Đây cũng là một ẩn dụ độc đáo mới lạ đã thể hiện được tình cảm, sự gắn bó không rời giữa hai mẹ con, là tấm lòng của người mẹ, là tình mẹ đối với con, là niềm hạnh phúc của người mẹ được
Trang 1A CÁCH VIẾT MỘT ĐOẠN VĂN VỀ PHÂN TÍCH TÁC DỤNG CỦA PHÉP TU TỪ.
Em thường bị lúng túng khi viết một đoạn văn về phân tích tác dụng của các phép tu từ? em phải trình bày những nội dung gì? trình bày như thế nào? rất mong các thầy cô hướng dẫn (Lê Trung Dũng- Hs lớp 93)
Đó là một câu hỏi hay chứng tỏ em là người ham học hỏi, không phải chỉ riêng em mà nhiều bạn khác cũng có những băn khoăn như thế, …
Tôi cũng đã tìm đọc nhưng cũng chưa có tài liệu nào nói về vấn đề này một cách đầy đủ, cụ thể cả Nhưng theo tôi, để viết (hoặc trình bày miệng) một đoạn văn thể hiện được cảm nhận của mình về một tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong đoạn hoặc bài thơ (bài văn) (sau đây gọi chung là văn bản) thì phải tiến hành các bước sau:
I.VỀ CHUẨN BỊ:
- Phải nắm vững những hiểu biết cơ bản về các phép tu từ đã được học
- Đọc kĩ văn bản đó
- Xác định đúng biện pháp tu từ đã được sử dụng trong văn bản
- Nhận thấy được giá trị, ý nghĩa, hiệu quả, dụng ý diễn đạt thông qua phép tu từ mà tác giả sử dụng ở trong văn bản đó
II.VỀ CÁCH TRÌNH BÀY:
A Phần mở đoạn:
Giới thiệu văn bản và biện pháp tu từ đã sử dụng.
B.Phần phát triển đoạn:
Phân tích giá trị tu từ:
1.Chỉ ra tên của phép tu từ đó ( có thể gồm nhiều phép được sử dụng trong đó.)
2.Tìm ra những từ ngữ thể hiện phép tu từ đó; cấu trúc, cấu tạo của phép tu từ ( kiểu, cách, công thức, ý nghĩa biểu thị, mối liên hệ cụ thể của nó)
3.Nêu tác dụng, hiệu quả sử dụng của phép tu từ trong văn bản đó:
-Nêu những giá trị biểu cảm mà phép tu từ mang lại thể hiện trong văn bản
-Vận dụng vốn sống, cảm thụ của bản thân về Ngữ - Văn liên quan đến nội dung văn bản và kiến thức về biện pháp tu từ để phân tích, trình bày những suy nghĩ liên tưởng cảm nhận của riêng mình về giá trị biểu cảm, hiệu quả việc sử dụng của phép tu từ của tác giả làm nên sự thành công về mặt nghệ thuật nhằm diễn đạt thành công một nội dung nào đó cụ thể trong văn bản
Cần bám sát những nội dung kiến thức về lý thuyết về các biện pháp tu từ mà bài học đã cung cấp Thường là ở phần ghi nhớ Và căn cứ vào thực tế cụ thể nội dung nội dung biện pháp tu từ trong văn bản đang xem xét.
C Phần kết đoạn:
Khẳng định lại giá trị tu từ được dùng trong văn bản.
Nếu được thì có thể so sánh, liên tưởng thêm với những trường hợp tượng tự khác để thấy được nét riêng độc đáo, sáng tạo của tác giả trong văn bản đó thì càng tốt
Lưu ý:
- Không nhất nhất như trình bày ở trên, có thể linh hoạt thay đổi trật tự theo khả năng ý thích cảm xúc sáng tạo của riêng em Nhưng nên trình bày đủ ý và viết nó trong một đoạn văn hoàn chỉnh
-“có đầu có đuôi”
- Đừng biến nó thành một đoạn văn phân tích nội dung văn bản chung chung mà chỉ nên viết đoạn văn dưới góc độ phân tích tác dụng hiệu quả của phép tu từ)
Sau đây là một vài ví dụ
VD1.Phân tích giá trị biểu cảm của phép tu từ so sánh được sử dụng trong phần lời của bài hát “
Quê hương” Nhạc Giáp Văn Thạch - lời thơ Đỗ Trung Quân
Bài hát “Quê hương” Nhạc Giáp Văn Thạch, lời thơ Đỗ Trung Quân là một bài hát hay Điều làm nên sự thành công của bài hát này một phần là ở nghệ thuật so sánh trong phần lời của bài hát
Trang 2ở đây, Đỗ Trung Quân đã đem so sánh : “ Quê hương” với rất nhiều hình ảnh thân thuộc (vế
A) Quê hương là:
(vế B) - Chùm khế ngọt
- Con diều biếc
- Cầu tre nhỏ
- Con đò nhỏ
- Là đường đi học
- Như là chỉ một mẹ thôi!
