1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp giúp học sinh lớp 12 THPT sửa lỗi lập luận trong đoạn văn nghị luận thông qua giờ trả bài làm văn

24 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 195 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT LÊ VIẾT TẠO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 12 – THPT SỬA LỖI LẬP LUẬN TRONG ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN THÔNG QUA GIỜ TRẢ BÀI

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT LÊ VIẾT TẠO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 12 – THPT SỬA LỖI LẬP LUẬN TRONG ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN

THÔNG QUA GIỜ TRẢ BÀI LÀM VĂN

Người thực hiện: Trương Thị Hồng Chức vụ : Giáo viên- TTCM

SKKN thuộc lĩnh vực(môn) : Ngữ Văn

THANH HÓA, NĂM 2019

Trang 2

MỤC LỤC

II Nội dung “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 12- THPT sửa lỗi

lập luận trong đoạn văn nghị luận thông qua giờ trả bài làm văn” 2

2 3 Một số giải pháp giúp học sinh lớp 12- THPT sửa lỗi lập luận

trong đoạn văn nghị luận thông qua giờ trả bài làm văn 7

2.3.1 Rèn kĩ năng sửa lỗi dựng đoạn qua các bài tập tình huống 7

2.3.2 Tổ chức thảo luận nhóm nhằm phát huy vai trò chủ thể tích cực,

sáng tạo của HS trong việc rèn kĩ năng sửa lỗi dựng đoạn 8

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm trong thực nghiệm dạy học

hướng dẫn học sinh lớp 12- THPT sửa lỗi lập luận trong đoạn văn nghị

luận thông qua giờ trả bài làm văn

11

Trang 3

I MỞ ĐÂU 1.1 Lý do chọn đề tài

Từ xưa tới nay trong việc giáo dục con người, văn chương vẫn được sửdụng như một công cụ đắc hiệu Văn chương có tầm quan trọng trong việc xâydựng và giữ gìn đạo đức xã hội “ văn học là nhân học” Nó không chỉ giáo dục,hình thành nhân cách, lối ứng xử của con người trong xã hội; mà còn cung cấpvốn tri thức phong phú về văn hóa, đời sống xã hội

Cùng với phân môn Văn học và tiếng Việt, làm văn là bộ phận thực hànhquan trọng trong quá trình học tập bộ môn Việc dạy học làm văn trong nhàtrường THPT nhằm rèn luyện cho học sinh kĩ năng tư duy, năng lực cảm thụ,nhận xét, đánh giá, phân tích và bình luận những áng văn hay; khả năng tự mình

đi vào “thẩm thấu” thế giới văn chương nghệ thuật Đồng thời, rèn luyện kĩ năngdiễn đạt, cách đặt câu, cách dùng từ cho đúng, trúng, có thần, có sức gợi; kĩ năngdựng đoạn, hành văn trong sáng, mạch lạc để từ đó viết được những bài nghịluận có giá trị Việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn vì thế là một mắt xích tưởngchừng đơn giản, nhỏ nhặt nhưng vô cùng thiết yếu trong việc lĩnh hội, sáng tạo

văn bản của học sinh

Tuy nhiên, thực tế học văn và viết văn hiện nay của các em học sinh cấpTHPT, đặc biệt với học sinh lớp 12 chuẩn bị đối diện với kì thi cuối cấp THPTquốc gia còn nhiều điều đáng suy nghĩ Hiện tượng học sinh “dị ứng” với mônvăn, không thích học văn hoặc chỉ học vì bị bắt buộc, làm các bài tập cô giáocho về nhà chỉ chiếu lệ, qua loa, đối phó vẫn còn phổ biến Hiện tượng học sinhkhông biết tìm hiểu đề để xác định trọng tâm; bố cục bài văn lủng củng, lộn xộn;đặt câu dùng từ sai, viết những câu văn “bất thành cú”; lập luận trong đoạn văncòn thiếu khoa học, phi lôgíc, thậm chí xa rời thực tế khách quan, chưa biết triểnkhai luận điểm, luận cứ, chưa biết cách dùng lĩ lẽ phân tích và thẩm định dẫnchứng đưa ra vẫn còn tồn tại

