xuấtphát từ đối tượng HS, tôi chỉ đưa ra một số giải pháp mà tôi thấy phù hợp và cóhiệu quả trong quá trình rèn luyện kĩ năng giao tiếp mà chủ yếu là kỹ năng trảlời câu hỏi, trình bày/diễn đạt một vấn đề cho HS
2.3.1 Hướng dẫn học sinh học bài, chuẩn bị bài ở nhà.
Để HS chủ động tiếp cận và có hứng thú với môn học, người thầy cầncung cấp cho các em những phương pháp, cách thức nắm vững kiến thức, màquan trọng là hướng dẫn cho các em cách học bài, chuẩn bị bài ở nhà Làm tốtđiều này, cũng có nghĩa là thầy đã giúp trò hình thành được phương pháp tự học,
từ đó mà chủ động trong việc tiếp nhận kiến thức, góp phần nâng cao hiệu quảgiờ học Ngữ văn Hướng dẫn HS học bài, chuẩn bị bài tức là giao nhiệm vụ họctập cho HS/ nhóm HS Tôi đã làm như sau:
* Giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng
Trang 7Trước hết, phải căn cứ vào mục tiêu hoạt động, trình độ học sinh, thời gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất, để giao nhiệm vụ phù hợp Tiếp
đó, GV phải xác định thật cụ thể nội dung của từng nhiệm vụ; thời gian, địa điểm phương tiện, để HS thực hiện nhiệm vụ Cuối cùng là sản phẩm và cách thức trình bày, đánh giá sản phẩm của cá nhân/ nhóm HS
Tôi thường giao nhiệm vụ cho HS/ nhóm HS như sau:
- Với cá nhân HS:
+ Tìm hiểu những nét cơ bản nhất về tác giả, tác phẩm
+ Tóm tắt tác phẩm/ đoạn trích văn xuôi
+ Thuộc văn bản thơ
+ Trả lời ngắn gọn câu hỏi gợi ý, hướng dẫn học bài trong sgk
- Với tổ/ nhóm HS: thường chuẩn bị nội dung cho các tiết văn học sử:khái quát giai đoạn văn học, tác gia văn học; các bài luyện tập, thực hành tiếng
Việt, làm văn Chẳng hạn trước khi dạy bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945, tôi đã yêu cầu tất cả HS đề phải chuẩn bị bài bằng cách đọc kỹ nội dung và trả lời ngắn gọn 2 câu hỏi Hướng dẫn học bài trong SGK Đồng thời, xác định bài học có bốn nội dung cơ bản nên
tôi đã chia lớp thành bốn nhóm và yêu cầu mỗi nhóm chịu trách nhiệm một nộidung Cụ thể như sau:
+ Về ba đặc điểm cơ bản của Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đếncách mạng tháng Tám năm 1945: Nhóm 1: Đặc điểm 1; Nhóm 2: Đặc điểm 2;Nhóm 3: Đặc điểm 3
+ Về thành tựu chủ yếu của giai đoạn văn học: Nhóm 4
* Thường xuyên nhắc nhở và kiểm tra việc chuẩn bị bài của HS.
Để HS chủ động, tự giác chuẩn bị bài, để có cơ sở ghi nhận và đánh giá ýthức, sự cố gắng cũng như năng lực của HS, GV nên thường xuyên nhắc nhở,kiểm tra việc chuẩn bị bài của các em Bản thân tôi đã từng thực hiện như sau:
- Kiểm tra vở ghi bài trên lớp xem các em có ghi nhiệm vụ của cá nhânhoặc của nhóm mình vào phần dặn dò cuối tiết học hay không?
Trang 8- Kiểm tra vở soạn/ bài tập của HS xem các em đã chuẩn bị bài theo yêucầu của GV chưa?
- Hỏi một HS bất kỳ xem em có nhớ nhiệm vụ của bản thân (tổ/nhóm) đãđược giao là gì không?
