Lí do chọn đề tài Trong những năm gần đây, giáo dục môi trường được xem là nhiệm vụ vô cùngquan trọng của Nhà nước ta và các nước trên thế giới, bởi lẽ đó là việc làm để bảo tồn và phát
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC………… ……… 1
1 Mở đầu……… 2
1.1 Lí do chọn đề tài 2
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.Phương pháp nghiên cứu 3
2 Nội dung 3
2.1 Cơ sở lí luận 3
2.2.Thực trạng .4
2.2.1Thuận lợi 4
2.2.2 Khó khăn 4
2.3 Các giải pháp và tổ chức thực hiện 5
2.3.1.Các giải pháp 5
2.3.2Các biện pháp để tổ chức thực hiện 6
2.4 Hiệu quả của SKKN 18
3 Kết luận 19
3.1 Kết luận 19
3.2 Kiến nghị 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
DANH MỤC SÁNG KIẾN 22
Trang 2
1 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, giáo dục môi trường được xem là nhiệm vụ vô cùngquan trọng của Nhà nước ta và các nước trên thế giới, bởi lẽ đó là việc làm để bảo tồn
và phát triển bền vững “cái nôi của nhân loại”
Giáo dục môi trường trong nhà trường lại càng có ý nghĩa quan trọng, được xem
là một trong những biện pháp hàng đầu để bảo vệ môi trường có hiệu quả Giáo dụcmôi trường sẽ giúp con người có nhận thức đúng đắn về môi trường, về việc khai thác
sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và có ý thức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môitrường Nhà trường là nơi đào tạo thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của đất nước,những người sẽ làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sau này Nếu họ có đầy đủ nhữngnhận thức về bảo vệ môi trường, thì từ khi đang học trên ghế nhà trường và cho đếnkhi ra đời, dù họ làm việc gì, ở bất cứ nơi đâu, bất kì cương vị hoạt động nào, cũng đều
có thể thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường một cách có hiệu quả Được dự đoán làmột trong những vấn đề có khả năng cao sẽ xuất hiện trong đề thi THPT Quốc gia
2019, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường không chỉ được đề cập đến trong các đề thimôn xã hội mà học sinh còn phải vận dụng kiến thức xã hội để làm đề tự nhiên
Hóa học là một khoa học thực nghiệm, một trong những mục tiêu của dạy học hóahọc ở nhà trường là ngoài việc cung cấp kiến thức lí thuyết bộ môn còn phải tạo điềukiện cho học sinh phát triển tư duy và kĩ năng thực hành hóa học, từ đó có khả năngvận dụng những kiến thức khoa học vào cuộc sống Thực tế dạy học hóa học ở nhiềutrường phổ thông hiện nay vẫn đang ở tình trạng “lí thuyết chưa gắn liền thực nghiệm,thực tiễn cuộc sống” Có nhiều nguyên nhân: do kết cấu nội dung chương trình sáchgiáo khoa đang có nhiều bất cập giữa lí thuyết và thực hành, cơ sở vật chất phươngtiện thí nghiệm không được đầu tư đúng mức, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tậpcủa học sinh cũng chưa có hoặc rất ít nội dung thực hành Ngoài ra, về phía giáo viênphần nhiều có tâm lí “ngại” biểu diễn thí nghiệm trong các giờ dạy và có xu hướngphổ biến “dạy chay” Vì vậy hầu như rất ít giáo viên thực hiện được các thí nghiệmcần thiết trong toàn bộ chương trình hóa học ở tất cả các lớp Hậu quả của thực tế dạyhọc trên dẫn đến hạn chế sự phát triển tư duy và kĩ năng thục hành hóa học của họcsinh, dần dần làm mất đi những hiểu biết sáng tạo vốn rất lí thú của bộ môn khoa họcthực nghiệm Để khắc phục tình trạng trên, nhằm từng bước nâng cao chất lượng dạy
và học hóa học ở trường phổ thông, bên cạnh việc tăng cường sử dụng thí nghiệmtrong các giờ dạy lí thuyết hoặc giờ thực hành còn đòi hỏi giáo viên phải thường xuyên
