SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA 3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM : PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA CÁC BÀI TẬP THỰC TIỄN HÓA
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
:
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA CÁC BÀI TẬP THỰC TIỄN HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 11
Người thực hiện: Nguyễn Thị Nhân Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Hóa Học
THANH HOÁ, NĂM 2019
Trang 22.3 Các bước đưa các bài tập thực tiễn vào giảng dạy hóa học
vô cơ lớp 11để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực
tiễn cho học sinh Trung học phổ thông
5-18
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
18-20
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong thời kì đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước để vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu Sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự thách thức của quá trình hộinhập kinh tế đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đáp ứng theo nhu cầu của xã hội
Đó là những con người lao động nắm chắc lí thuyết nhưng phải có năng lực vậndụng, có trình độ đào tạo phù hợp với ngành nghề và có thể áp dụng nhữngthành tựu của khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất, những người lao độngsáng tạo, có khả năng làm việc tốt thích ứng với nhu cầu lao động hiện đại,… Việt Nam là một trong những nước có trình độ đào tạo theo lí thuyết cao nhưngmức độ vận dụng vào thực tiễn ( TT) còn hạn chế, việc lồng ghép giáo dục nângcao năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, sản xuất theo từng mức
độ và cấp học cũng như ý thức bảo vệ môi trường sống ngay trên ghế nhà trường
là rất quan trọng
Hội nghị lần thứ 8 BCH trung ương Đảng khóa XI đã nhất trí thôngqua NQ số 29 NQ/TW với nội dung: “ Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục vàđào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Phát triển phẩmchất, năng lực người học, đảm bảo hài hòa giữa “dạy chữ”, “dạy người” [1]
Muốn phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, phát triểnnguồn nhân lực có trình độ, bồi dưỡng nhân tài Giai đoạn trước đây giáo dụcchủ yếu là trang bị kiến thức cho người học thì sang giai đoạn hiện nay là pháttriển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học phải gắn với thực hành; líluận gắn với thực tiễn; có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục nhà trường, giáodục gia đình và giáo dục xã hội.[4] Đó cũng chính là nội dung dạy học tiếp cận
phát triển năng lực, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển
năng lực theo chỉ đạo của Bộ Giáo Dục và Sở Giáo Dục và Đào Tạo Thanh Hóa
trong những năm học này
Hoá học là một môn khoa học lý thuyết kết hợp với thực nghiệm vàliên quan rất nhiều đến thực tiễn, có nhiều ứng dụng, có vai trò quan trọng trongđời sống và trong nền kinh tế quốc dân Nó cung cấp cho học sinh tri thức khoahọc phổ thông cơ bản về chất, sự biến đổi qua lại giữa các chất, giữa công nghệhoá học với đời sống con người Việc áp dụng những kiến thức này vào cuộcsống, giúp các em phát huy tính tích cực, chủ động, hứng thú, óc sáng tạo, niềmtin vào khoa học Đó là những phẩm chất quý báu đối với cuộc sống và lao độngsản xuất
Thực trạng ở trường THPT hiện nay, việc sử dụng thường xuyên bàitập hóa học gắn với thực tiễn trong dạy học chưa được chú trọng và khả nănghọc sinh vận dụng những kiến thức học được trong thực tiễn đời sống cũng nhưtrong những tình huống cần thiết chưa tốt Bên cạnh đó hiện nay giáo viên ápdụng phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực chưa phổ biến Vớimong muốn phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh(HS) ; nâng cao năng lực học tập; năng lực vận dụng kiến thức (VDKT) vào cáctình huống học tập, vào thực tiễn lao động sản xuất, đáp ứng yêu cầu ngày càng
Trang 4cao của xã hội đối với con người trong thời đại mới tôi chọn nghiên cứu đề tài :
“Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh thpt thông
qua các bài tập thực tiễn hoá học vô cơ lớp 11 ”.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Bài tập hoá học vô cơ lớp 11 có nội dung gắn với thựctiễn và cách sử dụng chúng để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thựctiễn cho học sinh THPT
