1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

“ sử dụng kiến thức văn học trong giảng dạy chủ đề tiêu hóa chương 1 sinh học 11 để nâng cao hứng thú cho học sinh

37 142 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 563,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 4 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG KIẾN THỨC VĂN HỌC TRONG GIẢNG DẠY CHỦ ĐỀ TIÊU HÓA- CHƯƠNG 1- SINH HỌC 11 ĐỂ NÂNG CAO HỨNG THÚ CHO H

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 4

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG KIẾN THỨC VĂN HỌC TRONG GIẢNG DẠY CHỦ ĐỀ TIÊU HÓA- CHƯƠNG 1- SINH HỌC 11 ĐỂ

NÂNG CAO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH

Người thực hiện: Trần Thị Thủy Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực: Sinh học

THANH HOÁ, NĂM 2019

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

1 MỞ ĐẦU 2

1.1 Lí do chọn đề tài 2

1.2 Mục đích nghiên cứu 4

1.3 Đối tượng nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 5

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 5

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 6

2.3.1 Mối liên hệ giữa văn học dân gian và dạy học sinh học 6

2.3.2 Sử dụng trong giới thiệu đơn vị kiến thức mới 7

2.3.4 Sử dụng trong củng cố kiến thức 15

Trang 3

2.3.5 Sử dụng trong mở rộng tìm tòi 16

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 17

2.4.1 Kết quả định lượng 17

2.4.2 Kết quả định tính 18

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 4

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Vấn đề đổi mới giáo dục THPT đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu,chương trình, nội dung, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học đến cáchthức đánh giá kết quả dạy học, trong đó khâu đột phá là đổi mới phương phápdạy học

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháptruyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy họchiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp với phương pháp dạy học hiệnđại

Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển biến từchương trình tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từchỗ quan tâm học sinh (HS) học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụngđược cái gì qua việc học Để đảm bảo mục tiêu đó, phải chuyển từ phương pháp

dạy học theo lối “chuyền thụ một chiểu”, “nhồi nhét”[6] sang dạy cách học.

Tăng cường việc học tập nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – Học sinh theohướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội.Bên cạnhviệc học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần

bổ sung các chủ đề học tập tích hợp, liên môn nhằm phát triển năng lực giảiquyết các vấn đề phức hợp phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động củangười học, hình thành và phát triển năng lực tự học (Sử dụng sách giáo khoa,nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin…) Có thể lựa chọn một cách linh hoạt cácphương pháp chung và phương pháp đặc thù bộ môn để thực hiện Tuy nhiên dù

sử dụng bất kì phương pháp nào cũng phải đảm bảo nguyên tắc “Học sinh tựmình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức hướng dẫn của giáo

viên”[7].

Có thể nói, Sinh học là môn học mà HS ngại và khó học nhất trong trườngphổ thông vì đó là môn khoa học thực nghiệm, là môn KHTN nhưng lượng lí

Trang 5

thuyết nhiều, khô khan, bài tập ít Gần như sách giáo khoa (SGK)chỉ đề cập lí

thuyết mà không có các dạng bài tập cụ thể khó gây hứng thú cho HS[4].

Mặt khác trong những năm gần đây, xu thế đề thi môn Sinh trong kỳ thiTHPT quốc gia ngày càng dài và khó HS khối B mục tiêu hàng đầu là cáctrường Y nhưng những trường này điểm chuẩn rất cao, những trường khác cơhội tìm kiếm việc làm là rất thấp, do đó số HS chọn thi khối B càng ít, môn Sinhlại càng không quan trọng với các em học sinh Mạt khác, đề thi THPT quốc giacủa môn sinh có nội dung kiến thức trọng tâm vào chương trình 12, chỉ có mộtphần nhỏ liên quan đến chương trình Sinh học 11, nên đối với cả HS chọn khối