Với đối tượng là HS THPT thì không có quy định về việc thu vở và chấmlấy điểm Tuy nhiên, việc kiểm tra vở ghi và vở soạn của HS lại hết sức cầnthiết Bởi môn Ngữ văn là môn học cần ghi chép nhiều Hơn nữa, các bài soạn,bài tập không đơn thuần chỉ là một công thức hay một phép tính mà liên quanđến câu chữ, diễn đạt, và các em thường “ngại” Vì vậy, GV có kiểm tra thì HSmới có ý thức ghi bài và chuẩn bị bài, nhất là với những HS học ban cơ bản A,
B, không có hứng thú và cũng không đầu tư nhiều cho bộ môn Ngữ văn Việckiểm tra thường xuyên cũng rèn cho HS ý thức tự giác chuẩn bị bài, làm bài ởnhà và tạo tâm thế tốt cho các em khi học bài mới
2.3.2 Vận dụng linh hoạt, hiệu quả phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực
Hàng năm, nhằm đáp ứng chuẩn nghề nghiệp cũng như yêu cầu nhiệm vụnăm học, GV đã nghiêm túc tìm tòi, nghiên cứu các tài liệu bồi dưỡng thườngxuyên, trong đó có tài liệu về các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực Có rấtnhiều phương pháp, kỹ thuật, tuy nhiên việc vận dụng như thế nào cho phù hợp
và đạt hiệu quả không hề dễ dàng Bản thân tôi đã vận dụng phương pháp thảoluận nhóm, kỹ thuật “Trình bày một phút” và bước đầu thấy có hiệu quả
2.3.2.1 Phương pháp thảo luận nhóm
Đây là một PPDH mà “HS được phân chia thành từng nhóm nhỏ riêngbiệt, chịu trách nhiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông quanhiệm vụ riêng biệt của từng người Các hoạt động cá nhân riêng biệt được tổchức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung” [4]
Ghi chú: Ở mục 2.3.2.1 đoạn để trong “ ” “HS được mục tiêu chung” tác giả trích nguyên
văn TLTK số 4
Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi HS thamgia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia
Trang 9sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề liên quan đến nộidung bài học; tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhauhợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung [3]
Khi sử dụng phương pháp này, tôi đã tiến hành như sau:
- Bước 1: chia lớp học thành những nhóm nhỏ theo mục đích, yêu cầu; cử cácnhóm trưởng chịu trách nhiệm chính
- Bước 2: giao nhiệm vụ: đề tài, nội dung, phương tiện hỗ trợ,
- Bước 3: đôn đốc, nhắc nhở, kiểm tra (nếu giao nhiệm vụ về nhà); quan sát,nhắc nhở (nếu thảo luận tại lớp)
Trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm
vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Mỗi thành viên trong nhómđều được tham gia bàn luận, được lắng nghe, tránh căng thẳng hoặc có thànhviên tích cực, lại có thành viên lại lười nhác, ỷ lại Khi hết thời gian thảo luận thìđại diện nhóm sẽ trình bày kết quả, các thành viên bổ sung thêm Nếu nhiệm vụđược giao mà khá phức tạp thì mỗi thành viên sẽ trình bày một phần Tiếp theo,các nhóm khác sẽ nhận xét, bổ sung, tranh luận, Cuối cùng GV nhận xét, bổsung, chốt ý, đánh giá và cho điểm [3]
Như đã nói ở trên, với bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945, tôi đã giao nhiệm vụ học tập cho HS
chuẩn bị trước ở nhà, trong đó có nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm HS: Nhóm 1:Đặc điểm 1; Nhóm 2: Đặc điểm 2; Nhóm 3: Đặc điểm 3; Nhóm 4: Về nhữngthành tựu chủ yếu
Với nhiệm vụ được giao, các nhóm HS đã tiếp nhận và thực hiện tươngđối tốt, trong đó, thực hiện tốt nhất là nhóm 1- lớp 11B5: về đặc điểm 1 của giai
Ghi chú:
- Trong trang này, đoạn đầu và đoạn “Trong khoảng cho điểm” mục 2.3.2.1 tác giả tự viết,
có tham khảo TLTK số 3
đoạn văn học Nhóm trưởng Hoàng Thị Hải Anh đã phân công công việc cụ thể
và nhóm thực hiện nghiêm túc, hiệu quả:
Trang 10- Nhóm trưởng Hoàng Thị Hải Anh giới thiệu các thành viên trong nhóm
và nhiệm vụ của nhóm Sau đó em giới thiệu nội dung thứ nhất:
- Khái niệm, cơ sở xã hội của hiện đại hóa văn học do bạn Vũ Ngọc Hảitrình bày