sử dụng và thiết kế câu hỏi liên quan đến các tình huống thực tiễn, bảo vệ môi trườngtrong dạy học hóa học để học sinh có điều kiện phát triển tư duy và làm cho môn Hóahọc ngày càng gần gũi, thiết thực với đời sống và tạo hứng thú cho học sinh khi học
Từ những lí do trên tôi chọn đề tài “Tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua bài dạy hoá học lớp 10”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu để phục vụ cho việc giảng dạy tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môitrường của môn hóa học lớp 10 trung học phổ thông Nghiên cứu để phục vụ cho cácthế hệ học sinh mai sau khi rời ghế nhà trường, là những công dân mới sẽ và đã giữgìn bảo vệ môi trường Góp phần cùng giáo dục mọi người xung quanh thấy được bảo
vệ môi trường là yêu cầu cấp thiết nhất hiện nay
Trang 3Nghiên cứu để phân tích, đánh giá các yếu tố, các chỉ số có liên quan tác động.Trên có sở đó rút ra các kết luận cần thiết nhất.
Nghiên cứu để làm rõ nhiệm vụ trọng tâm và xuyên suốt là gắn giáo dục với bảo
vệ môi trường khi còn trong lứa tuổi học sinh
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Hệ thống các hiện tượng, bài tập thực tiễn về nội dung giáo dục bảo vệ môi trườngtrong chương trình môn hóa học lớp 10
1.4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Phân tích và hệ thống hóa các tài liệu
có liên quan đến đề tài trên báo chí và nhiều tài liệu khác
- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thí nghiệm ở các giờ dạy trên lớp
từ bản thân và các đồng nghiệp
- Phương pháp điều tra học sinh
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Tổng quan về giáo dục bảo vệ môi trường
a Ô nhiễm môi trường là gì ?[4]
Ô nhiễm môi trường là làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêuchuẩn môi trường, làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp tới các đặc tính vật lí, hóahọc, sinh học… của bất kì thành phần nào trong môi trường Chất gây ô nhiễmchính là nhân tố làm cho môi trường trở nên độc hại hoặc có tiềm ẩn nguy cơ gâyđộc hại, nguy hiểm đến sức khỏe con người và sinh vật trong môi trường đó
b Giáo dục môi trường là gì ?[4]
Là một quá trình nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết và quan tâm trước nhữngvấn đề của môi trường: kiến thức, thái độ, hành vi, trách nhiệm và ký năng để tự mình
và cùng tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề môi trường trước mắt cũng như lâu dài
c Tại sao cần tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào trong giảng dạy Hóa học ở trường THPT ?[9]
Môi trường hiện tại đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là những yếu tố mang tính chất tự nhiên như là đất, nước, không khí, hệ động thực vật Tình trạng môi trường thay đổi và bị ô nhiễm đang diễn ra trên phạm vi mỗi quốc gia cũng như trên toàn cầu Chưa bao giờ môi trường bị ô nhiễm nặng như bây giờ, ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nóng hổi trên toàn cầu Chính vì vậy việc giáo dục bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ thiên nhiên, tài nguyên đa dạng sinh học nói riêng, là vấn đề cần thiết, cấp bách và bắt buộc khi giảng dạy trong trường phổ thông, đặc biệt với bộ môn Hóa học thì đây là vấn đề hết sức cần thiết Vì nó cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về môi trường, sự ô nhiễm môi trường… tăng cường
sự hiểu biết về mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tự nhiên trong sinh hoạt và lao động sản xuất, góp phần hình thành ở học sinh ý thức và đạo đức mới đối với môi trường, có thái độ và hành động đúng đắn để bảo vệ môi trường Vì vậy giáo
Trang 4dục bảo vệ môi trường cho học sinh là việc làm có tác dụng rộng lớn nhất, sâu sắc và bền vững nhất.