Trong khi đó, có không ít giáo viên chưa thực sự coi trọng “giờ trả bài”.Chỉ dạy qua loa chiếu lệ, có trả thì chỉ trả với mục đích để học sinh xem điểm.Chính vì vậy học sinh không nhận thức được những lỗi sai trong bài văn để tìmbiện pháp khắc phục Điều đó dẫn đến hiệu quả của giờ học không cao, chưathực sự có ý nghĩa đối với việc rèn luyện toàn diện cho học sinh

Làm thế nào để học sinh phổ thông có những bài văn nghị luận với nhữngđoạn văn trôi chảy, logíc, mạch lạc? Đó là vấn đề nan giải mà rất nhiều giáo viênđang giảng dạy bộ môn ngữ văn đang đặt ra và muốn tìm hướng giải quyết

Trang 4

Xuất phát từ những lí do trên, bằng kinh nghiệm từ thực tiễn giảng dạy của

bản thân, sau thời gian nghiên cứu, tìm tòi, thể nghiệm, tôi xin đề xuất: Một số

giải pháp giúp học sinh lớp 12- THPT sửa lỗi lập luận trong đoạn văn nghị luận thông qua giờ trả bài làm văn

1.2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua đề tài này, bản thân tôi mong muốn đưa ra một số giải phápmang tính thực nghiệm trong dạy học hướng dẫn học sinh cấp THPT nói chung,học sinh lớp 12 nói riêng sửa lỗi lập luận trong đoạn văn nghị luận thông qua

giờ trả bài làm văn Từ đó trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp trong việc

định hướng, kĩ năng rèn luyện tư duy, kĩ năng thực hành cho học sinh Đồngthời giúp học sinh khối 12 phát triển tư duy, nâng cao năng lực cảm thụ, kĩ năngthực hành có hiệu quả việc sửa lỗi lập luận trong đoạn văn nghị luận thông qua

giờ trả bài làm văn

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Đề tài tập trung nghiên cứu về một số giải pháp giúp học sinh lớp THPT nâng cao hiệu quả thực hành làm văn từ việc sửa lỗi lập luận trong đoạn

12-văn nghị luận thông qua giờ trả bài

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin

- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu

- Phương pháp so sánh, phân loại, phân tích, chứng minh, tổng hợp

- Phương pháp thực nghiệm

II Nội dung “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 12- THPT sửa lỗi lập luận trong đoạn văn nghị luận thông qua giờ trả bài làm văn ”

2.1 Cơ sở lí luận.

2.1.1 Lập luận trong đoạn văn nghị luận

- Khái niệm lập luận

Bàn về lập luận, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều khái niệm mangtính khoa học và thuyết phục cao Nhìn chung, các định nghĩa đều thống nhất ởmặt nội dung về bản chất của lập luận: Lập luận là quá trình đi từ luận cứ đếnkết luận Lập luận là quá trình tổ chức lí lẽ, dẫn chứng để nêu ra luận điểm, làquá trình đào sâu, mở rộng luận điểm chính

- Cấu tạo của lập luận

+ Luận điểm

Luận điểm là ý kiến xác định của người viết về vấn đề được đặt ra, mộtđoạn văn có thể trình bày một luận điểm hoặc nhiều đoạn văn cùng nhau soisáng một luận điểm Muốn chứng minh và làm sáng tỏ luận điểm thì phải đưa ra

Trang 5

hệ thống luận cứ chính xác cùng với các luận chứng cụ thể, đúng đắn để phântích và chứng minh cho luận điểm ấy.