Vế A: “ Quê hương” là một khái niệm trừu tượng, chỉ có một và lặp lại được đem so sánh với rất nhiều vế B là những hình ảnh, sự vật cụ thể rất đỗi thân quen, gần gũi gợi nhớ, chất chứa bao kỷ niệm, tình cảm thiêng liêng Có thể nói Đỗ Trung Quân đã “định nghĩa quê hương” bằng một điệp ngữ kết hợp với nghệ thuật so sánh Một sự so sánh bề ngoài thì “nổi” thì “ngang bằng” nhưng thực ra lại là “
chìm”, là “không ngang bằng” Quê hương - một nội dung trừu tượng được so sánh với nhiều hình ảnh rất
cụ thể: chùm khế; con diều; cầu tre; con đò; đường đi học; là… mẹ Quê hương là tất cả là một không
gian rộng lớn
Có thể nói nhà thơ đã cụ thể hóa, “vật chất hóa” khái niệm quê hương, tích tụ thêm cho “Quê hương” thêm nhiều ý nghĩa, sinh động, gợi cảm, càng khơi gợi thêm cho mỗi một người nghe sự tự do liên tưởng, cảm nhận theo những cảm xúc, nỗi niềm, ký ức riêng có của mỗi người vô cùng phong phú Chính sự so sánh độc đáo đó đã làm cho lời hát trở nên sinh động, gần gũi, vô cùng hàm súc và luôn tươi mới gây được chú ý của nhiều người
Nhờ thế mà lời thơ, bài hát đã nhanh chóng đi vào lòng người được giới trẻ thuộc lòng và hát say mê
VD2: Phân tích nét nghệ thuật ẩn dụ độc đáo trong câu thơ sau:
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng
(Nguyễn Khoa Điềm)
Bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có câu thơ
ẩn chứa một hình ảnh ẩn dụ thật độc đáo:
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng.
“Mặt trời” trong câu thơ thứ nhất là mặt trời của cõi tự nhiên vĩnh hằng đem ánh sáng nuôi sống muôn loài trên trái đất
Còn "Mặt trời" trong câu thơ thứ hai chính là em bé trên lưng mẹ Em bé là mặt trời của mẹ cũng giống như mặt trời của cõi tự nhiên vĩnh hằng vô cùng cần thiết đối với muôn loài vậy Đó là một ẩn dụ độc đáo
ở đây, Cu tai, đứa con tuy còn nhỏ đang nằm trên lưng mẹ nhưng là linh hồn của người mẹ Tà Ôi Đứa con là nguồn sống, là nguồn động viên lớn lao đối với người mẹ, là ánh sáng của đời mẹ, đem lại cho người mẹ tất cả bao hy vọng ước mơ và sức mạnh vượt gian nan, cực nhọc nguy hiểm, làm cho người mẹ
có một nghị lực phi thường tìm đến với cách mạng, phát rẫy, trỉa bắp, nuôi con, nuôi bộ đội, phục vụ kháng chiến…
Nguyễn Khoa Điềm đã dùng hình ảnh mặt trời để so sánh ngầm, coi đứa con là mặt trời trong tâm hồn của người mẹ Đây cũng là một ẩn dụ độc đáo mới lạ đã thể hiện được tình cảm, sự gắn bó không rời giữa hai mẹ con, là tấm lòng của người mẹ, là tình mẹ đối với con, là niềm hạnh phúc của người mẹ được sống vì con
Đó là một ẩn dụ tạo nên sự thành công của bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”.
Nhà thơ Viễn Phương cũng đã dùng hình ảnh mặt trời nhưng là để ngầm so sánh với Bác Hồ với
ý nghĩa là để ca ngợi Bác Hồ là con người vô cùng vĩ đại, có công lao to lớn, Bác là “mặt trời”đem lại ánh sáng độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam vừa nhằm thể hiện niềm tôn kính thiêng liêng, sự biết ơn vô hạn của nhân dân Việt Nam đối với Bác:
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Trang 3Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”
(Viễn Phương)
Cũng dùng hình ảnh mặt trời để diễn đạt cảm xúc suy nghĩ của mình nhưng hai nhà thơ đã khai thác ở hai nghĩa ẩn dụ khác nhau rất tinh tế Như vậy, nhờ cách dùng ẩn dụ khác nhau của các tác giả mà
đã tạo cho vốn từ vựng có thêm nhiều nét nghĩa khác nhau vô cùng phong phú
*Trong bài văn nghị luận nếu biết vận dụng kết hợp nhuần nhuyễn kỹ năng phân tích tác dụng các biện pháp tu từ này và đưa vào với một mức độ thích hợp thì bài viết sẽ đạt kết quả tốt hơn
B CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TỪ VỰNG
I SO SÁNH
Cần nhớ rằng: Khi chúng ta nói: “Con hơn cha là nhà có phúc” thì chúng ta có một phép so sánh logic hay được gọi là so sánh chính xác Phương thức so sánh mà chúng ta đang trao đổi ở đây là so sánh hình ảnh,
I.Khái niệm:
So sánh là sự đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác loại cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm biểu hiện một cách hình tượng, đặc điểm của một trong những đối tượng đó So sánh tu từ có tác dụng tạo sắc thái biểu cảm, tạo cảm xúc cụ thể, sinh động, tạo tính hình tượng.