1.4 Phương pháp nghiên cứu
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận: Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo công văn của Bộ ,
2.1.1.1.Khái niệm năng lực
Theo PGS TS Nguyễn Công Khanh: Năng lực của học sinhlà khả năng họcsinh có thể làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ, phù hợp vớilứa tuổi và vận dụng chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụhọc tập, giải quyết hiệu quả những tình huống mà các em gặp trong cuộc sống.[7, tr.7)
2.1.1.2 Đổi mới chương trình giáo dục theo định hướng tiếp cận, phát triển năng lực
Theo cách tiếp cận phát triển năng lực ( NL) , hoạt động của người dạy
và người học trong quá trình dạy học được quan tâm hàng đầu Người dạy phảihướng dẫn người học tự tìm kiếm và thu thập thông tin, gợi mở giải quyết vấn
đề, tạo cho người học có điều kiện thực hành, tiếp xúc với thực tiễn, chứ khôngphải đợi người dạy hướng dẫn, học cách phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đềmột cách sáng tạo; thông qua những kiến thức, những giá trị mà người học quýtrọng và thông qua việc kiên trì theo đuổi những giá trị đó, người học phát triểnđược sự hiểu biết, phát triển mọi năng lực tiềm ẩn của bản thân
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực có nhiều ưu điểm
Trang 5nhưng cũng không được vận dụng thiên lệch mà vẫn phải chú ý đến nội dungdạy học vì nó chính là nền tảng của tri thức Vì vậy việc đổi mới chương trìnhgiáo dục theo hướng tiếp cận, phát triển năng lực là cần thiết.[10][9, tr.15]
2.1.2 Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
2.1.2.1 Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Năng lực VDKT của HS là khả năng của người học huy động, sử dụngnhững kiến thức, kĩ năng đã học trên lớp hoặc học qua trải nghiệm thực tế củacuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra trong những tình huống đa dạng vàphức tạp của đời sống một cách hiệu quả và có khả năng biến đổi nó [8, tr.8] [9,tr.18-19]
2.1.2.2 Các biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Xác định đúng các kiến thức về tình huống cần giải quyết
- Phân tích được tình huống, phát hiện được vấn đề đặt ra, yêu cầu của tìnhhuống
- Lập kế hoạch cụ thể để giải quyết tình huống đặt ra
- Xác định được và biết tìm hiểu, sưu tầm các thông tin liên quan đến tìnhhuống
- Đưa ra được giải pháp giải quyết tình huống các tình huống mới có thể xảy ra,trao đổi với bạn bè, thầy cô và tiến hành giải quyết tình huống đó
- Đánh giá và rút kinh nghiệm
2.1.3 Bài tập hóa học gắn với thực tiễn và sử dụng chúng nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
2.1.3.1 Kiến thức hóa học gắn liền với thực tiễn
Theo tôi, kiến thức hóa học gắn liền với thực tiễn cuộc sống là nhữngkiến thức giúp giải quyết vấn đề thuộc về nhận thức và việc vận dụng kiến thứcvào thực tiễn trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày như làm bài thực hành, làm thínghiệm, giải thích các hiện tượng tự nhiên, các vấn đề sức khỏe, sản xuất , đờisống liên quan trực tiếp đến cấu tạo, tính chất, ứng dụng, điều chế,…của cácchất đang nghiên cứu
2.1.3.2 Khái niệm bài tập hóa học gắn với thực tiễn
- BTHH gắn với thực tiễn (BTTT)là những bài tập đòi hỏi HS phải vận dụng
kiến thức, kĩ năng hóa học (những điều kiện và yêu cầu) cùng với các kiến thứccủa các môn học khác kết hợp với kinh nghiệm, kĩ năng sống để giải quyết một
số vấn đề đặt ra từ những bối cảnh và tình huống nảy sinh từ thực tiễn [6, 18], [9, tr.27]
tr.17-2.1.3.3 Vai trò, chức năng của bài tập gắn với thực tiễn với việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh trung học phổ thông
Nói chung theo tôi, việc đưa các kiến thức hóa học gắn liền với thực tiễn trongquá trình dạy học đem lại nhiều lợi ích:
- Học sinh tiếp nhận kiến thức đó một cách tự nhiên, nhớ kiến thức được lâuhơn, hiểu được tầm quan trọng của kiến thức trong thực tiễn, từ đó tăng hứngthú học tập và tìm hiểu kiến thức
- Kích thích học sinh tìm hiểu, giải thích các hiện tượng thực tiễn đời sống, đặtcác giả thuyết và nghiên cứu
- Kiến thức hóa học gắn liền với thực tiễn là cơ sở để học sinh vận dụng giải
Trang 6quyết các tình huống, bài tập hóa học thực tiễn.