B thi THPT quốc gia chương trình Sinh học 11 cũng được quan tâm một cáchchiếu lệ, đặc biệt “Chương chuyển hóa vật chất và năng lượng” Vì vậy việc tạohứng thú cho HS khi học Sinh học 11 là rất quan trọng, đòi hỏi mỗi thầy cô giáotìm được những phương pháp dạy học phù hợp, kích thích được tư duy tìm tòi,sáng tạo của HS, từ đó hình thành nên sự đam mê và tình yêu đối với bộ mônSinh học, để HS không quay lưng lại với môn Sinh học nói riêng và khối B nóichung Do đó nếu người dạy không đổi mới phương pháp dạy học mà cứ dạytheo phương pháp truyền thống sẽ gây nhàm chán cho HS Qua thực tế giảngdạy trong những năm qua cho thấy nhiều em HS, đặc biệt là HS học định hướng

xã hội ít có hứng thú, ham thích trong việc học tập, khám phá, tìm hiểu các hiệntượng sinh học xung quanh, khi tiếp xúc với những vấn đề thực tiễn các emthường thờ ơ, lúng túng

Chúng ta cũng biết rằng, ngoài hệ thống tri thức mang tính khoa học đượcthể hiện trong sách giáo khoa, các tài liệu, tri thức bộ môn còn thể hiện rất nhiều

ở hệ thống kinh nghiệm mà ông cha chúng ta đúc rút trong ca dao, tục ngữ, thơ,ca…Có nhiều kiến thức Sinh học được thể hiện trong ca dao, tục ngữ, bài văn,bài thơ nếu khai thác sẽ đem lại hiệu quả rất cao, không chỉ khắc sâu được kiếnthức, mà còn tạo hứng thú cho HS giúp HS tiếp cận các vấn đề thực tế dễ dànghơn, để tiết học thêm sinh động

Trang 6

Sinh học 11 đi sâu vào lĩnh vực khó và lí thú của Sinh học đó là sinh học

cơ thể thực vật và động vật[1] Trong đó có kiến thức về tiêu hóa ở động vật- Là

đối tượng gần gũi với đời sống hằng ngày của HS do đó HS dễ liên hệ thực tế

Với những lí do đó tôi chọn đề tài: “ Sử dụng kiến thức văn học trong giảng

dạy chủ đề tiêu hóa - Chương 1-Sinh học 11 để nâng cao hứng thú cho học sinh”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập của họcsinh đối với bộ môn Sinh học, được thực hiện thông qua việc sử dụng tư liệuvăn học liên quan có các kiến thức gần gũi với các em như các bài ca dao, tụcngữ, truyện, thơ, ca, hò, vè,… từ đó nâng cao chất lượng của học sinh và côngtác giảng dạy của bộ môn

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp sử dụng lồng ghép kiến thức liên môn (văn học mà chủ yếu

là văn học dân gian) vào giảng dạy sinh học

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin

Trang 7

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Văn học dân giancó giá trị to lớn về mặt trí tuệ, tình cảm và nghệ thuật

Do đặc điểm nội dung và hình thức thường ngắn gọn, dễ nhớ nên nó luôn luônđược nhân dân vận dụng, truyền miệng qua nhiều thế hệ Văn học dân gian thểhiện một phần quan trọng của tư liệu khoa học dân gian và triết lý dân gian gắnvới lao động, với tự nhiên và những thăng trầm của lịch sử, xã hội, nhân dân đãbộc lộ một cách sâu sắc kinh nghiệm sống, lối sống,tư tưởng đạo đức của mình.Những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ ngoài việc ôn lại cho học sinh kiến thứcvăn học còn giúp học sinh giải thích những kinh nghiệm, hiện tượng, đặc điểm

mà cha ông ta đã đúc kết qua nhiều thế hệ trên cơ sở khoa học Hơn thế nữa đólại là những vấn đề hết sức gần gũi với cuộc sống thường ngày của học sinh nên

dễ tạo được cảm xúc, hứng thú để học tập Mặt khác các tác phẩm văn học là

“con đẻ” tinh thần của tác giả được

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Chúng ta biết rằng bộ môn sinh học không chỉ liên quan mật thiết với các

