Dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông là một môn học quan trọng, dạy họclịch sử không chỉ giúp các em lĩnh hội kiến thức mà từ đó góp phần giáo dục tưtưởng, tình cảm, khơi dậy lòng yêu
Trang 1MỤC LỤC
Nội dung Trang
1 Mở đầu 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Những điểm mới của SKKN 2
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3
2.1 Cơ sở lý luận của SKKN 3
2.2.1 Phương tiện dạy học 3
2.1.2 Phiếu học tập 3
a Khái niệm 3
b Phân loại các hình thức của phiếu học tập 4
c Vai trò của phiếu học tập 4
d Các bước thiết kế phiếu học tập 4
e Sử dụng phiếu học tập 4
2.2 Thực trạng của vấn đề 5
2.3 Các giải pháp thực hiện .6
2.3.1 Thiết kế phiếu học tập trong giảng dạy 6
a Phần dẫn của phiếu học tập 6
b Phần hoạt động 6
c Phần quy định thời gian 6
d Phần đáp án 7
2.3.2 Kinh nghiệm thiết kế phiếu học tập 7
2.3.3 Vận dụng phiếu học tập trong tiết giảng 7
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 18
3 Kết luận và kiến nghị 19
3.1 Kết luận 19
3.2 Một số kiến nghị 19
* Tài liệu tham khảo
Trang 21 MỞ ĐẦU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Từ thời cổ đại lịch sử rất được coi trọng, các sử gia Hy Lạp - La Mã đã xem
lịch sử là “ cô giáo của cuộc sống”.Ở thế kỉ XIX Các - Mác viết: “Nếu cho phép tôi chỉ được chọn một môn học thì tôi chọn môn lịch sử” Ý kiến của Các- Mác
khẳng định rõ hơn giá trị và sức mạnh kì diệu của môn lịch sử Bởi lẽ, những trithức lịch sử không chỉ thể hiện nền văn hoá của mỗi dân tộc mà là công cụ để giáodục tình cảm, đạo đức hình thành thế giới quan, nhân sinh quan từ đó tạo nênnhững phẩm chất của con người Việt Nam Xuất phát từ vai trò quan trọng của mônlịch sử như vậy đòi hỏi người dạy và người học luôn phải đổi mới phương pháp dạy
và học
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định: “giáo dục
là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đàotạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu
từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học,học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn Hiệu quả giáo dục đào tạo thật
sự là quốc sách hàng đầu, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân là yêu cầu bức thiết của toàn xã hội, yêucầu của hội nhập quốc tế trong kỉ nguyên toàn cầu hóa”
Vậy làm thế nào để dạy và học đạt được kết quả tốt nhất, đó là mong muốncủa tất cả giáo viên chúng ta Để đạt hiệu quả cao trong giờ dạy học giáo viên cầnlàm tốt tất cả các khâu, tổ chức linh hoạt các hoạt động học tập cho học sinh từcách ổn định lớp, đến cách vào bài rồi cách triển khai bài học đến khâu cuối củng
cố bài và giao bài tập về nhà Giáo viên làm tốt các khâu đó sẽ giúp học sinh tíchcực chủ động lĩnh hội kiến thức và say mê môn học
Dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông là một môn học quan trọng, dạy họclịch sử không chỉ giúp các em lĩnh hội kiến thức mà từ đó góp phần giáo dục tưtưởng, tình cảm, khơi dậy lòng yêu quê hương đất nước, ý thức giữ gìn và bảo vệ
Tổ quốc.Trong suốt năm học qua, bằng nhiệt huyết giảng dạy của mình tôi khôngngừng tìm tòi, nghiên cứu, tìm ra cách thức để nâng cao hiệu quả giảng dạy ở mỗitiết dạy lịch sử Từ thực tiễn giảng dạy và qua những tiết thao giảng tôi đã nhận
thấy sử dụng phiếu học tập trong một số tiết học thực sự hiệu quả Vì vậy, tôi đã
chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm :‘‘Kinh nghiệm sử dụng phiếu học tập để nâng cao hiệu quả giảng dạy qua bài học lịch sử lớp 10 THPT”.Với đề tài sáng kiến
kinh nghiệm này tôi rất mong được sự góp ý của bạn bè và đồng nghiệp để đề tàiđược hoàn thiện hơn
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Nghiên cứu đề tài sáng kiến kinh nghiệm này và vận dụng kiến thức giảng
dạy vào bài 19:‘‘Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ X-XV’’
nhằm giúp các em học sinh khối 10 hình thành được khái niệm cơ bản của phiếu
Trang 3học tập, cách sử dụng phiếu học tập và hiệu quả của phiếu học tập trong quá trìnhhọc tập nhằm nâng cao hiệu quả của bài học
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Với đề tài sáng kiến kinh nghiệm này tôi vận dụng trong quá trình giảng dạymôn lịch sử lớp 10 của trường THPT Vĩnh Lộc Tôi vận dụng vào bài học cụ thể là
bài 19:‘‘Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ X-XV’’.