Thí dụ:
-Tiếng suối trong như tiếng hát xa - Hồ Chí Minh - Cảnh khuya
- Mặt ngay như cán tàn - Thành ngữ
Đó là một sự so sánh có giá trị hình tượng và biểu cảm Phương thức so sánh là một hình thức biểu hiện đơn giản nhất của lời nói có hình ảnh Có thể nói rằng hầu như bất cứ sự biểu đạt hình ảnh nào cũng có thể chuyển thành hình thức so sánh
II Cấu tạo của phép so sánh:
Về mặt hình thức, so sánh khác với các cách chuyển nghĩa, ở chỗ bao giờ cũng gồm hai đối tượng lập thành hai vế Các đối tượng này có thể là sự vật, tính chất hay hoạt động Hai đối tượng gắn với nhau để tạo nên một hình thức so sánh Mô hình đầy đủ của một phép so sánh thường là
* A + từ so sánh + B trong đó gồm:
- vế A nêu tên sự vật, sự việc được so sánh
- vế B nêu tên sự vật, sự việc dùng để so sánh với sự vật, sự việc nói ở vế A
- Từ ngữ chỉ phương diện so sánh
-Từ ngữ chỉ ý so sánh (từ so sánh): như, giường như, chừng như, hơn, thua, kém
Trong thực tế mô hình trên có thể biến đổi Các từ ngữ chỉ phương diện so sánh và từ ngữ chỉ ý so sánh
có thể được lược bớt Vế B, từ so sánh có thể linh hoạt thay đổi vị trí
Thí dụ: - Tình anh như nước dâng cao,
- Tình em như tấm lụa đào tẩm hương - Ca dao
- Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da - Nguyễn Du - Truyện Kiều
-Có khi mô hình trên đổi thành:
*Như B + A:
-Như chiếc đảo bốn bề chao ngọn sóng,
Hồn tôi vang vọng cả hai miền - Tế Hanh
Trong thơ ca nhờ cấu trúc cân đối và do sự cô động của ngôn ngữ thơ, nên nhiều khi giữa A và B không
có từ so sánh:
Thí dụ: -Gái thương chồng (A)đương đông buổi chợ(B)
Trai thương vợ (A)nắng quái chiều hôm (B)- Tục ngữ
- Người ngồi đó lớn mênh mông,(A)
Trời xanh, biển rộng, ruộng đồng, nước non.(B) - Tố Hữu
*A bao nhiêu B bấy nhiêu
Thí dụ: Ai ơi, đừng bỏ ruộng hoang,
Trang 4Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu - Ca dao
* A là B: Từ là ở đây có giá trị tương đương với như, nhưng có sắc thái khác Nhưmang sắc thái giả
định, còn là mang sắc thái khẳng định.
Thí dụ: Nhân dân là bể,
Văn nghệ là thuyền - Tố Hữu - Việt Bắc
Thí dụ:- Họ là những chiến sĩ trẻ (họ như là những chiến sĩ trẻ)
- Chủ nghĩa Lê nin là cái cẩm nang thần kỳ (… như là cái cẩm nang )
(Hồ Chí Minh – Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê nin) Xét về mặt nội dung, đối tượng nằm ở hai vế của phép so sánh là khác loại, nhưng lại có những nét nào
đó giống nhau, nét giống nhau này có thể hoặc nổi hoặcchìm.
Thí dụ:
Nổi: Dù ai nói ngã nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân - Ca dao
Chìm: Trẻ em như búp trên cành,
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan - Hồ Chí Minh
(vắng mặt phương diện so sánh - làm cho người đọc có thể liên tưởng ở nhiều phương diện; tươi non, đầy sức sống, chứa chan hy vọng (gần với ẩn dụ)
Nét giống nhau nổi hoặc chìm này là cơ sở để cho phép so sánh có thể hình thành được và tạo nên hạt nhân nội dung của phép so sánh Đó cũng là căn cứ để bình giá so sánh.