- Kiến thức hóa học gắn liền với thực tiễn hình thành cho học sinh khả năngquan sát, thu thập, phân tích và xử lý thông tin, hình thành phương pháp nghiêncứu khoa học; hình thành và phát triển khả năng nghiên cứu thực tiễn; có tâmthế luôn luôn chủ động trong việc giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn
- Kiến thức hóa học gắn liền với thực tiễn giúp cho học sinh có được những hiểubiết về thế giới tự nhiên, chu kỳ hoạt động và tác động tích cực cũng như tiêucực đối với cuộc sống con người và ảnh hưởng của con người đến thế giới tựnhiên
- Thông qua việc hiểu biết về thế giới tự nhiên bằng vốn kiến thức hóa học gắnliền với thực tiễn giúp các em ý thức được hoạt động của bản thân, có tráchnhiệm với chính mình, với gia đình, nhà trường và xã hội ngay trong cuộc sốnghiện tại cũng như tương lai sau này của các em
Bài tập thực tiễn được sử dụng thường xuyên trong quá trình dạy họchóa học, bởi nó có vai trò và ý nghĩa rất to lớn Trong mọi khâu, mọi loại bàidạy như bài mới, luyện tập, thực hành,…BTHH đều giữ vai trò quan trọng vừa
là nội dung vừa là phương pháp dạy học hiệu quả để nâng cao chất lượng dạyhọc hóa học Đồng thời khi giành được những kiến thức từ BTTT sẽ đem lạiniềm vui khoa học, thấy được mối quan hệ giữa khoa học và tự nhiên, giữa sách
vở và thực tiễn đời sống lao động và học tập, tạo hứng thú với bộ môn hóa họcnói riêng và khoa học nói chung.[6, tr.17-18]
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Hiện nay việc dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễncho học sinh trung học phổ thông còn chưa thực sự được chú trọng Đa số giáoviên còn chú ý nhiều đến kiến thức và nặng về rèn năng lực giải toán cho họcsinh để thi THPT quốc gia mà chưa chú ý đến việc phát triển các năng lực nhất
là năng lực vận dụng kiến thức mà học sinh đã học vào thực tiễn đời sống
Đối với HS kiến thức thực tiễn còn hời hợt, thiếu vững chắc, chưa liên hệvới thực tế sinh động của sản xuất và đời sống Số ít HS còn chưa nắm kĩ nhữngkiến thức hóa học cơ bản, học tập một cách thụ động, thiếu sáng tạo và linhhoạt, chưa biết liên hệ về tính thực tiễn của các bài học, nên còn lúng túng khiphải độc lập vận dụng kiến thức của mình để giải quyết một tình huống gặpphải Về nhà HS học bài còn nặng về học để thi chứ chưa chú ý đến biết học đểbiết và học để vận dụng
2.3.Các bước đưa các bài tập thực tiễn vào giảng dạyhóa học vô cơ lớp 11
để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh Trung học phổ thông
Để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinhTrung học phổ thôngtrước hết, giáo viên cần trang bị cho học sinh của mình nềntảng kiến thức cơ bản một cách vững chắc khoa học về các khái niệm, các địnhluật, các tính chất, các quy luật đặc biệt là các kiến thức gắn liền với thực tiễn
Bước 1: GV đưa ra các tình huống để học sinh vận dụng kiến thức theo các cấp
độ từ dễ đến khó (tạo tình huống có vấn đề )
Tăng cường các tình huống gắn liền với bối cảnh cụ thể (thực tiễn đờisống, thí nghiệm thực hành), tăng cường câu hỏi mở, câu hỏi yêu cầu học sinh
Trang 7sử dụng kiến thức nhiều bài, nhiều lĩnh vực, câu hỏi tích hợp để tìm ra cách giảiquyết ngắn gọn, sáng tạo.
