Trong chương trình lịch sử lớp 10, một số bài có thể tíchhợp kiến thức các môn khoa học tự nhiên như bài 4:“ Các quốc gia cổ đạiphương Tây – Hi Lạp và Rôma”, vận dụng kiến thức môn Hình
Trang 11 Mở đầu 1.1 Lí do chọn đề tài
Trong nhà trường trung học phổ thông(THPT), các môn khoa học tựnhiên như: Toán, Lý, Hóa…, các môn khoa học xã hội như: Văn, Sử, Địa, Giáodục công dân…có vai trò to to lớn trong việc hình thành tri thức và nhân cáchcho thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước
Trong quá trình giảng dạy và học tập môn lịch sử, sách giáo khoa – tàiliệu chính của thầy cô và học sinh chỉ toàn là những kênh chữ, một vài bài cócung cấp thêm hình ảnh minh họa Lịch sử là những sự kiện, nhất là những sựkiện về các cuộc kháng chiến, các cuộc khởi nghĩa có nhiều mốc thời gian ngày,tháng, năm hoặc những số liệu về các lĩnh vực khó ghi nhớ, khô khan Trong cáctiết dạy lịch sử đa số giáo viên chỉ chú ý bám sát nội dung kiến thức cơ bảntrong sách giáo khoa, truyền thụ kiến thức đơn thuần mà chưa chú ý sử dụngnhững hình thức khác để bổ trợ làm cho tiết học thêm sinh động
Chương trình môn lịch sử ở cấp THPT, kiến thức nặng về chiến tranhcách mạng Tuy nhiên ở phần lịch sử Việt Nam chương trình lịch sử lớp 10, đã
đề cập đến kiến thức về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, đối ngoại… từ thờiVăn Lang - Âu Lạc đến nửa đầu thế kỉ XIX Để truyền tải cho học sinh nhữngkiến thức lịch sử ở các lĩnh vực khác nhau, để những tri thức lịch sử không cònkhô khan đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo trong phương pháp dạy họcnhằm giúp học sinh chủ động, hứng thú học tập, phát huy tính tích cực để việchọc trở nên nhẹ nhàng, dễ dàng hơn Giáo viên(GV) có thể tích hợp môn lịch sửvới các môn học khác Trong chương trình lịch sử lớp 10, một số bài có thể tíchhợp kiến thức các môn khoa học tự nhiên như bài 4:“ Các quốc gia cổ đạiphương Tây – Hi Lạp và Rôma”, vận dụng kiến thức môn Hình học, Vật lí giúphọc sinh hiểu cụ thể hơn những đóng to lớn của các nhà khoa học Ta-lét, Pi- ta-
go, Ác-si-mét… đối với toàn nhân loại Giáo viên lịch sử phải sử dụng kiến thứcliên môn trong nhóm khoa học xã hội như: môn Địa, Giáo dục công dân nhất làVăn học trong giờ dạy lịch sử Giữa Văn học và Sử học có mối liên hệ khăngkhít Khi thầy cô đọc thơ, học sinh(HS) thích thú lắng nghe, những sự kiện lịch
sử sẽ sâu, lâu hơn trong kí ức, giờ học trở nên hiệu quả Các áng thơ văn có tácdụng minh họa, cụ thể hóa, khát quát hóa một giai đoạn lịch sử sẽ giúp HS hiểusâu sắc hơn một thời kì, một sự kiện lịch sử có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng,tình cảm người học, góp phần quan trọng làm cho bài giảng sinh động, hấp dẫn,hứng thú học tập của HS và sẽ làm bớt đi sự khô khan của giờ học
Để góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học
lịch sử nói riêng, tôi xin trình bày một số vấn đề về việc: “ Sử dụng tài liệu văn
Trang 2học dân gian giúp học sinh hứng thú học tập lịch sử Việt Nam trong chương
trình lớp 10 ở trường trung học phổ thông Lê Lợi ” Với việc nghiên cứu đề
tài này, tôi mong muốn sẽ góp phần giúp giáo viên lịch sử có một giờ dạy họchiệu quả, học sinh lĩnh hội kiến thức tích cực, chủ động, ngày càng yêu thíchmôn học
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài “ Sử dụng tài liệu văn học dân gian giúp học sinhhứng thú học tập lịch sử Việt Nam trong chương trình lớp 10 ở trường THPT Lê
Lợi ”, tôi sử dụng tài liệu VHDG trong một số bài giảng nhất định ở chương
trình lịch sử Việt Nam lớp 10 Đối tượng nghiên cứu mà tôi áp dụng cho đề tàinày là lớp 10a1 và 10a2 năm học 2017 - 2018 trường THPT Lê Lợi – Thọ Xuân– Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu
+ Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp, nguyên tắc trong dạy học bộ môn
lịch sử
+ Nghiên cứu sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên lịch sử lớp 10…
+ Sưu tầm các tài liệu văn học dân gian có liên quan
+ Thao giảng, dự giờ đồng nghiệp trao đổi rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy.+ Hướng dẫn học sinh sưu tầm, chọn lọc và sử dụng tài liệu văn học dân giantrong học tập
+ Sử dụng phương pháp điều tra; phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê,
xử lý số liệu… Kiểm tra kết hợp giữa hình thức tự luận và trắc nghiệm kháchquan để đánh giá kết quả học tập của học sinh từ đó điều chỉnh và bổ sung hợp lícách vận dụng tài liệu văn học dân gian trong giảng dạy và học tập chương trìnhlịch sử Việt Nam lớp 10 khoa học và hiệu quả
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Sử dụng tài liệu văn học dân gian trong giảng dạy và học tập lịch sử ViệtNam trong chương trình lịch sử 10 rất cần thiết
Trang 3Chỉ thị số 14/2000/CT-TT về đổi mới giáo dục nhấn mạnh mục tiêu củachương trình đổi mới giáo dục là đổi mới cách dạy và học theo cách tích cực hóahoạt động, sử dụng những phương pháp để tích cực hóa hoạt động dạy và dạyhọc liên môn.