Một phép so sánh được xem là tốt, là “đắt” phải đồng thời thoả mãn được cả hai điều kiện sau đây:
a Đối tượng đưa ra so sánh là khác loại
b Phát hiện được nét giống nhau giữa hai đối tượng khác loại, đó chính là tài năng của người sử dụng so sánh bộc lộ ra ở chỗ phát hiện đúng những nét giống nhau mà ít ai hoặc không ai để ý đến
Thí dụ: Còn duyên thì gắn như keo
Hết duyên nghễnh ngãng như kèo đục vênh - Ca dao
Phải chăng câu ca dao này là lời trách móc của một người con gái đối với người con trai nào đó! Sự gắn bó của tình yêu so sánh với sự gắn bó của keo với nhau, hoặc của keo với một vật khác thì đó
là một sự so sánh không phải không hay, vì người so sánh đã phát hiện rất đúng đắn nét giống nhau giữa hai đối tượng khác loại ( tình yêu và keo); nhưng cách so sánh này không phải là thật ‘mới mẻ”,bất ngờ
Song khi câu ca dao so sánh sự không gắn bó của tình yêuvới sự “nghễnh ngãng” của cái kèo nhà bị đục vênh thì quả là một sự so sánh vừa độc đáo, vừa mang sắc thái dân tộc, bởi vì cách so sánh này
không phải dễ dàng nhận thấy và phát hiện ra, cho nên nó luôn luôn mới mẽ, gợi hình và gợi cảm
Từ sự phân tích trên đây cho thấy so sánh là phương tiện giúp ta nhận thức sâu sắc hơn những phương diện nào đó của sự vật, là phương tiện giúp ta bày tỏ lòng yêu ghét, ý khen chê, thái độ khẳng định hoặc phủ định đối với sự vật Do đó so sánh là phương tiện được dùng trong nhiều phong cách ngôn ngữ: trong khẩu ngữ cũng như văn viết, trong phong cách nghệ thuật cũng như phong cách chính luận
So sánh mang phong cách đặc trưng của của thời đại, phong cách dân tộc, phong cách tác giả Tìm hiểu sự khác nhau giữa cách so sánh trong văn học cổ điển với văn học hiện đại, giữa cách so sánh trong ca dao với thơ ca bác học, giữa cách so sánh của nhà thơ này với nhà văn khác là một điều thú vị
Có người ưa dùng cách so sánh mang tính chất trí tuệ, có người ưa so sánh mộc mạc, chân chất, chính xác
và pha màu hài hước như văn chương dân gian
III Đối tượng so sánh:
a.So sánh đồng loại:
- So sánh người với người:
Thí dụ: Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo
Khi tới trường cô giáo như mẹ hiền - Lời bài hát
- So sánh vật với vật:
Thí dụ: Từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ- Vũ Tú Nam
b.So sánh khác loại:
- So sánh vật với người:
Thí dụ: Ngôi nhà như trẻ nhỏ
Trang 5Lớn lên với trời xanh - Đồng Xuân Lan
- So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại:
Thí dụ: Trường Sơn: chí lớn ông cha
Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào - Lê Anh Xuân
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra - Ca dao
IV.Các kiểu so sánh
1.So sánh ngang bằng: A là B ( những từ so sánh chỉ ý ngang bằng)
Thí dụ: Ba mẹ là lá chắn
che chở suốt đời con - lời bái hát
2.So sánh không ngang bằng: A chẳng( chưa) bằng B ( những từ so sánh chỉ ý không ngang bằng)
Thí dụ: Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi –Tố Hữu
Là, như, y như, giống như, tựa
như, tựa như là, bao nhiêu…
bấynhiêu
So sánh ngang bằng
Hơn, không bằng, kém, chưa
bằng, chẳng bằng…
So sánh ngang khôngbằng
V.Luyện tập:
1.Tìm hiểu cấu tạo của so sánh trong các ví dụ mục II.III rồi điền vào bảng sau:
Vế A
(sự vật được
so sánh)
Phương diện so
Vế B (sự vật dùng để so sánh)
2 Đọc, tìm, ghi lại những đoạn văn có chứa phép so sánh trong các văn bản đã học hoặc đã đọc mà em thích
Viết thành những đoạn văn trình bày lại cảm thụ của em
3.Tìm các vế B của vế A- “Quê hương” trong bái hát “Quê hương” của Đỗ Trung Quân và phân tích giá
trị biểu cảm của phép tu từ so sánh được sử dụng trong đó
Gợi ý:
Trong bái hát “ Quê hương” Đỗ Trung Quân đã đem so sánh vế A(sự vật được so sánh) : Quê hương với rất nhiều vế B(sự vật dùng để so sánh):
- Chùm khế ngọt
- Con diều biếc
- Cầu tre nhỏ
- Con đò nhỏ
- Là đường đi học
- Như là chỉ một mẹ thôi!