Luận điểm là một mắt xích quan trọng trong quá trình lập luận, vì vậy chỉcần một luận điểm không ăn khớp là cả chuỗi lập luận sẽ bị lỏng lẻo, cả bài văn

sẽ mất tính liên kết

+ Luận cứ

Luận cứ của lập luận là căn cứ để rút ra kết luận Luận cứ bao gồm hailoại: Luận cứ thực tế và luận cứ lí lẽ Luận cứ thực tế là những dẫn chứng đượcrút ra từ thức tiễn của đời sống xã hội hoặc trong các tác phẩm văn học Luận cứ

lí lẽ bao gồm các nguyên lí, chân lí, các ý kiến đã được công nhận được sử dụngnhằm mục đích minh hoạ cho luận điểm Trong nội bộ luận cứ, lí lẽ và dẫnchứng có quan hệ mật thiết với nhau, qui định và soi sáng lẫn nhau để tạo thànhmột chỉnh thể của luận cứ Lí lẽ làm cho dẫn chứng có khả năng thuyết minhcho luận điểm, còn dẫn chứng làm cho lĩ lẽ có nội dung và có sức thuyết phục

Nói chung các luận cứ phải có hiệu lực lập luận để phục vụ cho kết luậncủa đoạn văn, tiến tới phục vụ cho kết luận của văn bản

+ Kết luận

Kết luận là cái đích mà lập luận hướng tới, kết luận có thể là một phánđoán khái quát nhằm khẳng định hay phủ định một vấn đề nào đó Kết luận phảitương hợp với các luận cứ được nêu ra, kết luận phải là hệ quả tất yếu được suy

ra từ các luận cứ, được trình bày phù hợp với lôgíc cuả lập luận, phù hợp vớilôgíc của đời sống Kết luận cũng phải được lựa chọn cho phù hợp với mục đíchcủa lập luận, phù hợp với mục đích thuyết phục của người nói, người viết

Một kết luận có giá trị là kết luận có nội dung đảm bảo tính chân thực,sáng rõ, mạch lạc, thể hiện đầy đủ quan niệm tư tưởng sâu sắc của chủ thể lậpluận Kết luận có thể được trình bày một cách tường minh, có thể do người đọc

tự rút ra từ các luận cứ và nội dung ngữ cảnh (kết luận hàm ẩn)

- Phương pháp lập luận

Phương pháp lập luận là sự phối hợp, tổ chức liên kết các luận cứ theonhững cách thức suy luận nào đấy để dẫn đến kết luận và làm nổi bật kết luận

2.1.2 Những lí luận cơ bản về đoạn văn

- Đoạn văn là sự thống nhất về mặt nội dung và hình thức:

+ Về mặt nội dung: Đoạn văn có thể hoàn chỉnh hoặc không hoàn chỉnh,

sự không hoàn chỉnh này nằm trong ý đồ của người viết chứ không phải là được

Trang 6

tạo ra một cách tuỳ tiện hay vô thức Khi đoạn văn hoàn chỉnh về nội dung đượcgọi là đoạn ý (đoạn tự nghĩa), khi đoạn văn không hoàn chỉnh về nội dung gọi làđoạn lời, đoạn diễn đạt (đoạn hợp nghĩa)

+ Về mặt hình thức: Đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh thể hiện qua dấuhiệu, mở đầu đoạn là sau dấu chấm, viết hoa và lùi vào đầu dòng, cuối đoạn làmột dấu chấm kết thúc

- GS-TS Lê A nêu khái niệm đoạn văn: “Đoạn văn là một bộ phận củavăn bản gồm một chuỗi câu không hạn định, được xây dựng theo một cấu trúc

và theo một nội dung thống nhất (đầy đủ hoặc không đầy đủ) được tách rõ ràng

về mặt hình thức Ở dạng nói, nó có những kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúcbằng chỗ ngắt hơi dài Ở dạng viết, nó bắt đầu bằng dấu mở đoạn (lùi đầu dòng

và viết hoa) và kết thúc bằng dấu hiệu dứt đoạn (dấu ngắt phát ngôn và xuốngdòng)”

2.1.3 Lí luận về dạy học giờ trả bài trong nhà trường THPT

Giờ trả bài mang tính thực hành, là giờ học luyện tập củng cố và hìnhthành kĩ năng, kĩ xảo tạo lập văn bản cho HS Giờ trả bài nếu được tổ chứcgiảng dạy tốt sẽ tạo được nhiều hứng thú học tập cho các em bởi đó là giờ họcmang tính khái quát tổng hợp cao:

Kiến thức của giờ trả bài làm văn mang tính tích hợp của hai bộ môn tiếngViệt và Văn học được giảng dạy trong nhà trường