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trong đề tài sáng kiến kinh nghiệm này tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như sau :
+ Nghiên cứu tư liệu để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu
+ Khảo sát thực tiễn qua thông tin trên mạng và qua thực trạng học môn lịch sửcủa trường THPT mà tôi đang dạy để có cái nhìn khái quát về thực trạng dạy họcmôn lịch sử và thực trạng của việc giáo dục truyền thống yêu nước của học sinhhiện nay
+ Vận dụng kiến thức soạn một tiết dạy cụ thể, đó là bài 19:‘‘Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ X-XV’’.
5 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SKKN
- So với SKKN mà tôi làm năm trước thì năm nay tôi đã bổ sung một số giải pháp
để giải quyết vấn đề như: cách thiết kế phiếu học tập, thiết kế phiếu học tập trongmột tiết học cụ thể
- Thiết kế lại cấu trúc của bài học: ghép giữa các mục để sử dụng phiếu học tập đạthiệu quả cao
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ :
2.1.1 Phương tiện dạy học:
Phương tiện dạy học bao gồm những thiết bị có khả năng chứa đựng hoặctruyền tải những thông tin về nội dung dạy học và sự điều khiển quá trình dạy học
Đó là: mô hình, hình vẽ, sách giáo khoa, máy vi tính, máy chiếu Theo PhạmNgọc Quang, “ Phương tiện dạy học bao gồm mọi thiết bị kĩ thuật từ đơn giản đếnphức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt vàtiếp thu kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo” Phương tiện dạy học giữ vai trò quan trọng gópphần hướng dẫn hoạt động nhận thức của học sinh, giúp học sinh tự chiếm lĩnh trithức, kích thích hứng thú học tập của học sinh, góp phần phát triển trí tuệ và giáo
dục nhân cách cho học sinh V.P Golov cho rằng: “Phương tiện dạy học là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nội dung giáo dục và phát triển học sinh trong quá trình dạy học” Những tri thức học sinh lĩnh hội được hình thành
thông qua bằng con đường trực quan, ngoài ra không có con đường nào khác Trựcquan làm cho quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh trở nên dễ dàng, tự giác, có ýthức và vững chắc hơn, tạo ra hứng thú học tập của học sinh, là phương tiện tốtnhất để giáo viên gần gũi với học sinh và là phương tiện quan trọng để phát triển tư
duy cho học sinh V.L Lênin nhận xét: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu
Trang 4tượng và từ đó trở về thực tiễn- đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan
Phương tiện dạy học giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu sâu sắc và nhớ bài lâuhơn Phương tiện dạy học tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp cụ thể hóa những cáiquá trừu tượng, đơn giản hóa những máy móc và thiết bị quá phức tạp
2.1.2 Phiếu học tập:
a Khái niệm:
Theo nghĩa của từ điển “Phiếu” là tờ giấy rời có cỡ nhất định chuyên dùng để
ghi chép những nội dung cụ thể nào đó hoặc phiếu là tờ giấy ghi nhận một quyềnlợi nào đó cho người sử dụng Ngoài ra, phiếu còn là mảnh giấy ghi tên ngườimình tín nhiệm khi bầu cử hoặc ý kiến, biểu quyết tự tay mình bỏ vào hòmphiếu
Theo PGS TS Nguyễn Đức Thành “Phiếu học tập” là những tờ giấy rời, in
sẵn những công tác độc lập hay làm theo nhóm nhỏ, được phát để học sinh hoànthành trong một thời gian ngắn của tiết học Trong mỗi phiếu học tập có ghi rõmột vài nhiệm vụ nhận thức nhằm hướng tới hình thành kiến thức, kĩ năng hayrèn luyện thao tác tư duy cho học sinh
Theo PGS TS Trịnh Văn Biểu “Phiếu học tập” là bản ghi các yêu cầu hay
các câu hỏi của giáo viên mà học sinh phải thực hiện trong giờ học trên lớp
Theo các ý kiến trên: Phiếu học tập là những tờ giấy rời có nội dung hướng