Vế A là một khái niệm trừu tượng, chỉ có một và lặp lại được đem so sánh ngang bằng mà lại không ngang bằng với rất nhiều vế B là những hình ảnh, sự vật cụ thể rất đỗi thân quen, gần gũi gợi nhớ chất chứa kỷ niệm, tình cảm thiêng liêng Có thể nói Đỗ trung Quân đã “định nghĩa” Quê hương- một nội dung trừu tượng bằng những hình ảnh rất cụ thể Một sự so sánh bề ngoài thì “nổi” thì “ngang bằng” nhưng thực ra lại là “ chìm”, là “không ngang bằng”, quê hương là tất cả làm cho mỗi người đọc tự do liên tưởng, cảm nhận về quê hương theo những cảm xúc ký ức riêng Vì thế mà lời hát sinh động, gần
Trang 6gũi, mà vô cùng hàm súc và luôn tươi mới Tác giả đã phát hiện ra hình ảnh và cách so sánh độc đáo gây được chú ý của nhiều người
Nhờ thế mà lời thơ, bài hát đã nhanh chóng đi vào lòng người được giới trẻ thuộc lòng và hát say mê
II NHÂN HOÁ
Nhân hoá là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật…bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật trở nên gần gũi với con người, biểu thị được
Nhân hoá có tác dụng làm cho các sự vật trở nên sống động gần gũi với con người.
Có thể nói thêm rằng:
Nhân hoá hay nhân cách hoá là một biến thế của ẩn dụ, ở đó người ta chuyển đổi ý nghĩa của các từ ngữ chỉ thuộc tính của con người sang đối tượng không phải con người
Có người cho nhân hoá thực ra là nhân vật hoá, tức là cách biến mọi vật thành nhân vật đối thoại hay như
là một nhân vật của mình
2.Các kiểu nhân hoá:
Về mặt hình thức, nhân hoá có thể được tổ chức bằng cách:
a.Dùng những từ vốn gọi người để gọi sự vật:
Dùng những từ vốn gọi người ( cô, dì, chú, bác, anh, chị) để gọi sự vật.
Thí dụ:
Có con chim vành khuyên nhỏ Dáng trông thật ngoan ngoãn quá Gọi “dạ” bảo “vâng”.Lễ phép ngoan nhất nhà Chim gặp bác chào mào, “chào bác!” Chim gặp cô Sơn Ca, “ chào cô!” Chim gặp anh chích
choè, “ chào anh!” Chim gặp chị Sáo Nâu, “chào chị!”- lời bài hát
b Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật:
Thí dụ:
Dùng các động từ thuộc về hoạt động của con người để miêu tả sự tồn tại và vận động của trời núi -trăng- hoa:
Vì mây cho núi lên trời
Vì chưng gió thổi hoa cười với trăng.
Dùng các tình từ miêu tả, các động từ hành vi của người, khoác lên cho các đối tượng không phải người:
Lúa đã chen vai đứng cả dậy - Trần Đăng
Hoặc: Súng vẫn thức Vui mới giành một nữa,
Nên bâng khuâng sương biếc nhớ người đi.- Tố Hữu
Nhờ nhân hoá mà cảnh vật trở nên sinh động lạ thường!
c.Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người
Coi các đối tượng không phải người mà như là người và tâm tình nói chuyện với chúng
Thí dụ:
Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện chăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ? - Ca dao
Trò chuyện với sự vật, hô - gọi sự vật như trò chuyện với con người, hô gọi con người:
Thí dụ:
Núi cao chi lắm núi ơi ? Núi che mặt trời chẳng thấy người thương - Ca dao
3 Nội dung, cơ sở và tác dụng của nhân hóa:
Về mặt nội dung, cơ sở để tạo nên nhân hoá là sự liên tưởng, nhằm đi đến phát hiện ra những nét giống nhau giữa người và đối tượng không phải là người Ở đây đòi hỏi một sự quan sát tinh vi, một sự hiểu biết
Trang 7chính xác về những thuộc tính của con người cũng như thuộc tính của đối tượng không phải con người Như vậy, sự thống nhất giữa tính chính xác của việc rút ra nét cá biệt giống nhau và tính bất ngờ của sự liên tưởng trong nhân hoá là căn cứ để bình giá nó
Từ sự phân tích về hình thức và nội dung của nhân hoá như trên cho ta thấy cơ sở chung để cấu tạo nên
nó, cũng như đối với so sánh và ẩn dụ, là rút ra những nét giống nhau giữa hai đối tượng khác loại Nhưng nhân hoá khác so sánh ở chỗ chỉ có một vế còn vế kia ngầm thừa nhận Và nó khác ẩn dụ ở chỗ nó
là phương tiện để trực tiếp miêu tả đối tượng không phải con người, còn ẩn dụ là một cách gọi tên khác cho đối tượng định miêu tả
Tác dụng chủ yếu của nhân hoá đối tượng với sự biểu đạt là miêu tả và trữ tình.