Giờ trả bài nhằm củng cố, nâng cao các kĩ năng làm văn

Giờ trả bài vừa nâng cao năng lực tư duy, vừa nâng cao năng lực sử dụngngôn ngữ, bồi dưỡng năng lực diễn đạt trong làm văn cho HS Giờ trả bài cònrèn luyện nhiều kĩ năng khác trong đời sống: Năng lực nhận biết cái đúng, cáisai, cái hay, cái đẹp; năng lực đánh giá, phê phán, rút kinh nghiệm…

Giờ trả bài còn mang ý nghĩa giáo dục về nhiều mặt: Tư tưởng, đạo lí,tình cảm, thái độ để từ đó các em HS lựa chọn thái độ và tình cảm sống đúngđắn

Trên đây là những cơ sở lí luận cơ bản mà đề tài lấy làm căn cứ để tiếnhành nghiên cứu

2.2 Thực trạng vấn đề

2.2.1 Thực trạng ra đề thi

Thực tế trong các đề thi hiện nay bao giờ cũng có phần làm văn nghịluận Đặc biệt với học sinh lớp 12 chuẩn bị cho kì thi THPT Quốc gia, với cấutrúc đề qui định của Bộ giáo dục, bên cạnh phần đọc hiểu chiếm tỉ lệ 30% , thì

Trang 7

phần tạo lập văn bản- làm văn chiếm tỉ lệ 70% đều là văn nghị luận Trong đógồm có 2 câu: câu 1: Nghị luận xã hội với yêu cầu viết một đoạn văn( khoảng

200 chữ); câu 2: Nghị luận văn học yêu cầu viết một văn bản Như vậy trang bịkiến thức và kĩ năng về làm văn nghị luận cho học sinh, nhất là học sinh 12 làthực sự rất cần thiết Có như thế mới đáp ứng được yêu cầu dạy học cơ bản, vàcập nhật thực tế ra đề hiện nay

2.2.2 Thực trạng dạy và học thực hành làm văn nghị luận trong các nhà trường THPT hiện nay

a- Về phía giáo viên

Trong thực tế giảng dạy hiện nay, giáo viên gặp phải không ít những khókhăn:

* Phân phối chương trình cho các tiết làm văn không nhiều, thường chỉ có mộttiết cho mỗi bài học, giáo viên “chạy” được lí thuyết, thì đã gần hết thời gianthực hành Hoặc có thêm bài học thực hành làm văn thì cũng chỉ là 1 tiết Nhưvậy, thời gian dành cho việc thực hành là rất hạn chế Thực tế đó cản trở cảngười dạy và người học

* Sự thiếu kiên nhẫn, ngại đầu tư, qua loa chiếu lệ của một bộ phận giáo viên

b- Về phía học sinh

* Kiến thức mơ hồ, tư tưởng ngại học, ngại tư duy, ngại viết bài Khi kiểm tra,học sinh làm mang tính chiếu lệ, hình thức, dẫn đến kết quả bài làm của họcsinh thường không cao Khi đến giờ trả bài, nhiều học sinh chưa thật sự chú tâmtiếp thu, rút kinh nghiệm cho bài làm, chỉ chờ xem cô giáo trả bài được baonhiêu điểm

* Thực tế trong bài làm văn nghị luận, khi viết đoạn văn nghị luận học sinhthường gặp các lỗi lập luận sau:

- Lỗi về nội dung đoạn văn

+ Lỗi liên quan đến việc nêu luận điểm

Luận điểm trùng lặp, không rõ ràng: Là hiện tượng thường gặp, các em

hay bị lặp lại luận điểm hoặc luận điểm không rõ ràng

Luận điểm không phù hợp với bản chất của vấn đề cần giải quyết.