Để đổi mới phương pháp dạy học và tích cực sử dụng một số nguyên tắcdạy học trong bộ môn lịch sử ở trường phổ thông như dạy học liên môn, dạy họcnêu vấn đề…, để nâng cao hiệu quả giờ học, người giáo viên lịch sử ở trườngphổ thông cần phải đáp ứng được những yêu cầu sau: có tư tưởng, tình cảmđúng đắn lành mạnh, trong sáng, có lòng nhiệt thành đối với nghề nghiệp, có thếgiới khách quan khoa học và nhân sinh quan tiến bộ để góp phần đào tạo thế hệtrẻ theo mục tiêu của Đảng trong thời kì hội nhập Giáo viên lịch sử khôngngừng nâng cao sự hiểu biết kiến thức bộ môn, có phương pháp dạy tốt, khôngngừng hoàn thiện cải tiến phương pháp giảng dạy và nghiệp vụ…
Giảng lịch sử là giảng về quá khứ của xã hội loài người, quá khứ của dântộc, quá khứ của địa phương… Những quá khứ đó lại có quan hệ mật thiết vớihiện tại và tương lai Trong bài giảng, bài học lịch sử, giáo viên phải hướng HScách tư duy và tình cảm với những sự kiện, nhân vật lịch sử rất gần gũi đó lànhững con người thật những con người cụ thể chứ không phải là những conngười hư cấu, xa rời thực tế
VHDG là một phần của sáng tác dân gian, phát triển trong đời sống củanhân dân theo phương thức truyền miệng và tập thể [1] Nó không có thời gian cụthể nhưng là sáng tác nghệ thuật của nhân dân, tác phẩm dân gian phản ánh vàbiểu hiện đời sống nhân dân, thế giới tinh thần và tình cảm của nhân dân Đó làcuộc sống lao động, những sự kiện, vấn đề của đời sống xã hội, cuộc đấu tranhcủa quần chúng nhân dân chống áp bức và cuộc chiến đấu của toàn dân chốngngoại xâm Hiện thực lịch sử đã được phản ánh trong tác phẩm VHDG như là bộbách khoa toàn thư về đời sống nhân dân Vì lẽ đó, nó là “những hòn ngọc quý”
[2], là vũ khí tinh thần mạnh mẽ của nhân dân Việc sử dụng những câu ca dao,truyền thuyết, truyện cổ tích,… trong một bài giảng sẽ làm tăng sự “cảm thụ lịchsử” cho học sinh thêm phần tinh tế và sâu sắc hơn Vì vậy sử dụng tài liệuVHDG là một trong những phương pháp hữu hiệu, nâng cao chất lượng bàigiảng lịch sử Việt Nam chương trình lớp 10 trong cả quá trình giảng dạy cảchính khóa và ngoại khóa được tốt hơn
2.2.Thực trạng dạy và học ở trường THPT Lê Lợi – Thọ Xuân – Thanh Hóa:
2.2.1 Thuận lợi:
Trang 4Cùng với xã hội hóa giáo dục, sự quan tâm đầu tư giáo dục của nhànước ,trường THPT Lê Lợi có các trang thiết bị học tập hiện đại: máy chiếu,phòng học bộ môn… Ngày nay công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, ngườigiáo viên có điều kiện tiếp thu nhiều nguồn thông tin – các tư liệu lịch sử phongphú, đa dạng và các phương tiện bổ trợ cho công tác dạy học, giúp giờ học lịch
sử hiệu quả hơn Giáo viên lịch sử trường THPT Lê Lợi có những thay đổiphương pháp giảng dạy học và sử dụng một số nguyên tắc dạy học nêu vấn đề,dạy học liên môn để phát huy tính tích cực học tập của học sinh Trong quá trìnhgiảng dạy, giáo viên tích cực sử dụng và khai thác triệt để đồ dùng và phươngtiện dạy như: tranh ảnh lịch sử, lược đồ, hiện vật…
Học sinh trường THPT Lê Lợi có ý thức học tập, một bộ phận HS theokhối D, các em tích cực chuẩn bị bài ở nhà và lĩnh hội kiến thức mới
2.2.2 Khó khăn:
Trường trung học phổ thông Lê Lợi, học sinh chủ yếu theo ban khoa học
tự nhiên, nên trong nhận thức chung còn xem nhẹ môn lịch sử, xem môn lịch sử
là môn phụ, vì vậy đa số học sinh chưa thực sự ý thức học tập môn học này.Môn học lịch sử là môn học gắn liền với các kiện lịch sử, nhiều số liệu khó nhớ,khô khan, làm mất hứng thú cho người học
Do điều kiện vật chất còn khó khăn, nên việc sử dụng các phương tiệndạy hiện đại không thuận lợi, các tài liệu tham khảo, các đồ dùng trực quan, sơ
đồ, lược đồ không được đáp ứng đầy đủ Nhiều khi giáo viên ngại sử dụng cácphương tiện dạy học hiện đại, vẫn thực hiện lối dạy chay