dẫn yêu cầu học sinh làm việc trong một thời gian ngắn tại lớp học hoặc đượclàm ở nhà trước mỗi bài học, có ghi rõ một vài nhiệm vụ nhận thức nhằm hìnhthành kiến thức, kĩ năng tư duy
b Phân loại các hình thức của phiếu học tập:
+ Phiếu học tập dùng cho hình thành kiến thức mới: sử dụng trong việc hìnhthành kiến thức mới cho học sinh Thông qua việc dẫn dắt học sinh hoàn thànhnội dung của phiếu học tập, học sinh sẽ lĩnh hội được lượng kiến thức nhất định.Dạng này cần có sự hợp tác giữa giáo viên và học sinh
+ Phiếu học tập dùng để củng cố, hoàn thiện kiến thức: sử dụng khi học sinhhọc xong từng phần, từng bài, từng chương để giúp học sinh nắm vững kiến thức
đã học, đảm bảo tính hệ thống liên tục và logich của kiến thức trong chươngtrình
c Vai trò của phiếu học tập:
- Cung cấp thông tin và sự kiện: phiếu học tập chứa đựng thông tin, dữ liệu hoặc
sự kiện hoặc dùng làm cơ sở cho một hoạt động nhận thức nào đó
- Công cụ hoạt động và giao tiếp: phiếu học tập chứa đựng các câu hỏi, bài tập,yêu cầu hoạt động, những vấn đề để yêu cầu học sinh giải quyết, hoặc thực hiệnkèm theo những hướng dẫn, gợi ý cách làm
d Các bước thiết kế phiếu học tập:
- Bước 1: Xác định trường hợp cụ thể của việc sử dụng phiếu học tập trong bài
học
Trang 5- Bước 2: Xác định nội dung của phiếu học tập, cách trình bày nội dung của
phiếu học tập và hình thức thể hiện trong phiếu học tập
Nội dung của phiếu học tập được xác định dựa vào một số cơ sở sau: mụctiêu của bài học, kiến thức cơ bản, phân bố thời gian, phương pháp và phương tiệndạy học, môi trường lớp học để xác định nội dung, khối lượng công việc trongphiếu học tập cho phù hợp
- Bước 3: Viết phiếu học tập:
Các thông tin, yêu cầu trên phiếu học tập phải được ghi rõ ràng, ngắn gọn,
chính xác, dễ hiểu Phần dành cho học sinh điền các thông tin phải có khoảng trốngthích hợp Cách trình bày phiếu phải đảm bảo tính khoa học, thẩm mĩ
e Sử dụng phiếu học tập:
Phiếu học tập là công cụ để giáo viên tiến hành tổ chức hoạt động nhận thứccho học sinh, đồng thời là cơ sở để học sinh tiến hành các hoạt động một cách tíchcực, chủ động Việc sử dụng phiếu học tập nên được sử dụng trong dạy kiến thứcmới, ôn tập, kiểm tra và thường được diễn ra theo quy trình sau:
- Giáo viên nêu nhiệm vụ học tập, giao phiếu học tập cho học sinh, tùy theohình thức tổ chức dạy học mà giáo viên giao cho mỗi học sinh một phiếu hay mỗinhóm một phiếu
- Tiến hành quan sát, hướng dẫn và giám sát kết quả hoạt động của học sinh
- Tổ chức cho một số cá nhân hoặc đại diện nhóm trình bày kết quả làm việcvới phiếu học tập Hướng dẫn toàn lớp trao đổi, bổ sung hoàn thành phiếu học tập.Giáo viên có thể yêu cầu học sinh trao đổi chéo nhau để sửa chữa, đánh giá kết quảlàm việc với phiếu học tập của nhau trên cơ sở các kết luận của giáo viên
2.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
Môn lịch sử ở nhà trường phổ thông có tác dụng to lớn đối với việc giáo dụcthế hệ trẻ về lịch sử dân tộc, truyền thống dân tộc, hình thành nên thế giới quankhoa học Song do đặc thù của bộ môn lịch sử, do một số giáo viên còn chưa thực
sự hiểu sâu về phương pháp dạy học và kiến thức còn lệ thuộc vào sách giáo khoa,tức là chưa làm chủ được kiến thức dẫn đến giờ học khô khan, nhàm chán và nặng
nề Tình trạng này đã làm mất đi tính hấp dẫn của môn lịch sử Hơn nữa, do tưtưởng coi môn sử là “môn phụ”, học sinh “học gì thi nấy” nên nhiều học sinh quaylưng với môn sử Quan niệm sai lầm cho rằng học lịch sử chỉ cần trí nhớ khôngphải tư duy, động não, không có bài tập thực hành đã ảnh hưởng đến việc đánh giá,
tổ chức phương pháp dạy học