Trước hết, nhân hoá là cách đưa các đối tượng không phải con người sang thế giới con người Khi các đối tượng không phải con người được khoác áo con người thì thường tạo nên một không khí mới, sinh động, chúng trở nên gần gụi hơn, dễ hiểu hơn đối với chúng ta, mở rộng trường liên tưởng…
Thí dụ: Chủ nghĩa cá nhân khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc, mà ai cũng biết: xuống dốc dễ hơn lên
dốc - (Hồ Chí Minh- Đạo đức cách mạng)
Nhờ sử dụng nhân hoá mà đối tượng được nói đến ở đây trở nên thật sinh động Qua sự nhân hoá này, chúng ta thấy chủ nghĩa cá nhân vốn có tài ẩn náu, nay hiện ra rất cụ thể, như một con người, tưởng như cũng hành động, cũng nói năng khôn khéo, cũng biết len lõi vào chỗ yếu của con người để tìm nơi dung thân
Sự liên tưởng rút ra nét giống nhau giữa người và đối tượng không phải người thường gắn với cách nhìn, với thái độ của người nói Cho nên, bằng nhân hoá, người ta có thể bộc lộ tâm tư của mình một cách kín đáo Trong nhiều trường hợp, người nói dùng nhân hoá vừa là để miêu tả đối tượng không phải con người, làm phương tiện, làm cái cớ để thể hiện tình cảm riêng, sâu kín của mình Thí dụ câu ca dao nói với nhện, với sao được trích ra ở trên cho chúng ta thấy đằng sau lời hỏi nhện, nghe sao tha thiết, thoáng hiện lên một nỗi buồn nhớ không nguôi giữa cảnh đêm khuya của một tâm hồn
Do có cả chức năng nhận thức và tình cảm, cho nên nhân hoá được sử dụng rộng rãi trong nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau: khẩu ngữ tự nhiên, trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, trong ngôn ngữ chính luận
Bên cạnh nhân hóa, phải kể đến vật hoá hay vật cách hoá, ở đây người ta chuyển đổi ý nghĩa của những
từ ngữ chỉ thuộc tính của vật để biểu thị về con người Vật cách hoá thường được dùng trong văn châm biếm, đùa vui, nhưng nó không phải không có giá trị biểu cảm
Thí dụ:
Gái chính chuyên lấy được chín chồng,
Vo viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi
Ai ngờ quang đứt lọ rơi,
Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng - Ca dao
Hoặc:
Người tình ta để trên cơi,
Nắp vàng đậy lại để nơi giường thờ
Đêm qua ba bốn lần mơ,
Chiêm bao thì thấy dậy sờ thì không - Ca dao
Đằng sau sự đùa vui ta cảm thấy một tình yêu tha thiết và một nỗi buồn cô đơn, thấm thía vì sự cách trở với người thương
4 Luyện tập:
1 Phép nhân hoá sau đây được tạo ra bằng cách nào?
a Núi cao chi lắm núi ơi ?
Núi che mặt trời chẳng thấy người thương - Ca dao
b Chủ nghĩa cá nhân khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc, mà ai cũng biết: xuống dốc dễ hơn
lên dốc (Hồ Chí Minh- Đạo đức cách mạng)
Gợi ý câu 1
a)- Gọi: núi ơi ? - Trò chuyện với sự vật, hô - gọi sự vật như trò chuyện với con người, hô gọi con người:
Trang 8b) Chủ nghĩa cá nhân khéo dỗ dành - Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật.
2 Viết một đoạn văn với nội dung tự chọn trong đó có dùng phép nhân hóa Nêu tác dụng mà em mong
muốn có được trong đó
III HOÁN DỤ
1.Khái niệm:
Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên gọi của một sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi cảm cho sự diễn đạt.
Có thể nói thêm rằng:
Hoán dụ là cách chuyển đổi lâm thời tên gọi ở đối tượng này sang biểu thị một đối tượng khác, dựa trên mối quan hệ khách quan, vật chất hoặc logic có tính chất gần gũi nhau giữa hai sự vật (Vì vậy, nói chung, có bao nhiêu mối quan hệ thì có thể có bấy nhiêu phương thức hoán dụ nhỏ)
2 Các kiểu hoán dụ:
a Lấy bộ phận để gọi toàn thể
Ví dụ: Đầu xanh có tội tình gì
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi - Nguyễn Du
Đầu xanh: con người ở độ tuổi trẻ trung, tuổi trẻ, thanh niên
Má hồng: người con gái đẹp, người đàn bà sống kiếp lầu xanh
Thí dụ: Cả nước ôm em khúc ruột của mình Tố Hữu
Cả nước( vật chứa đựng) biểu thị: “ đồng bào cả nước ta” (vật bị chứa đựng)
Hoặc: Vì sao trái đất nặng ân tình,
Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh - Tố Hữu
Trái đất( vật chứa đựng) biểu thị: “đông đảo những người sống trên trái đất” (vật bị chứa đựng)
c.Lấy đặc điểm, tính chất (dấu hiệu) của sự vật để chỉ sự vật Thí dụ: Áo chàm đưa buổi phân li,
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay - Tố Hữu
áo chàm: áo bằng vải thô nhuộm màu chàm của đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc - biểu thị đồng bào các
dân tộc ở Việt Bắc
Thí dụ: Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao - Ca dao
Một cây( số lượng cụ thể- biểu thị số ít); Ba cây( số lượng cụ thể- biểu thị số nhiều)
3 Mục đích và tác dụng của hoán dụ:
Mục đích của hoán dụ là nhấn mạnh vào một dấu hiệu, một thuộc tính nào đó của đối tượng được nói đến: dấu hiệu hoặc thuộc tính này được dùng làm cái đại diện, cái thay thế cho đối tượng
Về mặt hình thức, hoán dụ giống ẩn dụ ở chỗ chỉ có một vế (vế biểu hiện), còn vế kia(vế được biểu hiện) bị che lấp đi Nhưng trong khi ẩn dụ lâm thời biểu hiện mối quan hệ giống nhau giữa hai sự
vật, thì hoán dụ biểu thị mối quan hệ gần gụi, có thực giữa đối tượng biểu hiện và đối tượng được biểu hiện Như vậy, xét về mặt nội dung, cơ sở để hình thành hoán dụ là sự liên tưởng phát hiện ra mối quan
hệ khách quan có thực có tính chất vật chất hoặc logic giữa các đối tượng
Nhờ được xây dựng trên mối quan hệ khách quan có thực giữa các đối tượng, cho nên hoán dụ
có khả năng khắc hoạ đặc điểm của đối tượng định nói đến Nhấn mạnh đặc điểm nào, khắc hoạ đặc điểm nào của đối tượng định nói là tuỳ thuộc vào năng lực phát hiện và ý định chủ quan của người nói Nói cách khác, tài năng của người nói thể hiện ở chỗ biết phát ra mối quan hệ khách quan có thực một cách chính xác, tiêu biểu và bất ngờ với mọi người Những hoán dụ tốt, làm đọng lại trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ mới mẻ chính là những hoán dụ thoả mãn được những điều kiện nói trên
Thí dụ:
Trang 9Bàn tay ta làm nên tất cả,
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.- Hoàng Trung Thông
Đặc trưng khéo léo của bàn tay, công cụ kỳ diệu của lao động, làm chúng ta liên tưởng đến sức sáng tạo phi thường của sức lao động, điều mà người nói nhận thức như là một quy luật muốn khẳng định, muốn khắc hoạ trước mọi người
Chức năng chủ yếu của hoán dụ là nhận thức Nó được dùng trong nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau; nhưng trong khi ẩn dụ được dùng nhiều trong ngôn ngữ thơ ca, thì hoán dụ thường đắc dụng trong văn xuôi nghệ thuật, vì sức mạnh của nó vừa ở tính cá thể hoá và tính cụ thể, vừa ở tính biểu cảm kín đáo và sâu sắc
4.Luyện tập:
1 Xác định kiểu hoán dụ, phân tích ý nghĩa biểu thị trong các câu thơ sau:
a Đầu xanh có tội tình gì,
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi
(Nguyễn Du)
b Áo nâu liền với áo xanh,
Nông thôn liền với thị thành đứng lên
(Tố Hữu)
c Vì sao Trái Đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh
(Tố Hữu)
Gợi ý:
a Kiểu hoán dụ: Lấy bộ phận để chỉ toàn thể
Đầu xanh:con người ở độ tuổi trẻ trung,( tuổi trẻ, thanh niên)
Má hồng: người con gái đẹp, người đàn bà sống kiếp lầu xanh
Biểu thị tình cảm nuối tiếc của tác giả gây ấn tượng cho người đọc đối với nàng Kiều
b Kiểu hoán dụ: lấy đặc điểm của sự vật để chỉ sự vật
Áo nâu:( để chỉ) những người nông dân
Áo xanh:( để chỉ) những người công nhân
Nêu được đăc điểm riêng phổ biến về trang phục của người nông dân, công nhân nước ta Thể hiện sự quan sát, miêu tả cụ thể, gần gũi ý nói: Các tầng lớp, giai cấp đang cùng nhau đứng lên xây dựng đất nước.
c Kiểu hoán dụ lấy vật chứa đựng để biểu thị vật được chứa đựng
Trái Đất - đông đảo nhân dân
Thể hiện tình cảm cao đẹp, thiêng liêng của nhân dân các nước trên thế giới đối với Bác Hồ
IV.ẨN DỤ
1 Khái niệm:
Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm, hàm súc cho sự diễn đạt.