2.1.2 Quan niệm về dạy học tích hợp [6 ]
Đó là việc giáo viên sử dụng phương pháp dạy học để thực hiện nội dung dạy họcđược tích hợp trong chương trình theo mức độ liên hệ, lồng ghép (tích hợp bộ phận),hoặc tích hợp toàn phần Trong quá trình xây dựng sách giáo khoa các môn học, cáctác giả có thể đã thực hiện tích hợp kiến thức để thực hiện mục tiêu giáo dục, nhưngkhông thể đầy đủ và luôn phù hợp với mọi đối tượng học sinh Vì vậy trong quá trìnhdạy học đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu để tích hợp các nội dung này cho phù hợp
- Bản thân giáo viên thường xuyên học hỏi qua rút kinh nghiệm các tiết dự giờ,thanh tra, các lớp chuyên đề nên việc tiếp cận với phương pháp dạy học mới được ứngdụng có hiệu quả
- Hiện nay, chủ đề GDMT đã và đang được phổ biến rộng rãi trong nhà trường nênviệc kết hợp giáo dục sẽ được đồng bộ, hiệu quả giáo dục cao hơn
- Gây được sự hứng thú, ngạc nhiên, với các kiến thức mới lạ , vì vậy dễ dàng lôikéo sự tham gia của học sinh vào tiết học, tạo cho học sinh sự hào hứng làm cho tiếthọc sinh động hơn
2.2.2 Khó khăn
- Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục: Chưa đặt ra chomình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cáchdạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít Việc sử dụng kiếnthức Hoá học có nội dung liên quan đến giáo dục vệ bảo vệ môi trường còn hạn chế.Nếu có sử dụng cũng chỉ ở mức độ khiêm tốn
- Một số học sinh còn rất mơ hồ trong việc nắm bắt các kiến thức, việc nắm bắtkiến thức bộ môn hóa học của các em chỉ ở mức độ thấp đó là nắm các khái niệm, địnhluật… một cách máy móc Học sinh chưa biết và vận dụng những kiến thức vào đờisống hàng ngày nên các em thấy khô khan, nhàm chán
- Môn hoá học trong trường phổ thông là một trong môn học khó, nếu không cónhững bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho họcsinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận Đã có hiện tượng một số bộ phận học sinhkhông muốn học hoá học, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của hoá học
- Mặt khác, ý thức của đại bộ phận dân Việt Nam về môi trường sống và về việcbảo vệ môi trường còn rất thấp, chỉ thấy được những lợi ích trước mắt, chưa thấyđược những nguy cơ mà thế hệ sau phải gánh chịu
Khảo sát về thái độ và kết quả học tập của 2 lớp khối 10 như sau
Trang 5có khôi hài nhưng sâu sắc, vẫn đảm nhiệm được mục đích học môn hoá học.
- Phương pháp thí nghiệm:
Ở nơi có điều kiện, người ta tiến hành nhiều thí nghiệm ảo bằng cách mô hình hóa quachương trình phần mềm vi tính Ví dụ: mô hình chu trình nước, mô hình sản xuất nướcsạch, mô hình về khí nhà kính…
- Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục
Môi trường có những vấn đề toàn cầu như tầng ozon, Trái đất nóng lên… nhưng cũng
là vấn đề rất gần gũi với học sinh như: không khí dễ thở, sân vườn sạch đẹp, nguồnnước đã qua sử lý… các em có thể nhìn thấy, nhận biết kinh nghiệm thực tế Giáo viêncần tận dụng đặc điểm này để giáo dục các em
- Phương pháp nêu gương
Trang 6Hành vi của người lớn là tấm gương có ý nghĩa giáo dục trực tiếp đối với học sinh.Muốn giáo dục học sinh có nếp sống văn minh, lịch sự đối với môi trường, trước hếtcác thầy cô giáo và các bậc phụ huynh cần phải thực hiện đúng các quy định bảo vệmôi trường.
- Phương pháp tiếp cận kĩ năng sống bảo vệ môi trường
Kĩ năng sống bảo vệ môi trường là khả năng ứng xử một cách tích cực đối với các vấn
- Đề phòng hiểm họa do rò rỉ hạt nhân của các nhà máy điện nguyên tử
Ý thức được lợi ích và ảnh hưởng xấu của tia phóng xạ đốivới môi trường sống
- Nhận biết phóng
xạ là tác nhân gây
ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước
- Biện pháp xử lí chất thải nhà máy điện nguyên tử là cần đào sâu, chôn chặt trong lòng đất, khối bê tông
Phản ứng oxi khử xảy ra trongquá trình đốt cháynhiên liệu, sản xuấthóa học gây sự ônhiễm môi trườngkhông khí, môitrường đất, nước
hóa-Ý thức đượcích lợi vàảnh hưởngxấu của quátrình sảnxuất hóa học,đối với môitrường sống
- Nhận biết được nguồn gây ô nhiễm, chất thải gây ô nhiễm
- Đề xuất biện pháp xử lí chất thải trên cơ sở tínhchất lí, hóa học của chúng
Chương 5
Bài 22: Clo
Phần I tínhchất vật líPhần V
Điều chế
- Khí clo với con người, động vât, thực vật
- điều chế khí clo trong phòng thí nghiệm và biện
- Có ý thức bảo vệ môi trường trong cuộc sống vàtrong việc học tập hóa
- Nhận biết được chất gây ô nhiễm
- Khử chất thải độc hại là khí clo, hợp chất của clo bằng nước vôi
Trang 7pháp bảo vệ môi trường trong lớp học.
- Sản xuất clo trong công nghiệp
và vấn đề ô nhiễm môi trường không khí
học
- Vận dộng mọi người thực hiện
1 Tính chất
2 Sản xuấttrong côngnghiệp
Biết được sản xuất HCl và
axitclohiđric sẽ có chất thải gây ô nhiễm môi trường
Cách nhận biếtđược chất ô nhiễm:
dung dịch axit HCl
và muối clorua tantrong nước bằngthuốc thử AgNO3
Vận dụng tính chất của HCl và muốiclorua để đề xuất biện pháp bảo vệ môi trường
- Nhận biết nguồn
và tác nhân gây ônhiễm môi trườngcủa HCl
- Đề xuất giải pháp khử chất thảiđộc hại là HCl và các chất khác có liên quan
II Clorua vôi
Hiểu được nướcGiaven và cloruavôi có tác dụngkhử trùng, diêtkhuẩn, nấm mốc,khử chất thải độchại để bảo vệ môitrường trong sạch
Có ý thức sử dụng chất khử trùng có hiệu quả
- Nhận biết được chất dùng để khử trùng, diệt khuẩn
Mục tính chất vật lí
Biết được flo, brom có độc tính gây hại cho sức khỏe của con người, động, thực vật
- Tác dụng của flo với các chất rất mãnh liệt, dễ gây
nổ mạnh ngay cả trong bóng tối gây nguy hiểm đến tínhmạng con người
- hợp chất CFC gây nên sự phá hủytầng ozon
Sử dụng phân bónhóa học, thuốc bảo
- Có ý thức làm thí nghiệm thành công,
an toàn với brom, iot
- Có ý thức
sử dụng an toàn, có hiệuquả thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học giảm ô nhiễm khôngkhí, đất, nước
- Tiến hành làm việc an toàn với hóa chất
- Sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu đúng liều lượng, đúng phương pháp
- Xác định tác nhân gây ô nhiễm môi trường
Trang 8vệ thực vật dễ gâynên sự ô nhiễm đất,nước, không khí.
Chương 6
Bài 29: Oxi-
ozon
II Ozon trong tự nhiên
Hiểu được:
- Vai trò của oxi- ozon với môi trường sống
- Vai trò của tầng ozon là ngăn không cho tia cực tím chiếu xuống Trái đất gây hại cho người, động vật, thực vật
- Sự phá hủy tầng ozon và hậu quả đối với môi trường
Giữ gìn môitrương trongsạch
-Xác định tác nhânphá hủy tầng ozon.-Xác định giải pháp giữ gìn tầng ozon
Biết được:
- H2S, SO2, SO3 có gây độc hại cho con người Là một trong những nguyên nhân gây mưa axit
- Cách xử lí chất thải là H2S, SO2,
SO3 bằng nước vôi
Có ý thức khử chất độchại sau thí nghiệm để chống ô nhiễm
- xác định tác nhânđộc hại, gây ô nhiễm
- khử chất thải, độc hại sau thí nghiệm
1 Tính chất vật lí
Hiểu được:
H2SO4 nhất là
H2SO4 đặc gây bỏng nặng, làm hỏng các giác quankhi tiếp xúc với nó
- Chất thải gây ô nhiễm môi trường
do sản xuất H2SO4
và phân supephotphat
- Nhận biết axit
H2SO4 và ion sunfat trong dung dịch hoặc trong chất thải
Có ý thức giữ gìn an toàn khi làm việc với
H2SO4 đặc
- Xác định được nguồn gây ô nhiễm và chất thải gây ô nhiễm
- Biết giải pháp chống ô nhiễm ở phòng thí nghiệm, nơi sản xuất
- Nhận biết chất thải trong thực tiễn
Trang 9lí chất.Tránhthoát khí, hítphải khí độc.
Củng cố những hiểu biết về tính chất của H2S, SO2,
H2SO4 là những chất thải gây ô nhiễm
a.Lồng ghép vào bài dạy vấn đề bảo vệ môi trường
“Trăm nghe không bằng một thấy” Thật vậy, lời nói của giáo viên dù có thu hút,thuyết phục đến bao nhiêu cũng không bằng những hình ảnh thật, sinh động mà họcsinh thấy được Giáo viên có thể sưu tầm và đưa vào những hiện tượng thực tế để minhhoạ cho nội dung giáo dục môi trường, đó là biện pháp tốt vừa bổ sung tài liệu chosách giáo khoa, vừa gây hứng thú học tập cho học sinh
Trang 10nguyên tử đánh dấu trong công nghiệp và nông nghiệp, từ các lò phản ứng hạt nhân Con người mắc nhiễm phóng xạ khi cơ thể bị chiếu phóng xạ hoặc sống trong môi trường có chứa chất phóng xạ Hậu quả của sự ô nhiễm phóng xạ đối với loài người là tăng xác suất mắc bệnh ung thư, những bệnh liên quan đến di truyền, thể hiện qua hiện tượng quái thai
Ứng dụng: Vấn đề trên lồng ghép vào bài 2: Hạt nhân nguyên tử Nguyên tố hóa
học, đồng vị Qua đó học sinh biết được các tác hại của tia phóng xạ đối với con người
và môi trường
Vấn đề 2: Khí Cl2, HCl gây ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm Cl2 và HCl , sinh ra nhiều ở các nhà máy đốt nhiên liệu hóa chất, đốtthan…thành phố là nơi tập trung nhiều các nhà máy đốt nhiên liệu là rất phổ biến nênthải vào môi trường một lượng lớn Cl2 và HCl gây bỏng đường hô hấp, gây bệnh vềphổi, làm cây chậm phát triển, sinh trưởng
Giáo viên có thể giáo dục môi trường và tác hại của khí clo qua việc kể mẩu
chuyện quân Đức sử dụng clo trong chiến tranh
Tháng 4 năm 1915, ở phòng tuyến phía Tây, quân Anh - Pháp đang giao chiến với quân Đức Quân Anh - Pháp đang bày trận chờ quân Đức, chuẩn bị tổng tiến công, bỗng nhiên một đám khói màu lục bay đến bao trùm quân Anh - Pháp Cái gì vậy? có người ưỡn ngực hướng về làn khí lạ Khi làn khí đã bao trùm, có người cố hít vài hơi xem cái gì Nhưng đột nhiên họ thấy mờ mắt, cổ họng nóng rát và đau Toàn bộ trận tuyến dài mấy chục cây số bỗng náo động kinh hoàng, nhiều người cứ tưởng trúng pháp thuật của địch, ôm đầu bỏ chạy Đến lúc này họ mới thấy làn khí màu vàng lục này thật đáng sợ Lần đánh khí độc này, quân Đức đứng ở trên cao, đầu chiều gió, bố trí mấy ngàn thùng khí độc, phóng về phía liên quân Anh - Pháp 160 tấn khí Clo trong thời gian 5 phút Kết quả, 1,5 vạn người trúng độc; 5000 người chết, khiến trận
tuyến quân Anh - Pháp vỡ ra một khoảng trông dài 6km, quân Đức không tốn bao công mà đạt được chiến thắng
Ứng dụng: Vấn đề trên lồng ghép vào bài 22 clo và bài 23 Hiđroclorua, Axit
clohiđric qua đó học sinh biết tránh sự nhiễm độc Clo và hidroclorua và có những đềxuất biện pháp bảo vệ môi trường
Vấn đề 3: Ô nhiễm không khí, sự suy giảm tầng ozon
Khí quyển của chúng ta được chia thành nhiều tầng, trong đó có tầng ozon (cách mặt đất khoảng 25 km Tầng ozon có tác dụng quan trọng trong việc ngăn cản các tia cực tím nguy hiểm từ mặt trời chiếu xuống trái đất
Chính vì thế nên khi mà tầng ozon bị thủng thì sẽ gây ra hiện tượng một lượng lớn tia cực tím sẽ chiếu xuống trái đất Con người sống trên trái đất sẽ bị mắc nhiều chứng bệnh như ung thư da, thực vật thì sẽ bị mất dần đi khả năng miễn dịch, các sinh vật ở dưới biển cũng sẽ bị tổn thương và chết dần Hiện nay, tầng ozon đã bị báo động là đang “thủng” nghiêm trọng Hiện tượng này được giải thích có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân là do các khí thải công nghiệp như CFC, NO2… Cơ chế của sự phá hủy tầng ozon:
Trang 11
Lỗ thủng tầng ozone đang thu hẹp dần
Hợp chất CFC trước đây thường được sử dụng trong các bình xịt, tủ lạnh, máy điềuhòa không khí Khi các phân tử CFC bay đến tầng bình lưu, bức xạ tia cực tím MặtTrời sẽ phân tách chúng thành những nguyên tử clo Sau đó, nguyên tử clo tham gia
vào quá trình phá hủy phân tử ozon "Chúng tôi biết rất rõ nguyên tử clo trong hợp chất CFC là tác nhân làm thủng tầng ozon Hiện tượng lỗ thủng tầng ozon hiện nay đang bị thu hẹp là do hàm lượng clo trong khí quyển giảm xuống" - Susan Strahan -
nhà khoa học khí quyển tại Trung tâm không gian Goddard của NASA ở Greenbelt,Maryland (Mỹ) - cho biết
Tuy rằng chất CFC đã bị cấm sử dụng Nhưng không phải vì thế mà tầng ozonkhông tiếp tục bị thủng, lượng tàn dư của nó trong khí quyển vẫn còn, thêm vào đó cácoxit của nitơ và lưu huỳnh cũng có tác hại tàn phá tương tự
Ứng dụng: Vấn đề trên lồng ghép vào bài Bài 25 : Flo-brom – iot Qua đó học sinh
biết được sự nguy hiểm của việc suy giảm tầng ozon và có ý thức bảo vệ môi trườngnhư hạn chế sử dụng năng lượng hạt nhân, trồng cây xanh, bảo vệ rừng…Bảo vệ sứckhỏe như hạn chế tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời từ 10 giờ đến 16 giờ