+ Lỗi liên quan đến việc nêu luận cứ

Luận cứ thiếu chính xác, thiếu chân thực: Người viết thường đưa ra

những suy diễn không hợp lí, các lí lẽ và dẫn chứng đưa ra không đúng với quy luậtlôgíc và quy luật khách quan của cuộc sống nên không đủ sức thuyết phục đểhướng tới kết luận Nhìn chung suy diễn trong đoạn văn là thiếu căn cứ

Luận cứ mơ hồ không làm sáng rõ luận điểm, đoạn văn có quá nhiều

luận cứ lạc xa với luận điểm được nêu trong câu chủ đề, mở ra quá nhiều ý phụ

Sự lấn át về mặt số lượng của các luận cứ phụ khiến nội dung của đoạn văn bị

vỡ ra, dàn trải và phân tán gây nên hiện tượng luận cứ mơ hồ, khó hiểu

Trang 8

Luận cứ không phù hợp với kết luận: luận cứ đưa ra không ăn khớp,

không phù hợp với cái đích của lập luận, luận cứ không đồng hướng với kết luậnhoặc không liên quan gì đến kết luận Luận cứ và kết luận mâu thuẫn với nhaulàm rối loạn ý, diễn đạt không thoát ý

Luận cứ tương phản, mâu thuẫn: Là trường hợp các ý trong đoạn văn

có nội dung tương phản, trái ngược nhau, không ăn khớp với nhau; phủ nhậnlẫn nhau hoặc không phù hợp với luận điểm chính của đoạn Luận cứ tươngphản gây sự luẩn quẩn, khó hiểu, khó nắm bắt chủ đề đoạn văn

+ Lỗi kết luận

Lập luận có kết luận không rõ ràng: Nội dung của kết luận không rành

mạch, cụ thể, không tóm tắt được những luận điểm, luận cứ đã nêu trong đoạn

mà thường lan man, dài dòng, không nêu được ý kiến, nhận định, đánh giá vềvấn đề được đặt ra Kết luận không rõ ràng thì dù vấn đề đưa ra có mới mẻ đếnđâu cũng không thuyết phục được người đọc

Lập luận thiếu kết luận: Kết luận chính là cái đích mà lập luận hướng

tới, thiếu kết luận thì bài viết dù có dài, luận cứ có xác đáng thì lập luận cũng trởnên vô nghĩa Thiếu đích lập luận thì đoạn văn không có giá trị và không đạtđược hiệu quả giao tiếp

- Lỗi về hình thức đoạn văn:

+ Lỗi về từ

+ Lỗi về ngữ pháp

+ Lỗi tách đoạn

Đoạn có dung lượng quá lớn : Học sinh rất hay mắc loại lỗi này vì

thường là các em không có ý thức viết đoạn văn và triển khai luận điểm, luận cứthành từng đoạn văn ngắn Mặt khác, rất nhiều em học sinh còn nghĩ trong bàivăn chỉ cần có ba lần xuống dòng, đó là sau mở bài, thân bài và kết luận

Đoạn có dung lượng nhỏ, ngắt đoạn chưa hợp lí, chưa đảm bảo yêu cầu

về dung lượng của đoạn văn

Đầu năm học, tôi tiến hành kiểm tra khảo sát chất lượng làm văn bằngviệc viết một đoạn văn nghị luận văn học ở các lớp trực tiếp giảng dạy, kết quảthu được không mấy khả quan Mặc dù đã là học sinh cuối cấp nhưng nhiều emcòn chưa biết cách triển khai đoạn văn, chưa biết cách trình bày hình thức mộtđoạn văn Kết quả cụ thể như sau:

Trang 9

Lớp Sĩ số Điểm 9-10 Điểm 7- 8 Điểm 5-6 Điểm 3-4 Điểm 1-212C 42 0 5- 11,9% 15- 35,7% 22-53,4% 0

12D 45 0 6- 13,3% 17- 37,7% 20-45,6% 2- 4,4%12E 38 0 3- 7,8% 11- 28,9% 22-39% 2- 5,3%Tổng % 125 0 14- 12,2% 43-34,4% 64-50,2% 4-3,2%

Xuất phát từ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn trên đây, bằng kinh nghiệmcủa bản thân qua nhiều năm giảng dạy kết hợp với sự trao đổi, tham khảo ý kiếncủa các đồng nghiệp, tôi mạnh dạn áp dụng ý tưởng của mình, đưa ra một số giảipháp nhằm giúp học sinh 12- THPT sửa lỗi lập luận trong đoạn văn nghị luậnthông qua giờ trả bài