Bước 2 : GV tăng cường sử dụng tối đa các hình ảnh trực quan, mô hình, tranh
ảnh, video clip dùng để tái hiện một số tình huống thực tiễn đời sống để kíchthích HS vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống của thực tế đặt ra
Bước 3: GV phối hợp lời kể chuyện, thuyết trình kết hợp với việc sử dụng các
video clip để học sinh có thể phát hiện, kích thích hoạt động tư duy tìm tòi sángtạo và rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề học tập, nâng cao hứng thú học tập
bộ môn
Bước 4: Yêu cầu học sinh tìm tòi để giải quyết tình huống dựa vào kiến thức đã
học : Muốn giải quyết được tình huống đặt ra học sinh phải làm các việc sau
- Xác định đúng các kiến thức về tình huống cần giải quyết
- Phân tích được tình huống, phát hiện được vấn đề đặt ra, yêu cầu của tìnhhuống
- Lập kế hoạch cụ thể để giải quyết tình huống đặt ra
- Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến tình huống
- Đưa ra được giải pháp giải quyết tình huống các tình huống mới có thể xảy ra,trao đổi với bạn bè, thầy cô và tiến hành giải quyết tình huống đó
- Đánh giá và rút kinh nghiệm
Bước 5:Sau khi có thời gian để cho học sinh làm việc, thảo luận, giáo viên cần
có sự đánh giá và chốt lại kiến thức cũng như làm bài học để học sinh sẽ vậndụng được những tình huống đó vào thực tiễn khi gặp lại
Như vậy thông qua quá rình mà học sinh giải quyết các tình huống này sẽ pháttriển cho HS được các năng lực tư duy sáng tạo và đặc biệt là năng lực VDKTvào thực tiễn đời sống, lao động , sản xuất…
Ví dụ: Khi dạy bài Phốt Pho trong phần phốt pho tác dụng với kim loại Zn tạo
ra hợp chất kẽm phôtphua( một loại thuốc diệt chuột) giáo viên đưa ra bài tậpthực tiễn
“Thuốc diệt chuột” có thánh phần chính là Zn3P2 Tại sao khi chuột ăn phảithuốc này thì thường đi uống nước và càng uống nước càng làm chuột nhanhchết ? Chúng ta có nên thường xuyên sử dụng cách này để diệt chuột không?
Bước 1: GV đưa ra các tình huống: Chuột là con vật mang nhiều mầm bệnh
truyền nhiễm cho con người và hay phá hoại mùa màng nên việc diệt chuột cũngđược mọi người quan tâm và “Thuốc diệt chuột” đang được dùng với mục đíchtrên để tạo hứng thú cho học sinh
Bước 2 : GV tăng cường sử dụng tối đa các hình ảnh trực quan, mô hình, tranh
ảnh, video clip dùng để tái hiện một số tình huống thực tiễn đời sống để kíchthích HS vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống của thực tế đặt ra
Bước 3: GV phối hợp lời kể chuyện, thuyết trình kết hợp với việc sử dụng các
video clip chúng ta thấy chuột ăn phai thuốc thường chạy ra bờ ao, vũng nước
để uống nước sau đó chết tại đó ? vì sao vậy?
Trang 8Bước 4: Yêu cầu học sinh tìm tòi để giải quyết tình huống dựa vào kiến thức đã
học Muốn giải quyết được tình huống đặt ra học sinh phải làm các việc sau :
- Xác định đúng các kiến thức về tình huống cần giải quyết: Chất Zn3P2 và sảnphẩm liên quan đến Zn3P2
- Phân tích được tình huống, phát hiện được vấn đề đặt ra, yêu cầu của tìnhhuống Chất Zn3P2 vào cơ thể chuột có làm chuột mất nước không? Khi nướcvào nó có phản ứng sinh ra chất độc nào?Diệt chuột chết như vậy có ô nhiễmmôi trường không?
- Lập kế hoạch cụ thể để giải quyết tình huống đặt ra
- Xác định được và biết tìm hiểu, sưu tầm các thông tin liên quan đến tình huống
để giải quyết các câu hỏi trên
- Đưa ra được giải pháp giải quyết tình huống các tình huống mới có thể xảy ra,trao đổi với bạn bè, thầy cô và tiến hành giải quyết tình huống đó
Thành phần thuốc chuột là kẽm photphua Zn3P2 Khi chuột ăn vào, Zn3P2 hút hếtnước trong cơ thể chuột để thủy phân theo pt
Zn3P2 + 6H2O → 3Zn(OH)2 + 2PH3↑
Chính PH3 (photphin) là chất độc đã giết chết chuột
Chuột càng uống nhiều nước → PH3 thoát ra nhiều càng độc → chuột càngnhanh chết Nhưng đây là loại thuốc rất độc nên dễ ảnh hưởng đến sức khỏe conngười, và nếu chuột chết ở các bờ ao , vũng nước rất dễ gây ô nhiễm môi trường
và lây lan bệnh
- Đánh giá và rút kinh nghiệm: Không nên lạm dụng cách diệt chuột này
Bước 5: Sau khi có thời gian để cho học sinh làm việc, thảo luận, giáo viên cần
cho học sinh trình bày, nhận xét và bổ sung cho nhau, sau đó giáo viên chốt lạikiến thức chính xác, giáo dục cho học sinh không nên lạm dụng cách diệt chuộtnày mà nên dùng cách bẫy chuột cơ học, đào bắt chuột trực tiếp hoặc nuôi mèo
Như vậy thông qua quá rình mà học sinh giải quyết các tình huống này
sẽ phát triển cho HS được các năng lực tư duy sáng tạo và đặc biệt là năng lựcVDKT vào thực tiễn đời sống, lao động , sản xuất…Trong phạm vi hẹp của skknnày tôi chỉ tập trung xây dựng hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 11 gắn vớithực tiễn sử dụng trong quá trình dạy học bài mới nhằm phát triển năng lực vậndụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh
Trang 9có thể áp dụng một vài câu hay tất cả tùy theo thời gian, đối tượng học sinh haytừng mục đích bài dạy để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễncho học sinh THPT đạt hiệu quả nhất.
*BÀI SỰ ĐIỆN LI CỦA NƯỚC – pH - CHẤT CHỈ THỊ AXÍT BAZƠ
Câu 1 : pH là gì và ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe, môi trường sống?
lg
pH H
pH dùng đánh giá môi trường axit-bazơ-trung tính
- Ảnh hưởng của pH tới sức khoẻ: Trong nước uống, pH không phù hợp ảnh
hưởng tới sức khoẻ, đặc biệt ảnh hưởng đến hệ men tiêu hóa Tính axít (hay tính
ăn mòn) của nước có pH nhỏ có thể làm gia tăng các ion kim loại từ các vậtchứa, gián tiếp ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ
- pH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn trực tiếp vàgián tiếp đối với đời sống của sinh vật thủy sinh như: sinh trưởng, tỉ lệ sống,sinh sản và dinh dưỡng pH thích hợp cho thủy sinh vật là 6,5 - 9 Khi pH môitrường quá cao hay quá thấp đều không thuận lợi cho quá trình phát triển củasinh vật thủy sinh Tác động chủ yếu của pH khi quá cao hay quá thấp là làmthay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào dẫn đến làm rối loạn quá trình trao đổi
muối - nước giữa cơ thể và môi trường ngoài (Nguồn “PH ảnh hưởng đến sức
khỏe như thế nào –tạp chí Greensol”)
- Các nhà máy thải nước thải chưa qua xử lí ra môi trường nước có thể làm thayđổi PH của nước đi kèm với các kim loại nặng và nhiều hóa chất độc hại khác cóthể làm chết các sinh vật thủy sinh
Hình ảnh cá chết do ô nhiễm môi trường nước và gây thay đổi pH
* Chúng ta phải làm gì để giảm thiểu tác động xấu đó tới môi trường?
- Kiểm tra độ pH của nguồn nước đang sử dụng bằng cách dùng máy đo pHhoặc giấy đo PH
- Không thải các hóa chất độc hại và nước thải công nghiệp chưa qua xử lí ramôi trường
- Có biện pháp xử lí kịp thời khi phát hiện môi trường có sự thay đổi về pH
Áp dụng: Sau khi trả lời được những câu hỏi theo dẫn dắt nêu vấn đề của giáoviên khi mở bài hoặc BTVN học sinh sẽ có khả năng vận dụng vào đời sống
Trang 10thực tiễn để có ý thức bảo vệ môi trường sống cũng như có kinh nghiệm nếu saunày các em làm việc ở những lĩnh vực này
Câu 2 : Lớp men răng là gì ? được tạo ra trong môi trường pH thế nào? Vì sao
chất florua lại bảo vệ được răng ?
Răng được bảo vệ bởi lớp men cứng, dày khoảng 2mm Lớp men có thành phầnhóa học là hợp chất Ca5(PO4)3OH và được tạo thành bằng phản ứng thuậnnghịch:5Ca2+ + 3PO43
+ OH- Ca5(PO4)3OH (1)Quá trình tạo lớp men này là sự bảo vệ tự nhiên của con người chống lại bệnhsâu răng Sau các bữa ăn, vi khuẩn trong miệng tấn công các thức ăn còn lưu lạitrên răng tạo thành các axit hữu cơ như axit axetic và axit lactic Các axít nàysinh ra càng nhiều nếu thức ăn có hàm lượng đường cao
Hàm lượng axit này trong miệng tăng lên thì pH giảm, làm cho phản ứng sauxảy ra:H+ + OH- ⇄ H2O
Khi nồng độ OH- giảm, theo nguyên lí Lơ-Sa-tơ-li-ê, cân bằng (1) chuyển dịchtheo chiều nghịch và men răng bị mòn, tạo điều kiện cho sâu răng phát triển
Để phòng sâu răng chúng ta nên hạn chế ăn thức ăn chua, đường và đánh răngsau khi ăn.Người ta thường trộn vào thuốc đánh răng NaF hay SnF2 , vì ion F-
tạo điều kiện cho phản ứng sau xảy ra:5Ca2+ + 3PO43
+ F- → Ca5(PO4)3FHợp chất Ca5(PO4)3F là men răng thay thế một phần Ca5(PO4)3OH
Ở nước ta, một số người có thói quen ăn trầu, việc này rất tốt cho việc tạo menrăng theo phản ứng (1), vì trong trầu có vôi tôi Ca(OH)2, chứa các ion Ca2+ và
OH- làm cho cân bằng (1) chuyển dịch theo chiều thuận
Áp dụng: Giáo viên đưa ra khi dạy bài pH, vấn đề sâu răng và biện pháp phòngngừa sâu răng được nhiều người quan tâm Nhưng hiểu rõ vì sao răng bị sâu vàlàm thế nào để phòng ngừa sâu răng thì không phải ai cũng biết Học sinh sẽ rất
tò mò về vấn đề này, hoặc GV kết hợp kể chuyện về sâu răng, dẫn dắt học sinhgiải quyết vấn đề nhằm giúp cho học sinh vận dụng trong đời sống hằng ngày cóthói quen bảo vệ răng bằng cách đánh răng sau các bữa ăn
*BÀI PHẢN ỨNG TRAO ĐỔI ION TRONG DUNG DỊCH CHẤT ĐIỆN LI
Câu 1: Phèn chua là gì? Vì sao phèn chua lại có môi trường axít và có thể làm
trong nước ?
Phèn chua có thành phần hóa học là K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O
Phèn chua có vị chua, chát, không độc, ít tan trong nước lạnh nhưng tan rấtnhiều trong nước nóng, đặc biệt khi cho phèn chua vào nước sẽ phân li ra ion
Al3+ Chính ion Al3+ này bị thủy phân theo phương trình:
Al3+ + 3H2O ⇄ Al(OH)3↓ + 3H+
Kết quả tạo ra Al(OH)3 là chất kết tủa dạng keo lồng bồng nên khi khuấy phènchua vào nước, nó kết dính các hạt bụi nhỏ lơ lửng trong nước đục thành các hạtbụi đất to hơn, nặng hơn và dễ kéo chìm xuống làm trong nước
Phèn chua rất có ích cho việc xử lí nước đục ở các vùng lũ để có nước trongdùng cho tắm, giặt
Áp dụng: Giáo viên đưa ra vấn đề rất gần gũi là vùng biển Hoằng Hóa –ThanhHóa năm 2007 sau trận lụt lịch sử không có nguồn nước sạch sử dụng Khi lũ rút
Trang 11đi người dân được phát phèn chua làm trong nước cùng với hóa chất khử trùng
là cloramin để người dân tự xử lí nước sinh hoạt trong các giếng, thùng phòngchống các bệnh truyền nhiễm sau lũ Từ đó GV đặt ra tình huống có vấn đề nhưcâu hỏi và dẫn dắt HS để GQVĐ từ đó HS phát triển được năng lực VDKT khi
có những tình huống đó
*BÀI NITƠ
Câu 1: Ca dao Việt Nam có câu:“Lúa chim lấp ló ngoài bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên” Câu ca dao mang ý nghĩa hóa học gì ?
Câu ca dao có nghĩa là: Khi vụ lúa chiêm đang trổ đồng mà có trận mưa rào kèmtheo sấm chớp thì rất tốt và cho năng suất cao Vì sao vậy ?
Do trong không khí có khoảng 80% Nitơ và 20 % oxi Khi có sấm chớp (tia lửađiện) thì: N2 + O2 ⇄ 2NO Sau đó: 2NO + O2 → 2NO2 Khí NO2 hòa tan trong nước:
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
HNO3 → H NO3
(Đạm)Nhờ có sấm chớp ở các cơn mưa giông, mỗi năm trung bình mỗi mẫu đất đượccung cấp khoảng 6-7 kg nitơ
Áp dụng: GV đưa vấn đề khi dạy tính chất của nitơ hoặc tích hợp với môn Văn
để học sinh nắm được một kinh nghiệm trong sản xuất có thể VD vào đời sống
*BÀI AMONIAC VÀ MUỐI AMONI
Câu 1: Vì sao “bánh bao” và các loại bánh xốp ăn thường có mùi khai ?
Khi làm bánh bao người ta thường cho ít bột nở NH4HCO3 vào bột mì Khinướng bánh, NH4HCO3 phân hủy thành các chất khí và hơi thoát ra nên làm chobánh xốp và nở NH4HCO3(r) NH3↑ + CO2↑ + H2O↑
Do khí NH3 sinh ra nên làm cho bánh bao có mùi khai
Áp dụng: Hiện nay thông thường bánh bao vẫn còn trộn bột nở NH4HCO3 nêndẫn đến có mùi khai mà không phải học sinh nào cũng giải thích được Giáoviên có thể đề cập vấn đề trên khi trình bày tính chất kém bền nhiệt của muốiamoni trong bài này.Tuy nhiên hiện nay đã có rất nhiều hóa chất và có thể thaythế NH4HCO3 để làm bột nở
Câu 2: Tại sao khi đi gần các sông, hồ bẩn, các cống thoát nước bẩn vào ngày
nắng nóng, người ta ngửi thấy mùi khai ?
Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ thải ra từ sinh hoạt giàuđạm như nước tiểu, phân hữu cơ, rác thải sinh hoạt…
khi phân hủy sinh ra lượng urê nhiều Dưới tác dụng xúc tác của men ureazacủa các vi sinh vật, urê bị phân hủy tiếp thành CO2 và amoniac NH3 theo phảnứng:
(NH2)2CO + H2O → CO2 + 2NH3NH3 sinh ra hòa tan trong các nguồn nướcsông, hồ, ao dưới dạng một cân bằng động:
NH 3 + H 2 O → NH4 OH
( pH < 7, nhiệt độ thấp)4
NH OH
→ NH 3 + H 2 O ( pH > 7, nhiệt độ cao)Như vậy khi trời nắng
(nhiệt độ cao), NH3 sinh ra do các phản ứng phân hủy urê chứa trong nước sẽ íthòa tan vào nước mà bị tách ra bay vào không khí làm cho không khí xungquanh sông, hồ có mùi khai khó chịu
Trang 12Áp dụng: Hiện tượng này thường gặp quanh hồ, ao, nhất là vào mùa nắng nóng.Giáo viên có thể nêu vấn đề trong bài giảng “Amoniac” nhằm giải thích hiệntượng tự nhiên này đặc biệt cũng giúp học sinh được vận dụng vào thực tiễn hạnchế xả thải bẩn ra môi trường.
*BÀI AXIT NITRIC VÀ MUỐI NITRAT
Câu 1: Khi làm thí nghiệm hóa học, nếu quần áo bạn dính phải axit nitric HNO3
đặc thường sẽ bị thủng lỗ Vì sao axit nitric HNO3 đặc lại phá thủng quần áo ?Xenlulozơ là thành phần cấu tạo nên sợi bông dệt quần áo, nó không tan trongnước và đa số các dung môi khác nhưng lại rất dễ tan trong axit HNO3 đặc nênkhi tiếp xúc với HNO3 thì bị HNO3 hòa tan, khi quần áo khô, nồng độ axit HNO3
càng ngày càng đặc thì càng làm tan xenlulozơ nên làm thủng quần áo Ngoài ra,axit HNO3 loãng có thể có tác dụng hóa học với xenlulozơ
Áp dụng: Giáo viên có thể nêu vấn đề trên khi nói về tính chất hóa học của axitnitric trong bài để nhắc nhở học sinh thật cẩn thận khi tiếp xúc với axit HNO3
đặc, đặc biệt nhắc nhở học sinh vận dụng trong bài thực hành tính chất HNO3
sắp tới
Câu 2 : Mưa axít gây hại cho cây trồng và công công trình kiến trúc, môi
trường, Vậy “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
Không khí chứa khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong như (
ô tô, xe máy) hoặc nguyên liệu hóa thạch có chứa các khí SO2, NO, NO2,…Cáckhí này bị oxihóa bởi oxi O2 và hơi nước trong không khí nhờ xúc tác oxit kimloại (có trong khói, bụi nhà máy) hoặc ozon tạo ra axit sunfuric H2SO4 và axitnitric HNO3
CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O