bộ môn thuộc khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa mà còn gắn bó với các bộmôn thuộc khoa học xã hội như Văn, Giáo dục công dân Vấn đề đặt ra là chúng

ta cần khai thác mối liên hệ đó như thế nào, đảm bảo tính tích hợp trong quátrình dạy học ra làm sao để nâng cao hiệu quả của từng tiết dạy Qua thực tếgiảng dạy tôi thấy, nếu giáo viên biết kết hợp giữa kiến thức bộ môn với văn họcdân gian thì hứng thú học tập của học sinh sẽ tăng lên rất nhiều, đặc biệt đối vớiđối tượng là các em học sinh học định hướng khoa học xã hội

Ta đã biết rằng bất kỳ làm việc gì nếu có hứng thú thì sẽ đi đến thành công, đặcbiệt là đối với công tác giáo dục trong nhà trường, các phương pháp giáodục, phương thức giáo dục của các thầy cô giáo ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếpthu kiến thức và hình thành kĩ năng cho học sinh, người giáo viên phải biết khaithác những lợi thế, những điểm mạnh của các em dựa trên tâm sinh lí lứa tuổi,của các em, tạo cho các em lòng đam mê sáng tạo, nghiên cứu khoa học Vì vậy,

Trang 8

nếu một hoạt động nào mà các em cảm thấy hứng thú thì các em hoạt động, họctập sẽ rất hăng say, nhiệt tình, hiệu quả cao

Môn học nào cũng có khả năng gây hứng thú cho học sinh Là một giáoviên giảng dạy bộ môn sinh học, bản thân tôi nhận thấy đó là một trong nhữngyếu tố hết sức quan trọng, nó góp phần vào công tác giáo dục cho học sinh, nângcao chất lượng giáo dục, đồng thời tháo gỡ được những nghi ngờ và thờ ơ củacác em trong việc học sinh học, giúp các em thấy được những lợi ích vai trò củamôn sinh học trong cuộc sống và công việc

Nhiều giáo viên chưa thực sự đầu tư đổi mới kiểm tra đánh giá và áp dụng rộngrãi CNTT

Bên cạnh đó một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thực trạng dạy họcSinh học 11 như trên là do hiện nay môn này không được HS coi là môn họcchính vì khó học nên rất nhiều em không sử dụng môn này để thi ĐH cũngkhông thi tốt nghiệp, (đặc biệt là đối với trường tôi – chất lượng đầu vào khôngcao, HS có tư duy tự nhiên yếu nên đa số các em chọn các môn xã hội để thi)

Đối với các em sử dụng môn Sinh để thi thường cũng không chú trọng tớichương trình Sinh học 11 vì nội dung thi nằm ở chương trình 12 là chủ yếu Từ

đó đã hình thành nên suy nghĩ buông lỏng, thả trôi trong ý thức học tập củanhiều em HS

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Mối liên hệ giữa văn học dân gian và dạy học sinh học

Theo tôi thì giữa văn học và sinh học có mối quan hệ mật thiết với nhau,việc kết hợp giữa văn học và sinh học là một cách làm rất tốt, hiệu quả để gâyhứng thú cho việc học môn Sinh học của học sinh Hơn nữa, trong dạyhọc chúng ta cũng phải biết kết hợp những tri thức, kiến thức liên môn, làm chomôn học của mình có chiều sâu, các môn học có thể bổ trợ cho nhau về kiếnthức, làm cho bài dạy trở nên sinh động, khai thác triệt để được những nội dung

mà bài học cần đề cập tới Vấn đề là người giáo viên phải kết hợp nó như thếnào cho hiệu quả, để làm sáng tỏ được những kiến thức Sinh học mà lại không

Trang 9

sa đà vào văn học, không làm mất đi tính đặc thù của môn Sinh học Sử dụngvăn học dân gian trong dạy học sinh học còn góp phần thể hiện mối liên hệ chặtchẽ giữ các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

Văn học là môn khoa học xã hội phản ánh cuộc sống còn sinh học là mônkhoa học nghiên cứu về sự sống Do đó, hai môn học có mối liên hệ chặt chẽ vớinhau Trong quá trình giảng dạy sinh học có sử dụng văn học sẽ làm rõ thêmkiến thức của cả hai môn và tính thực tiễn của từng môn học đồng thời, chỉ ramối liên hệ chặt chẽ giữa các môn tự nhiên và xã hội

2.3.2 Sử dụng trong giới thiệu đơn vị kiến thức mới

Ví dụ 1:

Sử dụng câu tục ngữ: “ Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng”[2].

GV: Từ xa xưa, ông cha ta đã có câu tục ngữ “Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm

ăn cơm đứng” Theo em thì câu nói này có ý nghĩa như thế nào?

HS: Giải thích theo hiểu biết của mình

GV: Câu tục ngữ trên có ý nghĩa:vì lợn đói bữa phải ăn muộn một chút cũngkhông ảnh hưởng gì Nhưng nuôi tằm thì luôn bận rộn bởi vì tằm đứt bữa hoặcthiếu ăn thì chất lượng kén rất thấp hoặc chúng có thể chết hàng loạt Nuôi lợnnhàn nhã hơn Sự khác nhau đó chủ yếu do quá trình tiêu hóa Vậy tiêu hóa làgì?Đặc điểm của quá trình tiêu hóa, tiêu hóa ở các nhóm động vật khác nhaunhư thế nào?

2.3.3 Sử dụng trong tìm hiểu kiến thức mới

2.3.3.1 Sử dụng văn học dân gian để hình thành khái niệm tiêu hóa

Ví dụ 2: Sử dụng câu tục ngữ: “ Nhai kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa”[2].

GV: Từ xa xưa, ông cha ta đã có câu tục ngữ “Nhai kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa”.

Theo em thì câu nói này có ý nghĩa như thế nào?

HS: Giải thích theo hiểu biết của mình

GV: Câu tục ngữ trên có ý nghĩa: về mặt sinh học, khi nhai kĩ thức ăn được nghiền nát thành những mảnh nhỏ, sẽ dễ thấm dịch vị và enzim, sẽ dẫn tới hiệu quả tiêu hóa thức ăn cao, bổ sung nhiều năng lượng cho cơ thể và no lâu Ngoài

Trang 10

ra thức ăn được nghiền nhỏ ở miệng góp phần giảm gánh nặng cho dạ dày, cơ thể đỡ tiêu tốn năng lượng cho hoạt động tiêu hóa cơ học ở dạ dày

Nhai kĩ no lâu là hiện tượng thức ăn khi vào miệng lúc ăn, cơ thể chúng ta

sẽ tiết ra một loại enzim có trong nước bọt (amilaza) tiêu hóa thức ăn trước khi đẩy xuống dạ dày

Nhai kĩ giúp cho quá trình phân hủy tinh bột -> đường mantozo-> đường glucozo, dễ hấp thụ tại ruột non Quá trình đó được gọi là tiêu hóa Vậy tiêu hóa

Ví dụ 3:

GV giới thiệu cho HS câu chuyện cổ tích: “ Dê đen và dê trắng”

“Dê đen và Dê trắng cùng sống trong một khu rừng Hàng ngày, cả hai thườngđến uống nước và tìm cái ăn ở trong khu rừng quen thuộc

Một hôm, Dê trắng đi tìm cái ăn và uống nước suối như mọi khi Dê đang mải

mê ngặm cỏ, bất chợt một con Sói ở đâu nhảy xổ ra …

- Hahaha Sói cười vang rồi ăn thịt chú Dê trắng tội nghiệp

…Dê đen cũng đi tới khu rừng để ăn cỏ non và uống nước suối Đang tha thẩn ngặm cỏ, chợt Sói xuất hiện, nó quát hỏi: …”[3]

(Trích truyện cổ tích dê đen và dê trắng)

GV : Qua câu chuyện trên hãy nêu sự khác nhau ngồn thức ăn của Dê và Sói ?

HS thảo luận trả lời Thức ăn của dê: cỏ, các loài thực vật, nghèo dinh dưỡng nên ruột của dê dài

Thức ăn của sói: Thịt, giàu dinh dưỡng và ruột ngắn.

Trang 11

Ví dụ 4:GV: Giới thiệu cho học sinh câu truyện cười dân gian:

TRUYỆN TRẠNG QUỲNH

ĂN TRỘM MÈO CỦA CHÚA

Phủ Chúa có nuôi một con mèo tam thể quý lắm, xích bằng xích vàng và cho

ăn toàn những đồ cao lương mỹ vị

Quỳnh vào chầu, trông thấy, liền tìm cách bắt trộm về, cất xích vàng đi buộcbằng xích sắt, nhốt lại Đến bữa đợi cho con mèo thật đói, Quỳnh để hai cái đĩa,

một đĩa cơm trộn thịt cá và một đĩa cơm trộn rau Mèo nhà vua quen ăn

miếng ngon chạy đến chỗ thịt cá chực ăn Quỳnh cầm sẵn roi, hễ ăn thì đánh.

Mèo đói quá, phải ăn đĩa cơm rau Dạy như vậy được một thời gian, mèo quendần, không bao giờ dám gì ngoài rau nữa mới thả ra

Chúa mất mèo, tiếc quá, cho người đi tìm, thấy nhà Quỳnh có một con mèotam thể giống như hệt, nghi lắm, bắt Quỳnh mang mèo vào chầu Chúa xemmèo, hỏi:

- Sao nó giống mèo của Trẫm thế? Hay khanh thấy mèo của Trẫm đẹp bắt về,nói cho thật!

- Tâu bệ hạ, bệ hạ nghi cho hạ thần bắt trộm, thật là oan, xin bệ hạ đem ra thửthì biết

- Thử thế nào? Nói cho Trẫm nghe

- Muôn tâu bệ hạ, bệ hạ phú quý thì mèo ăn thịt ăn cá, còn hạ thần nghèo túng

thì mèo ăn cơm trộn với đầu tôm, rau luộc Bây giờ để hai bát cơm ấy, xem

nó ăn bát nào thì biết ngay

Chúa sai làm thử Con mèo chạy thẳng đến bát cơm rau, ăn sạch Quỳnh

nói:

- Xin bệ hạ lượng cho, người ta phú qúy thì cao lương mỹ vị, bần tiện thì cơmhẩm rau dưa Mèo cũng vậy, phải theo chủ

Rồi lạy tạ, đem mèo về[8].

(Theo Truyện cười dân gian Việt Nam)

Trang 12

Hãy cho biết mèo thuộc nhóm động vật nào? Lấy các ví dụ minh chứng trong câu chuyện.

* Đặc điểm tiêu hóa của thú ăn thịt:

GV thú ăn thịt có nguồn thức ăn là thịt, giàu dinh dưỡng nên ruột ngắn Các nhóm động vật khác nhau thì hình thức ăn mồi khác nhau Có nhóm thì cắn con mồi thành từng miếng nhỏ, có nhóm chỉ ăn phần thịt của con mồi, có nhóm thì nuốt chửng con mồi…

Ví dụ 5: GV yêu cầu HS sử dụng câu chuyện : “ Cô bé quàng khăn đỏ”

“…Khăn đỏ tung tăng đi hái hoa.Sau đó, Sói chạy thẳng 1 mạch tới nhà bà

ngoại cô bé Biết vào nhà dễ dàng nên chó Sói đẩy nhẹ cửa vào nhà rồi vồ lấy

bà cụ nuốt chửng ngay Ăn thịt xong bà ngoại cô bé, nó lên giường đắp kín

chăn giả vờ bà ngoại đang ốm ”[13]

(Trích truyện cô bé quàng khăn đỏ- Truyện cổ tích nước ngoài)

GV: ví dụ trên anh/ chị hãy cho biết đặc điểm tiêu hóa của thú ăn thịt?

* Đặc điểm tiêu hóa thú ăn cỏ, dạ dày 4 ngăn:

GV giảng giải về quá trình biến đổi sinh học ở ĐV ăn thực vật nhờ các vi sinhvật

- Dùng hình 16.2 SGK → HS : quan sát 16.2 và mô tả dạ dày của bò ?

GV: Vì sao gọi bò,trâu là ĐV nhai lại?Sự biến đổi sinh học là gì ? Diễn ra nhưthế nào ở trâu và bò ?

Trâu,bò,cừu,dê,hươu,nai…lúc ăn chúng chỉ nhai qua loa rồi nuốt ngay xuống dạ

cỏ sau đó mới ợ lên nhai lại

Ví dụ 6: GV trong bài thơ “Lũy tre” của Nguyễn Công Dương có đoạn:

“… Những trưa đồng đầy nắng

Trâu nằm nhai bóng râm…”[9]

Hãy chỉ ra hiện tượng và giải thích hiện tượng trong các câu thơ trên

HS: Thảo luận trả lời

GV: Nhận xét, kết luận ở trâu là động vật nhai lại có đặc điểm:

Trang 13

- Dạ dày ở ĐV nhai lại chia làm 4 ngăn:dạ cỏ,tổ ong,dạ lá sách,dạ múi khế (dạdày chính thức)

-Thức ăn ( cỏ ,rơm….) được thu nhận và nhai qua loa rồi nuốt vào dạ dày cỏ làngăn lớn nhất.Khi dạ dày đã đầy,thức ăn được ợ lên miệng nhai lại

- Chính thời gian thức ăn lưu lại tại dạ dày cỏ đã tạo điều kiện cho hệ VSV ởđây phát triển mạnh gây ra sự biến đổi sinh học đối với thức ăn giàu xenlulôzơ.-Thức ăn sau khi được nhai kĩ với lượng lớn VSVsẽ chuyển qua dạ tổ ong → dạ

lá sách → dạ múi khế.Ở đây thức ăn cùng với VSV chịu tác dụng của HCl vàenzim trong dịch vị.Chính VSV là nguồn cung cấp phần lớn prôtein cho nhu cầu

cơ thể vật chủ

- Như vậy quá trình tiêu hóa ở dạ dày của ĐV nhai lại được bắt đầu bằng quátrình biến đổi cơ học và biến đổi sinh học,tiếp đó là quá trình biến đổi hóa họcdiễn ra ở dạ múi khế và ruột

* Đặc điểm tiêu hóa của động vật ngủ đông:

Ví dụ 7: Câu chuyện : “Nhà gấu ở trong rừng”

“ Cả nhà gấu ở trong rừng thẳm Mùa xuân gấu kéo nhau đi bẻ măng và uống

mật ong Mùa thu, gấu đi nhặt hạt dẻ Gấu bố, gấu mẹ, gấu con béo núng nính,

bước đi lặc lè, lặc lè Mùa đông, cả nhà gấu tránh rét trong hốc cây Suốt mùa

đông, gấu không đi kiếm ăn, gấu mút hai bàn chân mỡ cũng đủ no”[13].

GV: Qua câu chuyện trên em hãy nêu đặc điểm tiêu hóa của động vật ngủ đông.HS: Nêu theo hiểu biết

GV: Giải thích, kết luận Để tránh rét gấu tích trữ năng lượng dưới dạng mỡ, mùa đông sử dụng dần

* Đặc điểm tiêu hóa của các loài chim:

Trang 14

Tấm bốc nắm thóc ném cho gà Gà chạy vào bếp bới một lúc thì được xươngngay Tấm bèn nhặt lấy bỏ vào lọ và đem chôn dưới chân giường như lời Bụtdặn.

…Tấm chỉ vào cái thúng, thưa:

- Dì con bắt phải nhặt thóc cho ra thóc, gạo ra gạo, rồi mới được đi xem hội Lúcnhặt xong thì hội đã tan rồi, còn gì nữa mà xem

Bụt bảo: Con đừng khóc nữa Con mang cái thúng đặt ra giữa sân, để ta sai mộtđàn chim sẻ xuống nhặt giúp

- Nhưng ngộ chim sẻ ăn mất thì khi về con vẫn cứ bị đòn

- Con cứ bảo chúng thế này:

Rặt rặt (tức chim sẻ) xuống nhặt cho tao

Ăn mất hạt nào thì tao đánh chết.

thì chúng sẽ không ăn của con đâu.Tự nhiên ở trên không có một đàn chim sẻ

đáp xuống sân nhặt thóc ra một đằng, gạo ra một nẻo Chúng nó lăng xăng

ríu rít chỉ trong một lát đã làm xong, không suy suyển một hạt…”[8]

Ví dụ 9: : Bài hát : “chim chích bông”

Trang 15

Ví dụ 10: Câu chuyện “ Cáo và cò”

“Ngày xửa ngày xưa, có một con cáo rất xảo quyệt và tinh nghịch Nó thườnggiả vờ thân thiện sau đó chơi khăm những con vật khác

Một ngày nọ, cáo gặp một chị cò Nó kết bạn với cò và ra vẻ thân thiện, mời còtới nhà ăn tối Chị cò vui vẻ nhận lời

Tối hôm đó, chị cò vui vẻ tới nhà cáo như lời mời Cáo mời cò vào nhà và bưng

ra hai bát súp Nó múc súp ra hai cái đĩa rất là nông!

…Khi Cò mời Cáo đến nhà mình ăn tối Đầu tiên, Cò bưng ra một lọ thức ăn cao

cổ Cáo nhìn thấy nghĩ thầm: Ồ, hóa ra Cò định chơi khăm lại mình Nhưng sau

đó Cò quay vào bếp và bưng ra một đĩa súp là phần của Cáo Khi hai con vật đã

ăn xong bữa tối ngon lành, Cáo rất ngạc nhiên, nó hỏi Cò:

- Tại sao bạn không đối xử lại với tôi như tôi đã làm với bạn

Lúc này, Cò mới trả lời: - Ăn miếng trả miếng là việc chỉ có kẻ thù mới làm vớinhau, còn chúng ta là bạn

Lúc này, Cáo không những cảm thấy vô cùng xấu hổ vì hành vi tồi tệ của mình,

nó còn nhận được bài học lớn về tình bạn và sự bao dung nữa”[8].

( Theo truyện cổ tích)

Ví dụ 11 : Bài thơ” Chờ mẹ”

Trang 16

CHỜ MẸ

Ráng vàng đổi hướng về tây

Mặt trời đã khuất bóng cây mất rồi Chị ơi em đói rã rời

Sao không thấy mẹ kiếm mồi về mauMọi hôm mẹ chẳng đi lâu

Ngày năm bảy lượt bắt sâu đem về Hôm nay chờ đợi lâu ghê

Mẹ đi từ sớm chưa về là sao

Em ơi hãy cố lên nào

Thức ăn khan hiếm tìm lâu đó màCon thường hay bỏ mẹ cha

Mẹ cha nào bỏ chúng ta bao giờ

Chị ơi sương đã lờ mờ

Hình như trăng cũng đợi chờ ngọn cây

Áo em ướt đẫm rồi này

Chắc mẹ không thể về đây nữa rồiĐêm nay đói lắm mẹ ơi

Chân tay rời rã không ngồi được lâu

Trang 17

Thương đàn con nhỏ đường về còn đâu.

( MTH Phạm Thị Hạnh 18/2/19)[13]

GV qua các ví dụ trên yêu cầu HS cho biết đặc điểm tiêu hóa của các loài chim

và cấu tạo tiêu hóa của chúng như thế nào để phù hợp với chức năng?

HS thảo luận trả lời

GV kết luận

Gà và các loại chim ăn hạt : lớp cơ dày, khỏe và chắc của mề co bóp,chà sát

thức ăn đã làm mềm bởi dịch tiết ra ở diều.Trong diều không có dịch tiêu hóa

mà chỉ có dịch nhày để làm trơn và mềm thức ăn,giúp cho sự tiêu hóa dễ dàng ởphần sau của ống tiêu hóa

- Thức ăn được chuyển từ diều xuống dạ dày tuyến và dạ dày cơ (mề)

+ Dạ dày tuyến tiết dịch tiêu hóa

+ Lớp cơ của dạ dày cơ khỏe và chắc nghiền nát các hạt thấm dịch tiêu hóa

* Đặc điểm tiêu hóa của động vật ăn thực vật dạ dày đơn:

như ngựa và động vật gặm nhấm (thỏ,chuột) chúng nhai kĩ hơn ĐV nhai lại Quá trình biến đổi sinh học diễn ra ở ruột tịt (mang tràng).Ruột tịt chứa mộtlượng VSV rất lớn

Ví dụ 12: Giải thích câu tục ngữ: “ Thẳng như ruột ngựa”

(Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1928), Thành ngữ tiếng Việt của Nguyễn Lực - Lương Văn Đang (1978) có Thẳng như ruột ngựa)

+Thẳng ruột ngựa nghĩa là thẳng thắn, nói thẳng.

+Thế nhưng, ai cũng biết rằng ruột người, ruột chó, ruột gà, ruột bò hay ruột ngựa, ruột nào cũng… không thẳng Bộ ruột, bộ đồ lòng nào cũng được sắp xếp lòng vòng, uốn éo trong bụng con vật, con người

2.3.4 Sử dụng trong củng cố kiến thức

Ví dụ 13: Giải thích câu tục ngữ : “ Lôi thôi như cá trôi lòi ruột”

Vì cá trôi là loài động vật ăn thực vật,để có thể tiêu hóa được xenlulozo vốn là chất rất khó tiêu hoá, ruột cá trôi, cá trắm phải rất dài và chia ra nhiều dạ dày

Trang 18

2.3.5 Sử dụng trong mở rộng tìm tòi

GV: Ông cha ta có dạy con người ta xấu cũng ở “nết ăn”, đẹp cũng ở “nết ăn”

Em hãy tìm các câu ca dao, tục ngữ, bài văn, bài thơ liên quan giáo dục con

người trong cuộc sống hằng ngày, thói hư tật xấu…

HS: Thảo luận, tìm tòi

Ví dụ 14:

1 Ăn trông nồi, ngồi trông hướng

2 Học ăn, học nói, học gói, học mở

3 Ăn như tằm ăn rỗi

4 Đời cha ăn mặn, đời con khát nước

5 Ăn một bát cháo, chạy ba quãng đồng

6 Ăn có mời, làm có khiến

7 Ăn có nhai, nói có nghĩ

8 Ăn cơm nhà nọ, kháo cà nhà kia

9 Ăn cơm với bò thì lo ngay ngáy, ăn cơm với cáy thì gáy o o

10 Ăn cháo, đá bát

11 Ăn để sống, không sống để ăn

12 Ăn không, nói có

13 Ăn lắm thì hết miếng ngon, nói lắm thì hết lời khôn hóa rồ

14 Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành

15 Ăn mặn nói ngay, còn hơn ăn chay nói dối

16 Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư

17 Cá lớn nuốt cá bé

18 Hổ dữ không ăn thịt con

19 Chuột sa chĩnh gạo

20 Đói cho sạch, rách cho thơm

GV: HS hãy phân chia thành 2 nhóm: Nhóm giáo dục và nhóm chỉ thói hư, tật xấu

HS thảo luận trả lời

GV Kết luận, nhận xét

Ngày đăng: 22/10/2019, 07:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w