Trong những năm gần đây Bộ giáo dục có nhiều thay đổi về kì thi THPTquốc gia, nếu các năm 2015, 2016 học sinh được lựa chọn môn thi để xét tốt nghiệpthì đa phần học sinh không chọn môn lịch sử vì khó học, khó đạt điểm cao Còntrong vài năm gần đây khi Bộ đưa môn sử vào tổ hợp xét tốt nghiệp, môn sử thuộcnhóm các môn khoa học xã hội gồm: sử - địa – gdcd, so với tổ hợp các môn khoahọc tự nhiên thì tổ hợp này vẫn có nhiều học sinh lựa chọn Nhưng thực trạng đángbuồn là không phải các em yêu thích môn sử hơn mà đa phần những em lựa chọnmôn sử vì nó nằm trong tổ hợp các môn khoa học xã hội và có môn địa và giáo dục
Trang 6công dân có thể cứu cánh được Hoặc có một bộ phận các em học sinh vì khôngbiết gì cả nên mới chọn môn lịch sử Với cách thi trắc nghiệm như hiện nay cànglàm cho một bộ phận các em nhác học ỷ lại với việc may rủi, xác định tô qua điểmliệt là đạt yêu cầu
Theo thống kê của Bộ giáo dục ở kì thi THPT quốc gia năm 2018 ở bộ mônlịch sử cả nước có 11 học sinh đạt điểm 10 Tuy nhiên, về phổ điểm chung củamôn được xếp cuối danh sách với điểm trung bình môn cả nước không quá 4 điểm.Nếu năm trước nữa môn này đạt 4,6 điểm, năm nay chỉ đạt 3,79 điểm
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, môn lịch sử có đông học sinh đăng kí thi nhất ở
tổ hợp bài Khoa học Xã hội, với 27.941 em Kết quả, chỉ 19,1% bài thi đạt từ 5điểm trở lên, 80,9 % bài thi có điểm dưới trung bình
Tại Đà Nẵng, 90% thí sinh đạt dưới 5 điểm môn lịch sử trong kì thi THPTquốc gia 2018
Tại Tỉnh Thanh Hóa trong kì thi THPT quốc gia 2018 có 39 bài thi bị điểmliệt môn lịch sử
Những con số trên cho thấy học sinh ngày càng xem nhẹ việc học tập mônlịch sử
Thực tiễn tại nơi tôi công tác và trên địa bàn của huyện thì mức độ chênhlệch của học sinh chọn khối cũng thể hiện khá rõ, đa số học sinh khi được hỏi vềviệc chọn ngành, chọn khối thì các em đều chọn các ngành khối A, vì vậy hiện naynhững lớp học khối C không còn nữa, thay vào đó là các lớp thuộc ban khoa học tựnhiên Từ thực trạng trên thời gian các em giành cho học tập môn sử ngày càng ít đithậm chí là không Tuy nhiên, không phải vì lẽ đó mà giáo viên quên đi thiên chứccủa mình là giáo dục đạo đức và rèn luyện kĩ năng cho học sinh
Trong quá trình được phân công giảng dạy môn lịch sử lớp 10 tôi nhận thấyđây là một chương trình khó, nội dung nhiều bài chưa tương xứng với số tiết trongphân phối chương trình Có những bài, những phần kiến thức khó giáo viên phảimất nhiều thời gian để học sinh ghi nhớ Đặc biệt, trong chương trình không có tiếtbài tập để giáo viên hướng dẫn làm bài tập và rèn luyện kĩ năng cho học sinh Hiệnnay, trong các tiết dạy giáo viên vẫn còn trung thành với kiến thức của sách giáokhoa, chưa mạnh dạn kết cấu lại bài học, có những bài mục nào cũng dạy về hoàncảnh, nguyên nhân, kết quả, ý nghĩa của một sự kiện nào đó Việc dạy đi dạy lạitheo kiến thức của sách giáo khoa dễ làm cho học sinh có tâm lí chán nản, ngạinghe, ngại học Bởi vậy, thông qua quá trình giảng dạy trên lớp, đúc rút kinhnghiệm qua các tiết thao giảng đặc biệt từ bạn bè đồng nghiệp, tôi đã mạnh dạnthay đổi kết cấu ở một số bài học để phù hợp với đối tượng học sinh đồng thời đểbài dạy hấp dẫn hơn, phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập Đồng thời,việc sử dụng phiếu học tập trong một số tiết học đã thực sự đạt hiệu quả góp phầnnâng cao ý thức học tập, rèn luyện, tư duy của các em học sinh Từ thực tiễn giảng
dạy, tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm ‘‘Kinh nghiệm sử dụng phiếu học tập
để nâng cao hiệu quả giảng dạy qua bài học lịch sử lớp 10 THPT” Với đề tài
sáng kiến kinh nghiệm này tôi mong muốn sẽ giúp đỡ các em được phần nào trong
Trang 7việc hoạt động nhóm, nâng cao khả năng lĩnh hội kiến thức để làm tiền đề cho việchọc tập môn lịch sử ở những lớp trên.