Khi sử dụng các nguồn tài liệu VHDG trong dạy học một giờ lịch sử còngặp nhiều khó khăn như sự khác nhau giữa các nguồn tài liệu trong cùng mộtvấn đề, sự kiện, nhân vật lịch sử…
2.3 Một số giải pháp thực tế gây hứng thú học tập lịch sử Việt Nam trong chương trình lớp 10 ở trường THPT Lê Lợi bằng tài liệu văn học dân gian : 2.3.1 Các tài liệu văn học thường dùng trong dạy học chương trình lịch sử trung học phổ thông :
Các tác phẩm văn học từ xưa đến nay có vai trò to lớn đối với việc dạyhọc lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới ở trường phổ thông [3] Văn học và
sử học có mối liên hệ khăng khít, các tác phẩm văn học, bằng những hình tượng
cụ thể đã tác động mạnh mẽ đến tình cảm, tư tưởng của con người Các tácphẩm văn học góp phần quan trọng làm cho bài giảng sinh động, hấp dẫn, tạohứng thú học tập của học sinh như các loại văn học chủ yếu sau:
+ Văn học dân gian ra đời rất sớm và rất phong phú, bao gồm các thể loạinhư thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, dân ca, vè… Đây là những
Trang 5tài liệu có giá trị, phản ánh nội dung nhiều sự kiện quan trọng trong lịch sử dântộc Nếu gạt bỏ yếu tố thần bí, hoang đường, chúng ta có thể tìm được nhữngyếu tố hiện thực của lịch sử trong VHDG VHDG phản ánh về đời sống xã hội,
về cuộc đấu tranh với thiên nhiên, chống ngoại xâm trong thời kì dựng và giữnước của dân tộc ta
- Các tác phẩm văn học hiện thực phê phán…
Trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ đề cập đến việc sử dụng tài liệu văn họcdân gian trong giảng dạy và học tập lịch sử Việt Nam trong chương trình lớp 10
Văn học dân gian là một bộ phận của văn học Nó không chỉ là một sảnphẩm nghệ thuật dân gian mà nó thể hiện tâm tư, tình cảm của nhân dân vềnhững hiện tượng lịch sử, xã hội nhất định Văn học dân gian phản ánh trực tiếphoặc gián tiếp, ở những góc độ, những cung bậc khác nhau Vì vậy, chúng ta nênkhai thác các loại hình văn học dân gian, nhất là ca dao, truyền thuyết, vè nhưmột nguồn tư liệu bổ ích phục vụ cho các bài giảng lịch dân tộc từ thời kì dựngnước đến nửa đầu thế kỉ XIX
2 3 2 Một số biện pháp sử dụng tài liệu văn học dân gian trong giảng dạy và học tập lịch sử Việt Nam chương trình lịch sử lớp 10
Trong một giờ học nội khóa môn lịch sử việc sử dụng tài liệu văn học dângian phải đảm bảo hai tiêu chuẩn cơ bản: giá trị giáo dưỡng – giáo dục và giá trịvăn học Tài liệu đó phải sinh động về những sự kiện, những nhân vật lịch sửcủa thời đại đang học, phải miêu tả bối cảnh của xã hội cụ thể, phải phục vụ nộidung, yêu cầu của từng bài học, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.Tài liệu đó không làm loãng nội dung bài lịch sử, phân tán sự chú ý của học sinhvào những vấn đề đang học [4] Vì vậy giáo viên lịch sử có biện pháp hướng dẫn
học sinh tiếp nhận, sử dụng tài liệu văn học dân gian phải đảm bảo đúng nộidung sách giáo khoa, phát huy tính cực, độc lập, sáng tạo của học sinh trong họctập Sau đây, xin được đi sâu vào từng biện pháp cụ thể :
Thứ nhất: đưa một đoạn ca dao, kể một câu chuyện nhằm minh họa những sự kiện đang học làm cho nội dung bài học thêm phong phú, giờ học thêm sinh động
Dạy học lịch sử là tạo biểu tượng, tái hiện lại lịch sử để làm cho những sựkiện khô khan trở thành những hình ảnh sinh động, thu hút trí tưởng tượng tư
Trang 6duy của học sinh, qua đó giúp học sinh ghi nhớ Sử dụng những câu ca dao,truyền thuyết phù hợp nội dung kiến thức lịch sử thực sự là những bức tranh vềngôn ngữ hết sức sinh động mà không có ngôn từ hay đồ dùng dạy học nào thaythế được, sự mềm mại uyển chuyển của văn học sẽ dễ dàng lôi cuốn và đi vàocảm xúc của học sinh hơn những sự kiện lịch sử khô khan.