2 3 Một số giải pháp giúp học sinh lớp 12- THPT sửa lỗi lập luận trong đoạn văn nghị luận thông qua giờ trả bài làm văn

2.3.1 Rèn kĩ năng sửa lỗi dựng đoạn qua các bài tập tình huống

Để áp dụng biện pháp này, tôi đưa ra các bài tập tình huống là các đoạnvăn mắc lỗi, cho HS thảo luận, nhận diện, nhằm tạo tình huống học tập Từ đó,

HS thảo luận, đánh giá các loại lỗi và xây dựng lại đoạn văn đúng để hình thànhphương pháp viết đoạn văn đạt chuẩn

Ví dụ:

+ GV cho bài tập tình huống để rèn kĩ năng sửa lỗi dựng đoạn cho HS

GV phát phiếu học tập, trong đó ghi những đoạn văn mắc lỗi cho HS thảoluận, nhận diện, chỉ ra các lỗi và sửa lại cho đúng

Đoạn văn: “(1) Sông Hương chính là dòng sông của thời gian ngân vang

sử thi (2) Vì thế nó mang vẻ đẹp của một thiếu nữ di gan dịu dàng phóngkhoáng và man dại, vẻ đẹp của một người con gái dịu dàng của thành phố Huế.(3) Đây chính là vẻ đẹp khác thường nhưng rất giản dị của dòng sông Hương.(4) Vẻ đẹp của một thiếu nữ dịu dàng, duyên dáng, vẻ đẹp trí tuệ như một người

mẹ phù sa của vùng văn hoá xứ sở.”

+ HS nhận xét: Đoạn văn gồm 4 câu văn, lập luận rõ ràng, mạch lạc Luận

điểm chính là tính sử thi của dòng sông Hương nhưng các luận cứ đều không tậptrung làm sáng tỏ luận điểm chính mà triển khai rất lan man, lạc hướng

+ HS thảo luận để sửa lỗi đoạn văn: Cần sửa lại luận điểm chính ở câu 1

cho phù hợp với nội dung các luận cứ trong đoạn, các câu còn lại cũng phải

Trang 10

chỉnh sửa cho hợp lí hơn để đảm bảo đoạn văn thống nhất về đề tài: Vẻ đẹp sửthi và vẻ đẹp giản dị đời thường của dòng sông Hương.

+ Đoạn văn đã sửa lại : “(1) Sông Hương chính là dòng sông của thời

gian ngân vang sử thi và cũng mang vẻ đẹp của cuộc sống dung dị đời thường (2) Vì thế khi nghe lời gọi của đất nước, nó biết cách tự hiến đời mình để làm nên những chiến công chói lọi, oai hùng trong lịch sử để rồi lại trở về với cuộc sống đời thường làm một người con gái dịu dàng của thành phố Huế (3) Sông Hương mang vẻ đẹp của một thiếu nữ di gan dịu dàng và man dại, vẻ đẹp trí tuệ như một người mẹ phù sa của vùng văn hoá xứ sở (4) Sông Hương quả thực mang vẻ đẹp của màu sắc sử thi nhưng cũng rất giản dị đời thường.”

2.3.2 Tổ chức thảo luận nhóm nhằm phát huy vai trò chủ thể tích

cực, sáng tạo của HS trong việc rèn kĩ năng sửa lỗi dựng đoạn

Bước 1: GV chia lớp thành nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn

- Chia nhóm nhỏ: GV có thể chia lớp thành 4 đến 6 nhóm Mỗi nhóm 6

HS theo bàn ngồi học ở lớp hay chia theo trình độ HS và cử một nhóm trưởng :Nhóm trưởng phải là HS khá giỏi, có tinh thần trách nhiệm và có năng lực tổchức, điều khiển các bạn và bao quát được buổi thảo luận