- Các thao tác, công việc học sinh cần thực hiện là:
+ Đọc thông tin mục SGK trang
+ Hoàn thành nội dung của phiếu học tập
c Phần quy định thời gian:
Phiếu học tập cần quy định thời gian hoàn thành bao lâu là căn cứ vào trình độ
HS, thời gian của tiết học Các công việc, hoạt động phải được thực hiện trongkhoảng thời gian nhất định, tùy khối công việc mà giáo viên quy định thời gian chohọc sinh hoàn thành có thể là 5 phút,10 phút, 15 phút hoặc có thể kéo dài hơn
d Phần đáp án:
Phần đáp án thường tách biệt với các phần trên và được giáo viên dùng đểchỉnh sửa, bổ sung cho học sinh
2.3.2 Kinh nghiệm thiết kế phiếu học tập:
Khi thiết kế phiếu học tập trong quá trình giảng dạy giáo viên cần chú ý:
- Nội dung phù hợp, ngắn gọn, trọng tâm Giáo viên cần nắm năng lực của học sinh
để đưa ra phiếu học tập vừa sức
- Từ ngữ ghi trong phiếu học tập phải trong sáng, dễ hiểu
- Nên thiết kế phiếu học tập kết hợp cả kênh chữ và kênh hình để kích thích hứngthú học tập của học sinh
- Số lượng phiếu học tập trong một tiết học vừa phải, không nhiều quá gây tốn thờigian và không cần thiết nhưng cũng không quá ít
- Số câu hỏi không nên quá nhiều hay yêu cầu không nên quá dài
- Hình thức đẹp và khoa học, nên tách phiếu học tập ra từng phần rõ ràng để họcsinh dễ theo dõi, kết hợp với làm việc nhóm
- Thông tin, dữ liệu cần được chủ động tích lũy, cập nhật thường xuyên
2.3.3 Vận dụng phiếu học tập trong bài giảng:
Bài 19:‘‘Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ X-XV’’.
(Tiết ppct: 25)
I MỤC TIÊU BÀI HỌC
Trang 81 Về kiến thức:
Sau khi học xong bài học yêu cầu học sinh nắm và hiểu được:
- Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, nhân dân Đại Việt phải liên tiếp tổ chức những
cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc
- Với tinh thần dũng cảm, truyền thống yêu nước ngày càng sâu đậm, nhân dân ta
đã chủ động sáng tạo, vượt qua mọi thách thức khó khăn đánh lại các cuộc chiếntranh xâm lược của kẻ thù
- Trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vĩ đại nổi lên những trận quyết chiến,chiến lược mà còn xuất hiện một loạt các nhà chỉ huy quân sự tài năng như: LêHoàn, Lí Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi
2 Về tư tưởng:
- Giáo dục lòng yêu nước, ý thức bảo vệ nền độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc
- Bồi dưỡng tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc
- Bồi dưỡng niềm tự hào dân tộc và lòng biết ơn đối với các thế hệ tổ tiên, các anhhùng dân tộc đã chiến đấu quên mình vì nền độc lập của Tổ quốc
3 Về kĩ năng:
- Rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong học tập
- Bồi dưỡng kĩ năng phân tích, tổng hợp
- Kĩ năng lập bảng thống kê để rút ra nhận xét và đánh giá
4 Định hướng phát triển năng lực
- Năng lực chung: Tự học, hợp tác, giao tiếp, giải quyết vấn đề
- Năng lực chuyên biệt: tái hiện sự kiện; thực hành khai thác và sử dụng kênh hình
có liên quan đến bài học; liên hệ, so sánh, đối chiếu, sâu chuỗi các sự kiện lịch sử
II THIẾT BỊ VÀ TÀI LIỆU DẠY HỌC:
Thiết bị: Tranh ảnh, lược đồ các cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên vàcuộc khởi nghĩa Lam Sơn
III TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC
A.HOẠT ĐỘNG TẠO TÌNH HUỐNG HỌC TẬP/KHỞI ĐỘNG/DẪN DẮT/NÊU VẤN ĐỀ.