Trong quá trình giảng dạy lịch sử, giáo viên thực hiện biện pháp này sẽ
có hiệu quả và ý nghĩa to lớn trong việc làm cho nội dung bài học phong phú,giờ học sinh động, khắc sâu kiến thức cơ bản và trọng tâm
Ví dụ khi dạy bài 22: Tình hình kinh tế ở các thế kỉ XVI – XVIII
2 Sự phát triển của thủ công nghiệp
Khi giảng về xuất hiện nhiều làng nghề thủ công trong cả nước, thầy côgiáo minh họa các câu ca dao:
- Về làng nghề Bát Tràng dân gian có câu ca:
Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái quê anh thì về
Ví dụ khi dạy học bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam, ởphần 1: Quốc gia Văn Lang – Âu Lạc GV sử dụng truyện truyền thuyết vềThánh Gióng, Sơn Tinh Thủy Tinh ra đời gần như đồng thời, phản ánh cuộc đấu
Trang 7tranh của nhân dân ta trong buổi bình minh của lịch sử; vừa dựng nước vừa giữnước.
Thứ ba: Sử dụng tài liệu văn học dân gian để nêu quy luật, rút ra bài học lịch sử
Trên cơ sở tạo biểu tượng lịch sử để hình thành khái niệm và cần tiếnhành nắm quy luật và rút ra bài học lịch sử Bởi vì “nghiên cứu khoa học cũngnhư học tập lịch sử phải đạt đến trình độ nắm quy luật và ý nghĩa thực tiễn củaviệc học lịch sử là biết vận dụng những bài học của quá khứ trong cuộc sốnghiện tại Công việc này cũng là một bộ phận quan trọng của việc phát triển tưduy và năng lực thực hành của học sinh” [5]
Lịch sử Việt Nam có rất nhiều bài học sâu sắc, quý báu đã được tổng kết
và đúc rút ra, có sẵn hoặc không có trong sách giáo khoa Lịch sử Tuy nhiên,nhiệm vụ của người giáo viên không phải là thông báo cho học sinh những quyluật, bài học lịch sử, mà “phải dạy cho học sinh hiểu biết những sự kiện lịch sử,những quy luật lịch sử qua các thời đại chứ không thể nói ba hoa về chính trị ởđây” [6] Điều quan trọng hơn GV hướng dẫn học sinh rút ra quy luật, bài họclịch sử là một yêu cầu không thể thiếu Song, không phải tài liệu VHDG nàocũng có thể sử dụng để rút ra bài học lịch sử được Điều này đòi hỏi giáo viênviệc lựa chọn tài liệu
Ví dụ khi dạy học bài 28: Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Namthời phong kiến, ở phần 1: Sự hình thành của truyền thống yêu nước Việt Nam,
để HS dễ dàng rút ra được bài học về sự đoàn kết, thống nhất trong cuộc đấutranh gian khổ, quyết liệt để dựng nước và giữ nước, GV dẫn truyện Con Rồngcháu Tiên, Thánh Gióng, Sơn Tinh Thủy Tinh, hay những câu ca dao như :
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
“Bầu ơi thương lấy bí cùng,Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
“Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” [7]
Qua đây, GV giúp cho HS rút ra bài học đắt giá của cha ông để lại : muốn tồn tạicác thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam phải đoàn kết lại với nhau,đùm bọc lẫn nhau, phải thực sự thương yêu nhau Tình cảm yêu thương đượcvun đắp từ những người con đối với cha mẹ, anh em ruột thịt đến láng giềng,xóm làng và mở rộng lớn hơn, bao quát hơn – lòng yêu nước Từ đó, HS hiểuđược bài học về cách đối xử các mối quan hệ trong gia đình, nhà trường, xã hội
[8]
Trang 8Thứ tư: Sử dụng tài liệu văn học dân gian kết hợp với nêu câu hỏi và bài tập nhận thức