Ẩn dụ là cách lấy tên gọi của một đối tượng này để lâm thời biểu thị của một đối tượng khác, trên cơ sở thừa nhận ngầm một nét giống nhau nào đấy giữa hai đối tượng
Thí dụ:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời - Nguyễn Du - Truỵện Kiều
Vàng, ngọc là những vật quý được ví ngầm với nàng Kiều để biểu lộ sự quý trọng của người
nói (Kim Trọng) đối với tấm thân và cả phẩm giá của người yêu Kẻ chân mây cuối trời cũng là một ẩn
dụ, vì đây có sự khai thác những nét giống nhau trong cách so sánh ngầm giữa ý “ xa vời cô quạnh” của
thành ngữ này với tấm lòng người nói là Kim Trọng sắp xa cách và cô đơn buồn nhớ người yêu
Người ta gọi ẩn dụ là một lối ví ngầm, vì cấu tạo của nó có những điểm gần gũi với so sánh như
sau:
Trang 10Về mặt nội dung(cấu tạo bên trong), ẩn dụ cũng giống so sánh ở chỗ phải rút ra nét cá biệt giống nhau giữa hai đối tượng vốn là khác loại, không cùng bản chất Nét giống nhau là cơ sở để hình thành ẩn dụ, đồng thời cũng là hạt nhân nội dung của ẩn dụ
Nhưng về mặt hình thức (cấu tạo bên ngoài) ẩn dụ khác so sánh ở chỗ chỉ công khai sử dụng một đối tượng (một về - đối tượng dùng để biểu thị) còn đối tượng được nói đến (đối tượng được biểu thị) thì giấu đi, ẩn đi, không phô ra như so sánh Người nghe dựa vào quy luật liên tưởng những nét tương đồng và dựa vào văn cảnh để tìm ra cái đối tượng được nói đến, nhưng đã bị ẩn đi trong câu nói
2 Các kiểu, dạng ẩn dụ thường gặp:
- Ẩn dụ hình thức (dựa vào sự tương đồng về hình thức giữa các sự vật, hiện tượng)
Thí dụ: Về thăm nhà Bác làng sen,
Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng - Nguyễn Đức Mậu
Lửa hồng - màu đỏ
- Ẩn dụ cách thức (dựa vào sự tương đồng về cách thức thực hiện hành động).
Thí dụ trên: Thắp - nở hoa
- Ẩn dụ phẩm chất ( dựa vào sự tương đồng về phẩm chất giữa các sự vật hiện tượng).
Thí dụ: Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm - Minh Huệ
Người cha- Bác Hồ.
- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác ( Dựa vào sự tương đồng về cảm giác).
Thí dụ: Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kỳ mưa dầm, vui như nối lại
chiêm bao đứt quảng - Nguyễn Tuân
(nắng) giòn tan-(nắng) to, rực rỡ
Đối tượng dùng để biểu thị và đối tượng được biểu thị có thể là cụ thể hoặc trừu tượng Như vậy, trên lý
thuyết, có thể có 4 dạng ẩn dụ:
Dạng 1: lấy đối tượng cụ thể biểu thị đối tượng cụ thể.
Dạng 2: lấy đối tượng cụ thể biểu thị đối tượng trừu tượng
Dạng 3: lấy đối tượng trừu tượng biểu thị đối tượng cụ thể
Dạng 4: lấy đối tượng trừu tượng biểu thị đối tượng trừu tượng.
Trong thực tế thường gặp hơn cả là hai dạng cấu tạo 1 và 2 bởi vì xu hưóng miêu tả thường là cụ thể hoá trừu tượng hoặc làm cụ thể hoá cái trừu tượng hoặc làm cụ thể hơn cái đã cụ thể Thí dụ:
Chim bay tung cánh chim bay
Ba mươi sáu triệu chim bầy gọi nhau - Tố Hữu
Hoặc:
Nhưng giữa bao nhiêu tối tăm dày đặc, ánh sáng vẫn ngời lên, ánh sáng của một tấm lòng thương
người và yêu đời vô hạn (Hoài Thanh - đọc “Nhật ký trong tù”)
Vấn đề được đặt ra trong cấu tạo của ẩn dụ là: nhân tố nào khiến cho người tiếp nhận liên tưởng đến đối tượng bị dấu kín như người thông báo đã liên tưởng? Có hai loại nhân tố: nhân tố logic và nhân tố tâm
lý-xã hội Thử lấy câu ca dao sau đây để phân tích:
Thuyền về có nhớ bến chăng,
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Đứng về mặt logic, ta thấy quan hệ giữa người con trai và người con gái trong câu ca dao này có nét giống với quan hệ giữa thuyền và biển đó là quan hệ di động- cố đinh: Một bên thì đang ngược xuôi, đi lại; một bên thì đang đứng đấy đợi chờ bên kia Do đó, cứ theo luận lý thông thường, người ta có thể giả định người con trai đang đi về và người con gái đang ở lại cũng giống như bất cứ quan hệ trong một cặp
di động- cố định nào Trong thực tế lựa chọn cặp nào còn do tâm lý xã hội, thói quen xã hội quy định Ca
dao đã chọn cặp di động-cố định thuyền-bến Sử dụng như vậy dễ rung động lòng người, bởi vì theo thói
quen suy nghĩ, liên tưởng của người bình dân Việt Nam xa xưa, hình ảnh “cây đa, bến cũ, con đò ” tồn