1 Mục tiêu:
Sau khi học xong bài học yêu cầu học sinh nắm và hiểu được:
- Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, nhân dân Đại Việt phải liên tiếp tổ chức những cuộckháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc
- Với tinh thần dũng cảm, truyền thống yêu nước ngày càng sâu đậm, nhân dân ta
đã chủ động sáng tạo, vượt qua mọi thách thức khó khăn đánh lại các cuộc chiếntranh xâm lược của kẻ thù
- Trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vĩ đại nổi lên những trận quyết chiến,chiến lược mà còn xuất hiện một loạt các nhà chỉ huy quân sự tài năng như: LêHoàn, Lí Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi
2 Phương thức:
- Giáo viên sử dụng phương pháp ghép mục để giảng dạy
Trang 9- Yêu cầu HS quan sát lược đồ tóm tắt về những chiến thắng tiêu biểu của quân dânnhà Trần Lập bảng so sánh giữa các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thời Lí-Trần với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
3 Gợi ý sản phẩm:
- Qua nghiên cứu lược đồ và sách giáo khoa, học sinh sẽ biết được những cuộckháng chiến chống ngoại xâm tiêu biểu của nhân dân ta, nguyên nhân thắng lợi củacác cuộc kháng chiến, rút ra đặc điểm của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
III TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
A HOẠT ĐỘNG TẠO TÌNH HUỐNG HỌC TẬP/KHỞI ĐỘNG/GIỚI THIỆU/DẪN DẮT/NÊU VẤN ĐỀ
1 Mục tiêu: Tạo tình huống học tập cho học sinh khởi động để giáo viên giới thiệu
bài học
2 Phương thức:
Gv chuẩn bị một mảnh ghép gồm 4 ô cho Hs lựa chọn mảnh ghép, lật mở Mỗi mảnh ghép tương ứng với một bức tranh về các nhân vật lịch sử gắn liền với thắng
lợi quân sự tiêu biểu của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỉ X-XV
Câu hỏi : Hãy cho biết hình ảnh trên gợi cho em về nhân vật lịch sử nào?
- Hs tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ: trả lời câu hỏi
4 Giới thiệu bài mới: Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV là thời kì xây dựng và phát triển
của nhà nước phong kiến độc lập Trong suốt gần 6 thế kỉ nhân dân ta liên tục đứnglên chống giặc ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc Ở thế kỉ nào nhân dân ta cũnggiành được thắng lợi vang dội, những thắng lợi đó gắn liền với các tên tuổi: Lê
Hoàn, Lí Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi Ở bài 19: “Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỉ X-XV” cô và các em cùng nhau ôn lại những chiến
thắng huy hoàng của quân dân ta
Ở bài 19, tiết ppct 25 gồm có 3 mục lớn
I Những cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống
II Các cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên ở thế kỉ XIII
III Phong trào đấu tranh chống quân xâm lược Minh và khởi nghĩa Lam Sơn
Ở bài học này cô ghép phần kiến thức của mục I, II, III nhằm giúp các emtích cực hoạt động và hiểu rõ hơn đồng thời so sánh những thắng lợi của quân dân
ta trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỉ X-XV
B HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Mục tiêu, phương thức hoạt động Gợi ý sản phẩm
I Những cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống.
II Các cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông
ở thế kỉ XIII.
I Những cuộc
chống quân xâm
Trang 10III Phong trào đấu tranh chống quân xâm lược Minh
và khởi nghĩa Lam Sơn.
Hoạt động 1:
* Mục tiêu: Tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, triều đại, thời
gian, chống quân xâm lược, lãnh đạo, hình thức tổ chức
kháng chiến, trận quyết chiến, chiến lược, nét độc đáo về
nghệ thuật quân sự của cuộc kháng chiến chống Tống thời
Tiền Lê
Hoạt động 2:
* Mục tiêu: Tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, thời gian, chống
quân xâm lược, lãnh đạo, hình thức tổ chức kháng chiến,
trận quyết chiến, chiến lược, nét độc đáo về nghệ thuật
quân sự của cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý
Hoạt động 3 :
* Mục tiêu: Tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, thời gian, chống
quân xâm lược, lãnh đạo, hình thức tổ chức kháng chiến,
trận quyết chiến, chiến lược, nét độc đáo về nghệ thuật
quân sự của cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên thời
Trần
Hoạt động 4 :
* Mục tiêu: Tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, thời gian, chống
quân xâm lược, lãnh đạo, hình thức tổ chức kháng chiến,
trận quyết chiến, chiến lược, nét độc đáo về nghệ thuật
quân sự của cuộc kháng chiến chống quân Minh thời Lê
Phương thức: - Giới thiệu về hoạt động học (2 phút).