Một trong những con đường nhằm khắc phục tình trạng dạy học nhồi nhétkiến thức, phát huy trí thông minh, năng lực độc lập nhận thức của học sinh làdạy học nêu vấn đề, tức là đặt ra ngay từ đầu nhiệm vụ để học sinh hình dungtrước những sự kiện và hiện tượng lịch sử cơ bản, then chốt của tiết học Nhiệm
vụ nhận thức được GV nêu lên bằng một câu hỏi có tính chất bài học nhận thứctrước khi vào dạy bài mới để kích thích tư duy của HS, giúp các em suy nghĩ,tập trung vào những nhiệm vụ cốt lõi Cuối tiết học, HS trả lời được câu hỏi đó
là bài học đạt hiệu quả Việc kết hợp sử dụng tài liệu VHDG với nêu câu hỏi, bàitập nhận thức là một biện pháp cần thiết, góp phần làm cho bài giảng có tínhhiệu quả cao
Ví dụ 1, khi dạy học bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam,
ở phần 1: Quốc gia Văn Lang – Âu Lạc Khi cung cấp cho HS nội dung : công
cụ sản xuất bằng đồng thau đã trở nên phổ biến và bước đầu làm ra được công
cụ bằng sắt, GV tóm tắt ngắn gọn nội dung truyền thuyết Thánh Gióng và sửdụng chi tiết Thánh Gióng yêu cầu với : “Sứ giả hãy mau về tâu với nhà vua đúccho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt, một áo giáp sắt và một cái nón sắt Ta
sẽ đánh tan quân giặc” GV đặt câu hỏi : Tại sao Thánh Gióng không yêu cầu sứgiả đúc cho các loại vũ khí bằng công cụ khác mà phải bằng sắt? Sau khi HS trảlời, GV bổ sung : vào thời Hùng Vương tương ứng với giai đoạn văn hóa ĐôngSơn nhân dân đã sử dụng được công cụ bằng sắt tuy mới ở “bước đầu” Từ đó,giúp HS nhận thức được rằng nhờ sử dụng công cụ mới nên người Việt cổ cóđược một nền kinh tế phát triển mạnh để từ đây tạo nên những chuyển biến tolớn về mặt xã hội, văn hóa [9]
Ví dụ 2, khi dạy bài 26: Tình hình xã hội ở nửa đầu thế kỉ XIX và phongtrào đấu tranh của nhân dân, ở mục 1, GV có thể đọc cho HS nghe câu ca dao :
“Con ơi, mẹ bảo con này,Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” [10].Sau đó, đặt ra cho các em bài tập nhận thức : Câu ca dao trên phản ánh thực tế gìcủa xã hội đương thời? HS dễ dàng nêu được : câu ca dao là lời mẹ dặn con nhớlấy cái thực tế phủ phàng và tội ác cướp bóc dã man của bọn quan lại phongkiến, cung cấp một hình ảnh cụ thể : “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” Nóđược chia làm hai vế đối nhau, các từ ngữ cũng đối nhau : “quan” đối với “giặc”
; “cướp ngày” đối với ‘cướp đêm” Nghệ thuật đối đã đặt bọn quan lại phongkiến ngang hàng với bọn giặc cướp Tất cả đã nói lên bộ mặt xấu xa và tệ thamquan ô lại của bọn được xem là “công bộc” cho dân [11]
Trang 9Ngoài ra, có thể ra bài tập về nhà bằng việc cho HS sưu tầm những tài liệuVHDG về một giai đoạn hay một chủ đề lịch sử như truyền thống yêu nước củadân tộc, các vị anh hùng dân tộc, đời sống của nhân dân trong xã hội phongkiến, các làng nghề thủ công… Đặc biệt, khuyến khích các em sưu tầm nhữngvấn đề có tính chất địa phương giúp cho HS có những hiểu biết về quê hươngmình nhằm bồi dưỡng lòng yêu quê hương và niềm tự hào dân tộc Làm đượcđiều này, chẳng những HS tự mình bổ sung thêm những hiểu biết về VHDG, vềlịch sử dân tộc mà còn giúp cho các em làm quen bước đầu với công tác nghiêncứu khoa học.