- GV cũng có thể để cả lớp thảo luận, đó là nhóm lớn

Bước 2: GV phát phiếu học tập ghi các đoạn văn mắc lỗi, mỗi nhóm chịu

trách nhiệm một đoạn văn mắc lỗi

Bước 3: HS thảo luận, nhận diện, đánh giá, phân tích các lỗi sai, tự tìm

cách sửa Sau đó, cả nhóm sửa lại những lỗi sai và viết lại đoạn văn đúng

Ví dụ: GV cho HS sửa lỗi đoạn văn sau :

“(1) Hai chị em Chiến và Việt đã thu xếp mọi việc gia đình rất chu đáo:Cho em út sang ở với chú Năm, còn cái nhà này ba má làm ra đó thì cho các anh

ở xã mượn mở trường học, giưòng ván cũng cho xã mượn, ruộng nương thì chiacho người làng mướn (2) Lo toan việc nhà ổn thoả, hai chị em ra chiến trườngchiến đấu (3)Việc đó đủ để thấy hai chị em Việt và Chiến có một tấm lòng nhânhậu, vị tha, biết thương người.”

Nhóm trưởng hướng dẫn cả nhóm phân tích lỗi: Người viết có đưa ra

kết luận ở câu 3 nhưng kết luận không phù hợp với nội dung các luận cứ trongđoạn Vì vậy lập luận còn thiếu kết luận cần phải được bổ sung kết luận phù hợpcho nội dung đoạn văn rõ ràng hơn

Trang 11

Đề xuất cách sửa: Viết thêm kết luận cho phù hợp với nội dung các luận

cứ của đoạn văn

Bước 4: Nhóm trưởng các nhóm lần lượt trình bày những đánh giá của

nhóm về đoạn văn mắc lỗi, đưa ra phương hướng sửa lỗi cho các đoạn văn đó vàtrình bày lại đoạn văn đúng mà nhóm mình đã sửa Dựa trên phần chuẩn bị, các

em có thể trình chiếu bằng máy chiếu phần phân tích lỗi sai và phương hướngsửa lỗi của đoạn văn của mỗi nhóm

Bước 5: Giáo viên kết luận, đánh giá, nhận xét chung về cách sửa lỗi

đoạn văn của các em Thống nhất cách sửa lỗi để có đoạn văn đạt chuẩn theoyêu cầu, dựng mô hình đoạn văn đúng và chuẩn xác

Đoạn văn trên được sửa như sau : “(1) Hai chị em Chiến và Việt đã thu xếp mọi việc gia đình rất chu đáo: Cho em út sang ở với chú Năm, còn cái nhà này, ba má làm ra đó thì cho các anh ở xã mượn mở trường học, giưòng ván cũng cho xã mượn, ruộng nương thì chia cho người làng mướn (2) Lo toan việc nhà ổn thoả, hai chị em ra chiến trường chiến đấu (3)Việc đó cho thấy hai chị

em Việt và Chiến đã sắp xếp việc nhà rất cẩn thận và chu đáo trước khi ra chiến trường, dấn thân vào hiểm nguy để chiến đấu trả thù cho quê hương đất nước

và gia đình.”

Bước 6: GV cho bài tập về nhà bằng cách lấy các đoạn văn cụ thể trong

bài làm của HS để các nhóm tự sửa, sau đó, GV thu bài về chấm

Ví dụ:

* Đoạn văn 1: “(1) Giá trị nhân đạo của tác phẩm được thể hiện qua cái

nhìn đầy trìu mến, đầy cảm thông, thương xót của Tô Hoài khi viết về đồng bàodân tộc miền núi (2) Những chàng trai, cô gái Mèo của ông rất đẹp (3) Tuynghèo khổ nhưng họ là những con người đẹp người, đẹp nết, dũng cảm, yêu lao

động, yêu đời.(3) Ta có thể thấy được vẻ đẹp đó qua các từ ngữ: “Mị thổi sáo rất

giỏi”, “có biết bao người mê”, “trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng mị”.(4) Còn A Phủ là chàng trai có biết bao cô gái ao ước: “A Phủ khoẻ mạnh, chạynhanh như ngựa”, “biết đục lưỡi cày, biết đục cuốc, cày giỏi và đi săn bò tót rất

bạo” (5) Không chỉ là nét đẹp bên ngoài mà Tô Hoài còn tìm thấy ở họ những phẩm chất tốt đẹp của họ A Phủ dám đánh lại con nhà có quyền thế, giàu có để

bảo vệ cho lẽ phải, không hề khóc lóc van xin khi bị cha con thống lí đánh đập

dã man (6) Bên ngoài cái xác không hồn, Tô Hoài còn tìm thấy một sức sống

tiềm tàng, một ngọn lửa hi vọng được tự do, tìm hạnh phúc cho chính mình vẫn

còn âm ỉ trong Mị (7) Và hơn thế là sự yêu thương đồng cảm với những người cùng khổ.”

Trang 12

Kết quả phân tích lỗi của HS: Đoạn văn viết về lòng cảm thông thương

xót của nhà văn Tô Hoài nhưng các luận cứ lại chứng minh vẻ đẹp tâm hồn,phẩm chất của Mị và A Phủ, câu 7 hoàn toàn không liên kết với những câu trước

đó Ngoài ra đoạn văn còn rất lủng củng, lỗi hành văn diễn đạt, dùng từ, bố cụcchưa hợp lí

HS sửa lỗi: Nên sửa lại luận điểm chính ở câu 1 cho phù hợp với nội

dung đoạn văn, bỏ bớt câu văn số 7 cho nội dung đoạn thống nhất Sửa lạinhững lỗi về từ ngữ, câu văn, liên kết câu và liên kết mạch văn

GV chọn bài sửa khá nhất và công bố trước lớp

“(1) Giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện ở niềm trân trọng, cảm mến;

ở sự khẳng định vẻ đẹp tài năng, vẻ đẹp tâm hồn của những chàng trai cô gái Mèo (2) Những chàng trai, cô gái Mèo tuy nghèo khổ nhưng lại là những con người đẹp người, đẹp nết, dũng cảm, yêu lao động, yêu đời (3) Ta có thể thấy được vẻ đẹp đó qua cách miêu tả: “Mị thổi sáo rất giỏi”, “có biết bao người mê”, “trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng mị” (4) Còn A Phủ là chàng trai có biết bao cô gái ao ước: “ A Phủ khoẻ mạnh, chạy nhanh như ngựa”, “biết đục lưỡi cày, biết đục cuốc, cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo” (5) Không chỉ là nét đẹp bên ngoài mà Tô Hoài còn tìm thấy ở họ những phẩm chất tốt đẹp của người lao động.(6) Trong cái dáng vẻ lặng lẽ cam chịu nhẫn nhục của một kiếp nô lệ, Mị vẫn tiềm ẩn một sức sống tiềm tàng, một ngọn lửa của khát vọng tự do, khát vọng tìm lại hạnh phúc cho chính mình (7) Còn A Phủ lại dám đánh lại con nhà có quyền thế, giàu có để bảo vệ cho lẽ phải, không hề khóc lóc van xin khi bị cha con thống lí đánh đập dã man, khi được giải thoát

đã quật sức vung lên chạy đến với tự do.”

* Đoạn văn 2: “(1) Trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

thực sự đã có một dòng sông của truyền thống gia đình (2) Đó chính là Chiến

và Việt, cả hai đều có một mối thù sâu nặng đối với giặc Mỹ và có lòng yêu

nước thuỷ chung son sắc (3) Cả hai đề quyết tâm ra trận chiến đấu để đền nợnước, trả thù nhà.”

HS phân tích lỗi: Đoạn văn gồm 3 câu, luận điểm đưa ra là dòng sông

truyền thống gia đình nhưng người viết khẳng định dòng sông đó là hai chị emChiến và Việt là chưa chính xác Đó là một truyền thống gia đình từ thời ông bà,cha mẹ, chú Năm rồi mới đến hai chị em Chiến và Việt

HS sửa lỗi, GV chọn đoạn sửa tốt để đọc trước lớp:“ (1) Trong truyện

ngắn “Những đứa con trong gia đình”, thực sự đã có một dòng sông của truyền thống gia đình (2) Đó là dòng sông chảy từ thế hệ này sang thế hệ khác, bắt

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w