Bước 1: - Giáo viên ghép phần kiến thức của mục I, II và
kiến thức của mục III
Bước 2: Giáo viên sử dụng phiếu học tập và chiếu phiếu
học tập lên pp cho hs quan sát.
Cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên
Cuộc kháng chiến chống quân Minh
III Phong trào đấu tranh chống quân xâm lược Minh và khởi nghĩa Lam Sơn.
Trang 11Giáo viên nhắc nhở: Phiếu học tập này thay cho việc ghi
bài vào vở, những thông tin các em hoàn thiện ở phiếu học
tập được xem như một tài liệu học tập
Bước 3: Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm
+ Nhóm 1:Ba bàn đầu phía bên trái bàn giáo viên hoàn
thành nội dung về cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền
Lê
+ Nhóm 2: Ba bàn tiếp theo phía bên trái bàn giáo viên
hoàn thành nội dung về cuộc kháng chiến chống Tống thời
Lí.
+ Nhóm 3: Ba bàn đầu phía bên phải bàn giáo viên hoàn
thành nội dung về cuộc kháng chiến chống Mông –Nguyên
thời Trần.
+ Nhóm 4: Ba bàn tiếp theo phía bên phải bàn giáo viên
hoàn thành nội dung về cuộc kháng chiến chống quân
Minh và khởi nghĩa Lam Sơn.
Bước 4: Phát phiếu học tập cho học sinh.
Bước 5: Nhắc nhở thời gian hoàn thiện trong 10 phút.
Bước 6:
- Giáo viên cho học sinh hoạt động trong 10 phút sau đó gv
gọi đại diện của nhóm 1,2 và nhóm 3,4 lên bảng trình bày
sản phẩm của mình vào giấy rô-ki dán sẵn trên bảng
- Báo cáo sản phẩm:(5phút)
Trang 12- Hs hoàn thành những nội dung chính của phiếu học tập
- Gv gọi đại diện các nhóm nhận xét: Nhóm 2 nhận xét
nhóm 1, nhóm 4 nhận xét nhóm 3 và ngược lại
- Gv: Nhận xét kết quả hoạt động của nhóm 1 và nhóm 3,
nhận xét ý thức hợp tác giữa các em ở nhóm 2 và nhóm 4
tích cực và có trách nhiệm nhận xét kết quả của nhóm khác
- Gv khen ngợi, tuyên dương về tinh thần làm việc của lớp
- Gv trình chiếu bảng tóm tắt hoàn chỉnh trên pp và khai
thác kiến thức thông qua bảng
Cuộc kháng chiến chống quân Mông- Nguyên
Cuộc kháng chiến chống quân Minh
- NhàTống ởtronggiaiđoạnkhủnghoảng,suy yếu
Nước ĐạiViệt độclập, pháttriển
- QuânMông-Nguyênhùng mạnh,chinh chiếnkhắp nơi
- Nền độclập khôngcòn, nước
ta rơi vàoách thốngtrị của nhàMinh
- Cáccuộc khởinghĩa bịđàn áp
1287-1288
1427
Các vuanhà Trần,các tướngtài và TrầnQuốc Tuấn
Lê Lợi
Trang 13Chiến thắngtại Đông
Bộ Đầu,ChươngDương,Hàm Tử,Tây Kết,Vạn Kiếp
Chiếnthắng ChiLăng,XươngGiang
“tiên phát chế nhân”,
chủđộng tấncôngđịch,đẩyquânđịch vàothế bịđộng
- LậpphòngtuyếnsôngNhưNguyệt
- Sửdụngchiếntranhtâm lí đểđánh bạihoàntoànquânxâmlược
- Thực hiện
kế sách
“vườnkhông nhàtrống”
- Chủ độngrút lui bảotoàn lựclượng
- Nghệthuật chớpthời cơ
Quốc Tuấnviết hịchtướng sĩ đểkhích lệtinh thầnchiến đấucủa nghĩaquân
- Xâydựng căn
cứ LamSơn
- NguyễnTrãi đặtvấn đề
“đánh vàolòng
- Nghĩaquân xâydựng lựclượng từkhông đến
có, từ yếuđến mạnh,
sử dụngchiếnthuật “tâmcông”
- Nhà Trầndùng chiến
- Chủđộng
Trang 14để kếtthúcchiếntranh
thắng quân
sự để đánhbại quânxâm lượcMông-Nguyên (Chiếnthắng BạchĐằng
1288)
giảng hòa,
mở Hộithề ĐôngQuan, giữquan hệtốt đẹpgiữa nước
ta với nhàMinh
a Về hoàn cảnh lịch sử:
Gv? Em hãy cho biết hoàn cảnh lịch sử diễn ra các cuộc
kháng chiến chống ngoại xâm có điểm gì giống và khác
nhau?