Thứ năm: Sử dụng tài liệu văn học dân gian để kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS trong quá trình dạy học cótầm quan trọng đặc biệt Chủ trương đổi mới kiểm tra, đánh giá cả về nội dungcũng như hình thức đòi hỏi người GV linh hoạt, sáng tạo hơn Do đó, việc sửdụng tài liệu VHDG để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS cũng là mộtbiện pháp cần thiết
Ví dụ, để kiểm tra miệng hay viết, sau khi dạy xong bài 28: Truyền thốngyêu nước của dân tộc Việt Nam thời phong kiến, GV có thể cho HS kiểm trabằng câu hỏi: “Qua các huyền thoại Sơn Tinh – Thủy Tinh và Thánh Gióng, emrút ra được bài học gì cho lịch sử dân tộc ta?” HS sẽ nhớ lại hai truyện trên và
dễ dàng cho rằng, nhìn từ góc độ lịch sử và văn hóa, hình ảnh của Sơn Tinh (tứcThánh Tản Viên) chính là hình ảnh phản ánh năng lực trị thủy của cư dân Việt
cổ Nếu không có thực tiễn sinh động phản ánh năng lực trị thủy đó, thì khôngthể có hình ảnh Sơn Tinh Bởi vì, để có thể sinh sống dọc theo lưu vực nhữngcon sông lớn dữ dội như sông Hồng và sông Mã, yêu cầu đầu tiên là phải biết trịthủy Và hơn hết, “trị thủy – nhiệm vụ chủ yếu và quan trọng nhất của quá trìnhchinh phục thiên nhiên sẽ chẳng bao giờ thành công nếu khối đoàn kết của cả xãhội rộng lớn không được thường xuyên chăm lo vun đắp” [12] Vì vậy chỉ có ýthức xây dựng khối đoàn kết mới có thể chinh phục thiên nhiên và tạo dựngcuộc sống ấm no, hạnh phúc Còn truyện Thánh Gióng có giá trị như một khúctráng ca về lịch sử chống ngoại xâm Từ khi lập nước đến nay, khi vận nước lâmnguy, chiến thắng chỉ thuộc về những ai biết tập hợp, huy động sức mạnh cũngnhư trí tuệ của toàn dân Sự gắn kết của các thành viên trong cộng đồng Việt cổ
đã làm nên những chiến thắng với thiên nhiên, ngoại xâm, khắc sâu lòng yêunước của người Việt để từ đó hình thành truyền thống yêu nước Việt Nam Quabài kiểm tra nếu đa số HS hiểu được như vậy, thì việc kết hợp biện pháp trên về
cơ bản đạt được hiệu quả như mong muốn
Trang 10Thứ sáu: Dùng tài liệu văn học để tổ chức những buổi sinh hoạt ngoại khoá:
Hoạt động ngoại khoá là một trong những hình thức tổ chức dạy học lịch
sử ở trường phổ thông, được thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổchức, được tiến hành trong suốt năm học, theo các chuyên đề nhằm góp phầnthực hiện mục tiêu của chương trình môn học Ở trường THPT Lê Lợi, tổ chứchoạt động ngoại khóa dưới hình thức kể chuyện với nội dung về cuộc khởi nghĩaLam Kinh và anh hùng dân tộc Lê Lợi GV lịch sử hướng dẫn HS sưu tầmnhững truyền thuyết, ca dao… ở địa phương phù hợp với nội dung trên
2.3.3 Một số lưu ý khi sử dụng tài liệu VHDG trong giảng dạy và học tập lịch sử Việt Nam chương trình lịch sử lớp 10
Để phát huy hiệu quả của việc sử dụng tài liệu VHDG trong dạy học lịch
sử Việt Nam chương trình lớp 10 THPT, chúng ta phải thực hiện các nguyên tắcsau:
+ Sưu tầm, lựa chọn tài liệu VHDG có phản ánh nội dung lịch sử
+ Lựa chọn tài liệu VHDG tiêu biểu, phù hợp với các thời kỳ, sự kiện,nhân vật lịch sử…, từng bài, từng phần tạo biểu tượng lịch sử góp phần làm hấpdẫn, sinh động giờ học lịch sử Nếu dẫn chứng sai lệch gây ra nhầm lẫn kiếnthức lịch sử cho học sinh
+ Khi sử VHDG, nhất là thể loại truyền thuyết, phải gạt bỏ yếu tố thầnthánh, hoang đường… để thấy được lịch sử trong đó Ví dụ như truyện ThánhGióng, qua câu chuyện ta xác định được những yếu tố hiện thực của lịch sử làthời Hùng Vương thứ 6 (tương ứng với thời nhà Ân ở Trung Quốc), đồ sắt pháttriển với vũ khí công cụ dùng đều bằng sắt (nón sắt, giáp sắt, gậy sắt, ngựa sắt),đồng thời nêu cao truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ(cả làng góp gạo thổi cơm cho Gióng ăn) hay Sơn Tinh – Thủy Tinh là biểutượng đoàn kết, đồng lòng của dân tộc ta đắp đê chống bão, lũ lụt đặc trưng rất
rõ của cư dân trồng lúa nước của nhân dân ta trong buổi đầu lịch sử vừa dựngnước và giữ nước [13]
+ Văn học dân gian phản ánh lịch sử chủ quan của nhân dân, có thể có cáinhìn sai lệch làm cho học sinh hiểu sai lịch sử, vì vậy cần thận trọng khi sửdụng
+ Khi sử dụng tài liệu VHDG phải hài hòa, không nên lạm dụng quá mức
2.3.4 Áp dụng tài liệu VHDG vào bài dạy trong phần lịch sử Việt Nam chương trình lớp 10
Nội dung bài học Những tài liệu văn học dân gian có thể áp dụng
Trang 11sách giáo khoa
Bài 14: Các quốc
gia cổ đại trên đất
nước Việt Nam
+ Khoảng thế kỉ VII trước công nguyên, người Việt cổ đã xây dựngnhà nước đầu tiên trong lịch sử - nước Văn Lang Đến cuối thế kỉ IIItrước công nguyên quân Tần xâm chiếm nước ta Nhân dân Văn Langđoàn kết với người Tây Âu tiến hành chống ngoại xâm Lúc bấy giờvua Hùng đã già yếu, lại không có con trai nên thủ lĩnh người Tây Âu
là Thục Phán đã trở thành người chỉ huy tối cao Nhà nước Âu Lạc rađời trên cơ sở sát nhập Tây Âu với Văn Lang Thục Phán lên ngôi vàxưng là An Dương Vương Để tưởng nhớ công ơn các vua Hùng, ThụcPhán cho xây dựng cột đá để đời đời thờ cúng vua Hùng Tục giỗ tổHùng Vương xuất phát từ đây Nhân dân có nhiều câu ca:
Ai về Phú Thọ cùng taVui ngày giỗ tổ tháng 3 mồng 10
Hay:
Dù ai đi ngược về xuôiNhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba Khắp miền truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm
Các câu chuyên truyền thuyết “Bánh chưng bánh giầy”, “Sơn TinhThủy Tinh”… Từ đây hình thành tình cảm biết ơn, tự hào đối với ôngcha
+ Sau khi lên ngôi, An Dương Vương Thục Phán đã cho xây thành CổLoa(Đông Anh, Hà Nội) Trên một nền đất có kết cấu địa chất khôngvững, một tòa thành kiên cố, kiến trúc độc đáo gặp rất nhiều khó khănphải nổ lực rất lớn mới thành công Trong truyền thuyết đã dựng lênmột bức màn huyền bí khi kể rắng An Dương Vương phải nhờ sự trợgiúp của thần Kim quy thì mới chiến thắng được âm binh, ma quỷ pháhoại thành mới được xây xong Trong ca dao, dân gian đã cho cho rằngchỉ có bậc thánh tiên mới xây được thành:
Cổ Loa là đất để kinhTrông ra lại thấy tòa thành tiên xây
Trang 12Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ múc nước rửa bành con voiMuốn coi lên núi mà coi Coi bà Triệu tướng cưỡi voi, đánh cồng
+ Nói về nỗi thống khổ của dân vì nạn cống vải và cuộc khởi nghĩa củaMai Thúc Loan, ca dao cũng phản ánh:
Nhớ khi nội thuộc Đường triều
Giang sơn cố quốc nhiều điều ghê gai
Sâu quả vải vì ai vạch lá Ngựa hồng trần kể đã héo hon…
Đường đi cống vải từ đây dứt Dân nước đời đời hưởng lộc chung
Hay câu ca:
Sa nam trên chợ dưới đòNơi đây Hắc Đế kéo cờ dựng binh
Đời Lê Thái Tổ, Thái TôngThóc lúa đầy đồng, Trâu chẳng buồn ăn
Bò đen húc lẫn bò vàngHai con húc chắc đâm quàng xuống sông
+ Ca ngợi cảnh phồn hoa, đô thị, sự phát triển thịnh đạt của nghề thủcông dẫn đến sự hình thành các phường nghề ở Thăng Long xưa, dângian có thơ:
Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Trang 13Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai.
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày
………
Phồn hoa thứ nhất Long Thành Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền
Con ơi nhớ lấy lời chaGió to, sóng cả chớ qua sông Rừng Đánh giặc thì đánh giữa sông Đừng đánh chỗ cạn mắc chông mà chìm
Học sinh tiếp thu bài nhẹ nhàng hơn, dễ nhớ những trận chiến gắnliền với các nhân vật từ đó giáo dục tinh thần yêu nước, chống ngoạixâm của dân tộc cho thế hệ trẻ
Bài 21: Những
biến đổi của nhà
nước phong kiến
trong các các thế
kỉ XVI - XVIII
+ Triều Lê sơ suy sụp, Mạc Đăng Dung cướp ngôi lập ra nhà Mạc.Nhưng cũng được mấy chục năm thì bị lực lượng phù Lê đánh bật khỏiThăng Long(1592) Một số người trong tôn thất nhà Mạc chạy lên CaoBằng, xây dựng thành lũy cát cứ ở đây, sau này bị tiêu diện hoàn toàn
Kí ức dân gian về thời kì này được thể hiện trong câu ca:
Cái cò lặn lội bờ sôngGánh gạo, đưa chồng tiếng khoc nỉ non Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng
Ở nhà có nhớ anh chăng?
Để anh kể chuyện Cao Bằng cho nghe
+ Từ thế kỉ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn suyyếu Cảnh thái bình thịnh trị không còn nữa Đời sống nhân dân trở nên
Trang 14khó khăn Điều đó được phản ánh trong câu ca:
Đời vua Vĩnh Tộ lên ngôiCơm trắng đầy nồi, trẻ chẳng buồn ăn
Từ ngày Cảnh Trị lên ngôi Khoai chửa mọc chồi đã nhổ lên ăn Vua Vĩnh Tộ - Lê Thần Tông, tên húy Lê Duy Kỳ, vị vua thứ 6 củanhà Lê trung hưng theo Đại Việt sử ký toàn thư, ông là một vị vua “thông minh, học rộng, mưu lược sâu, văn chương giỏi, đáng khen làbậc vua giỏi.” Ông ở ngôi vua hai lần, lần thứ nhất qua các niên hiệuVĩnh Tộ…
Cảnh Trị - Lê Huyền Tông, vị vua thứ 8 thời Lê trung hưng tronglịch sử nước ta Ông lên ngôi tháng 10 năm Nhâm Dần(1662), khi mới
8 tuổi, hiệu là Cảnh Trị Ở ngôi được 9 năm khi ông mất mới 17 tuổi.+ Sau nội chiến Nam – Bắc triều, cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễnbùng nổ, kéo dài từ 1627 đến cuối năm 1672 Không phân thắng bại,hai bên giảng hòa lấy sông Gianh(Quảng Bình) làm giới tuyến, chia đấtnước làm hai Quảng Bình lúc ấy là chiến địa của các cuộc giao tranh.Nỗi đau của người dân nơi đây được thể hiện qua câu ca:
Sông Gianh nước chảy đôi dòngĐèn chong đôi ngọn biết trông ngọn nào?
+ Để ngăn chặn cuộc tiến công của chúa Trịnh ở mặt Bắc, theo mưu kếcủa Đào Duy Từ, chúa Nguyễn Phúc Khoát xây dựng Lũy TrườngDục(Định Bắc trường thành) Quân chúa Trịnh nhiều lần chủ động tiếnđánh nhưng không thể thắng được quân chúa Nguyễn Về điều này,dân gian có câu ca:
Lũy Thầy ai đắp mà caoSông Gianh ai bới ai đào mà sâu
- Về làng nghề Bát Tràng dân gian có câu ca:
Trên trời có đám mây xanh
Trang 15Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Quảng Nam có lụa Phú Bông
Có khoai Trà Đảo, có sông Thu Bồn
Phú Bông dệt lụa, dệt saKim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng
Về nghề làm giấy, in tranh:
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái quê anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có ao tắm mát, có nghề in tranh
Làng Mái là tên Nôm chỉ làng Đông Hồ(Bắc Ninh) – nơi có nghề intranh nổi tiếng
- Về các làng nghề ở Thăng Long có câu:
Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng
Thợ vàng Định công, thợ đồng Ngũ Xã
- Các làng nghề ở Hải Dương, Hưng Yên có câu:
Ai về Đông Tĩnh, Huê CầuĐông Tĩnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm
Nào ai đi chợ Thanh Lâm Cho anh gửi một áo thâm hạt dầu
+ Thanh Hóa có các đặc sản:
Xây Hà Trung mạch phạnNgự lĩnh khê thang (Huế)(Cơm nếp Hà Trung
Trang 16Cháo gà núi Ngự)
Ai về nhớ vải Đình Hòa Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê
Nhớ Dừa Quảng Hán, Lựu KhêNhớ cơm chợ Bản, thịt dê quán Lào
An Khê nổi tiếng Hòn Bình,Khi xưa Nguyễn Huệ ẩn danh nơi này
An Khê, Hòn Bình là những địa danh gắn với ngày đầu dựng cờ khởinghĩa của 3 anh em Tây Sơn ở vùng Sơn Tây thượng đạo (Gia Laingày này)
+ Về cuộc kháng chiến chống Thanh xuân Kỉ Dậu:
Xuân xưa vang tiếng Hà HồiOai danh Nguyễn Huệ muôn đời còn ghi
Một đời khí phách uy nghiĐón xuân không thẹn tu mi Lạc Hồng
Dẫu mà không lấy được em Anh về đóng cửa, cài rèm đi tu
Tu đâu cho em theo cùng May ra thành Phật, thờ chung một chùa
Trong dân gian, các quan niệm về chữ hiếu, chữ đức thẫm đẫm tinhthần Phật pháp:
Ai ơi ăn ở cho lành,
Tu nhân tích đức để dành kiếp sau
Đời cha tích đức làm giàu,Đời mẹ tích đức mai sau con nhờ
Lên chùa thấy Phật muốn tu,
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền
Tu đâu cho chí tu nhà