Cứ như thế, lần lượt người trình bày xong nội dung của mình lại tiếp tụcgiới thiệu người tiếp theo trình bày cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ của cảnhóm
- Quá trình hiện đại hóa văn học diễn ra qua ba giai đoạn:
+ Giai đoạn thứ nhất: Nguyễn Khánh Chi, Lê Văn Huy trình bày.+ Giai đoạn thứ hai: Nguyễn Thị Nga, Lại Thị Tuyết Anh trình bày.+ Giai đoạn thứ ba: Lê Thị Thùy Dung, Nguyễn Việt Anh trình bày
- Kết luận, cảm ơn: Hoàng Thị Hải Anh chịu trách nhiệm
Điều quan trọng mà tôi nhận thấy ở đây là sự tự giác, chủ động và sángtạo của các nhóm HS Các em đã trình bày dưới hình thức như một kịch bản với
sự hợp tác cao, phối hợp nhịp nhàng, trình bày mạch lạc, chặt chẽ, sinh động,tạo hứng thú, đem lại hiệu quả cao và góp phần làm nên thành công của giờ học
Trong thực tế giảng dạy, nhiều GV đã sử dụng phương pháp này Tuynhiên, khi dự giờ đồng nghiệp cả ở bộ môn khác, ở một số giờ, tôi thấy cònmang tính hình thức, chưa đem lại hiệu quả cao Đó là tình trạng thảo luận nhómnhưng chỉ có một số người trong mỗi nhóm là làm việc còn những thành viênkhác ngồi chơi hoặc không tích cực Khi nhận xét kết quả có tình trạng qua loa,quá nhanh khiến học sinh trong lớp không nắm bắt được đâu là nội dung đúng,sai, trọng tâm cần nắm Chính vì vậy để phương pháp này đem lại hiệu quả,góp phần rèn luyện kỹ năng trả lời, thuyết trình cho HS, GV cần chủ động tổchức thảo luận nhóm một cách linh hoạt Thành công của bài học phụ thuộc vào
sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi làphương pháp cùng tham gia
Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớphọc, bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên GV phải biết tổ chức hợp lý vàhọc sinh phải là đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả Cần nhớ
Trang 11rằng, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và
ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác, năng lựctrình bày, diễn đạt của các thành viên trong nhóm Tuy nhiên, cũng cần tránh tổchức hoạt động nhóm kiểu hình thức hoặc lạm dụng hoạt động này, cho rằng đó
là dấu hiệu của đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) và cho rằng hoạt độngnhóm càng nhiều thì chứng tỏ PPDH càng đổi mới
Qua quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy việc sử dụng phương pháp thảoluận nhóm ở các bài về tác giả, bài khái quát giai đoạn văn học, các bài luyệntập, thực hành tiếng Việt, làm văn đem lại những hiệu quả nhất định Hoạt độngthảo luận nhóm làm cho giờ học trở nên sôi nổi, sinh động, tạo được sự hứng thúcho HS Mặt khác, khi thảo luận, tranh luận, trả lời về một vấn đề trước tập thể,cũng có nghĩa là các em đang rèn luyện kỹ năng diễn đạt, thuyết trình, kỹ năngthể hiện sự tự tin, là những kỹ năng rất cần thiết, nhất là với HS THPT hiệnnay
2.3.2.2 Kỹ thuật “Trình bày một phút”
Đây là kỹ thuật dùng trong quá trình HS học bài trên lớp, thường là ở hoạtđộng củng cố cuối mỗi tiết học để HS ghi nhớ nội dung cốt lõi và những điềuthu hoạch được Các câu hỏi cũng như các câu trả lời sẽ giúp HS hoàn thiện vàcủng cố kiến thức, đồng thời cũng cho giáo viên thấy được các em đã nắm bắtvấn đề như thế nào Với kỹ thuật này, sau khi tiếp nhận các câu hỏi từ GV, HS
sẽ suy nghĩ và viết ra giấy nháp ý kiến của mình Phần trả lời, trình bày sẽ đượccác cá nhân thực hiện trong thời gian một phút [4]
Chẳng hạn khi đọc hiểu văn bản “Vội vàng” (Xuân Diệu), tôi đặt ra một
số câu hỏi tổng kết và củng cố bài học cho HS: Câu thơ nào, hình ảnh thơ nào
Ghi chú:
- Trong trang này, đoạn đầu mục 2.3.2.2 tác giả tự viết, có tham khảo TLTK số 4
trong bài khiến em ấn tượng, yêu thích nhất? Vì sao? Hoặc: Theo em, qua bàithơ, tác giả gửi tới người đọc thông điệp gì? Hoặc: Em có đồng ý với nhận địnhcủa Hoài Thanh: Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”?