Hs: + Giống nhau: các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm
từ thế kỉ X- XV điễn ra trong thời kì xây dựng và phát triển
của nhà nước phong kiến Việt Nam
+ Khác nhau:
Các cuộc kháng chiến chống Tống và chống quân Mông
-Nguyên diễn ra trong hoàn cảnh nước ta đã giành được độc
lập, chủ quyền Vì vậy, cuộc kháng chiến có điều kiện
thuận lợi, nhân dân đoàn kết
- Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn: Đầu thế kỉ XV, quân Minh
đã chiếm được nước ta và lập nên chính quyền đô hộ Nền
độc lập, tự chủ của ta đã mất nên khi cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn bùng nổ phải diễn ra trong điều kiện bí mật
b.Thời gian:
- Cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê: 981.
- Cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý: 1075-1077.
- Cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên:
Lần 1:1258
Lần 2:1285
Lần 3:1287-1288
- Cuộc kháng chiến chống quân Minh: 1418-1427
Gv? Trong các cuộc kháng chiến chống ngoaị xâm từ thế kỉ
X-XV cuộc kháng chiến nào kéo dài nhất? Vì sao?
Hs: Cuộc kháng chiến kéo dài nhất là cuộc kháng chiến
chống quân Mông -Nguyên xâm lược, diễn ra trong 30
năm
Vì: Quân Mông - Nguyên là lực lượng hùng mạnh ba lần
tấn công đánh chiếm nước ta
a Về hoàn cảnh lịch sử:
b.Thời gian:
Trang 15c Người lãnh đạo:
Gv?Trong các nhân vật lịch sử trên những nhân vật nào là
người con của đất Thanh Hóa?
Hs: Lê Hoàn và Lê Lợi
Gv: Gợi ý để học sinh trình bày hiểu biết về Lê Lợi
Gv chốt: Vùng đất Thanh Hóa được xem là cái nôi sản sinh
ra các dòng vua chúa Việt Nam, người xưa có câu “Vua xứ
Thanh, thần xứ Nghệ” Trong các cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm ở thời kì nào Thanh Hóa cũng có đóng góp to
lớn Chính vì vậy, các em là những học sinh của tỉnh Thanh
Hóa chúng ta phải cố gắng hơn nữa để xây dựng xứ Thanh
ngày càng giàu đẹp hơn, đúng như sinh thời Bác Hồ từng
căn dặn “Thanh Hóa phải trở nên một tỉnh kiểu mẫu… phải
làm sao cho mọi mặt chính trị, kinh tế, quân sự phải là tỉnh
kiểu mẫu”.
d Trận quyết chiến, chiến lược:
- Gv: yêu cầu học sinh biết được những trận thắng quyết
định kết thúc chiến tranh thông qua bảng tóm tắt
e Nét độc đáo về nghệ thuật quân sự:
Gv: Ở mối cuộc kháng chiến đều có chiến thuật độc đáo,
sáng tạo
GV? Em hãy cho biết điểm giống nhau về nghệ thuật quân
sự giữa các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm?
Hs:- Các cuộc kháng chiến đều có chiến lược, chiến thuật
đúng đắn, nghệ thuật chớp thời cơ
- Nghệ thuật xây dựng phòng tuyến phòng thủ vững chắc:
thời Tiền Lê: xây dựng trận địa cọc trên sông Bạch Đằng,
lợi dụng thủy triều để đánh tan quân địch Thời nhà Lý, Lí
Thường Kiệt cho xây dựng phòng tuyến trên sông Như
Nguyệt, thời Trần có phòng tuyến Bình Lệ Nguyên, Phủ
Lỗ
- Các cuộc kháng chiến sử dụng nghệ thuật chiến tranh
“tâm lí”
Lí Thường Kiệt sáng tác bài bài thơ Nam Quốc sơn hà,
Trần Quốc Tuấn viết Hịch Tướng Sĩ, Nguyễn Trãi viết thư
dụ hàng Vương Thông
GV dẫn dắt: ở mỗi cuộc kháng chiến đều sử dụng nghệ
thuật quân sự độc đáo riêng Ở tiết học này cô hướng dẫn
cho các em về nghệ thuật quân sự “tiên phát chế nhân” của
cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý
Gv: Năm 1075, biết tin quân Tống chuẩn bị tiến sang xâm
lược nước ta, Lí Thường Kiệt chủ trương: “Ngồi yên đợi
c Người lãnh đạo:
d Trận quyết chiến, chiến lược:
e Nét độc đáo về nghệ thuật quân sự: