1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tích hợp kiến thức môn lịch sử để nâng cao hiệu quả trong giảng dạy bài truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc việt nam

24 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 210 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 52.3.1 Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam 5 2.3.2 Những yếu tố tác động đến nghệ thuật đánh giặc của cha ông 12 2.3.4 Kế thừa ti

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI _

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÍCH HỢP KIẾN THỨC MÔN LỊCH SỬ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHI GIẢNG DẠY BÀI : TRUYỀN THỐNG ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC

CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM ( GDQP – AN 10)

Người thực hiện: Trần Thị Hoa Lý Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn SKKN thuộc lĩnh vực (môn): GDQP - AN

THANH HOÁ NĂM 2019

Trang 2

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5

2.3.1 Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam 5

2.3.2 Những yếu tố tác động đến nghệ thuật đánh giặc của

cha ông

12

2.3.4 Kế thừa tinh thần yêu nước truyền thống của dân tộc

Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

16

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

I MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Trong giáo dục phổ thông, các môn văn hóa nói chung, môn GDQP - AN nói riêng cóvai trò rất quan trọng trong hình thành nhân cách, bản lĩnh, năng lực, tư duy của conngười; Lịch sử dạy con người hiểu biết về nguồn cội, hun đúc lòng yêu nước, mônGDQP – AN cũng phần nào rèn luyện cho học sinh lòng yêu nước, tác phong nhanhnhẹn, hoạt bát, vượt khó khăn trong cuộc sống…

GDQP-AN là một môn học bao gồm nhiều kiến thức về khoa học xã hội, nhân văn,khoa học tự nhiên lẫn khoa học kĩ thuật quân sự Là một môn học không chỉ trang bịnhững vấn đề cơ bản về đường lối quân sự của Đảng, tư duy về QPAN và kiến thức quân

sự cần thiết mà còn rèn luyện, bồi dưỡng nhân cách sống con người CNXH Tuy nhiên,đây là một môn học nằm trong nhóm môn học có tỉ lệ lí thuyết chiếm trên 60% chươngtrình môn học Chính vì lí do đó, cùng với những nhận thức non nớt của học sinh, các emthường dành nhiều thời gian cho các môn học mà các em cho là quan trọng hơn, có thểthi Đại học, cao đẳng… ( Vd: Toán, Lí, Hóa, Anh văn….) mà xem nhẹ môn học này,Trảiqua 28 năm công tác và giảng dạy môn học này, bản thân tôi cũng như các đồng nghiệp

đã có nhiều cố gắng luôn tìm cách đổi mới về phương pháp giảng dạy để cải thiện nhằmnâng cao chất lượng và kết quả học tập cho học sinh như: ứng dụng Công nghệ thông tinđưa phim ảnh vào giảng dạy, sử dụng giáo án điện tử, viết bài thu hoạch cá nhân, thảoluận nhóm…

Nếu ở nhà trường, học sinh được giáo dục tốt, hiểu biết về lịch sử dân tộc sẽ biết quýtrọng những gì cha ông đã gây dựng nên Qua đó hình thành nhân cách, hun đúc lòng yêunước, trách nhiệm công dân của các em sau này với đất nước Giáo dục lòng yêu nướccho học sinh là ưu thế của bộ môn lịch sử bên cạnh đó không thể quên được đống gópquan trọng của môn GDQP - AN Hay có thể khẳng định: môn GDQP - AN góp phần

hình thành nhân cách học sinh.

Yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc ta và được vun đắp nên từ bốn nghìn nămdựng nước và giữ nước Lòng yêu nước được thể hiện qua quá trình lao động sản xuất vàchiến đấu bảo vệ tổ quốc, là sợi dây xuyên suốt trong chiều dài lịch sử nước ta Do đó,thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, đặc biệt là tăng cường dạy và học mônGDQP - AN trong trường học nhằm đẩy mạnh việc giáo dục lòng yêu nước cho học sinh Trong suốt 1117 năm dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, đất nước bị mất độclập, mất tên gọi, nhân dân ta lầm than, cực khổ dưới ách áp bức của các triều đại phongkiến phương Bắc Nhờ lòng yêu nước mà nhân dân ta đã đứng lên giành lấy độc lập, tự

do Đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ, cũng từ lòng yêu nước mà nhân dân tatiếp tục đánh thắng giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Đó là mộttình cảm thiêng liêng, tạo nên sức mạnh to lớn để xây dụng và bảo vệ Tổ quốc Do đó,việc giáo dục lòng yêu nước cho học sinh là hết sức quan trọng thông qua các hoạt độngtuyên truyền, giáo dục, đặc biệt là tăng cường dạy và học môn GDQP - AN

Trang 4

Đặc điểm của môn GDQP - AN nhằm dựng lại những bức tranh toàn cảnh về quá khứmột cách khách quan, sống động, về truyền thống đấu tranh bất khuất trong dựng nước vàgiữ nước của dân tộc Việt Nam anh hùng Do đó, nội dung giáo dục lòng yêu nước chohọc sinh ở bộ môn GDQP - AN hết sức phong phú, đa dạng Qua mỗi bài học, mỗi sựkiện lịch sử, trang bị cho học sinh niềm tin vững chắc vào lý tưởng cách mạng trên cơ sởnhận thức đúng đắng sự phát triển khách quan, hợp quy luật của xã hội loài người Giáodục cho học sinh truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước

và giữ nước Từ đó, hình thành cho các em ý thức tình yêu với quê hương đất nước để rasức học tập, xây dựng, bảo vệ đất nước

Để phát huy được vai trò của môn GDQP - AN trong công tác giáo dục, bồi dưỡnglòng yêu nước cho học sinh, chúng ta cần coi trọng đúng mức việc giảng dạy môn

GDQP - AN cũng như vị trí và vai trò của môn học này trong giáo dục đạo đức truyềnthống cho học sinh; đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học môn GDQP–AN là để phù hợp với sức học của học sinh, không nên quá dồn ép kiến thức tạo áp lựctrong việc học của học sinh… Người giáo viên không đơn giản là người có tri thức, cónghiệp vụ sư phạm vững vàng, mà còn phải là người có tác phong chuẩn mực, tư cáchđạo đức tốt Trang thiết bị phục vụ cho môn học phải được trạng bị đầy đủ như: bản đồ,tranh ảnh, phim tư liệu, phòng bộ môn…; cung cấp thông tin bằng nhiều kênh, đặc biệt làkết hợp giữa việc cung cấp kiến thức với cho học sinh quan sát những hình ảnh, thướcphim… liên quan đến nội dung bài học Qua đó, học sinh sẽ cảm thấy thích thú khi họcmôn GDQP - AN, chủ động tìm tòi, say mê nghiên cứu

Từ những lý do trên nên Tôi mạnh dạn chọn đề tài: Tích hợp kiến thức môn Lịch

sử để nâng cao hiệu quả trong giảng dạy bài Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam ” GDQP - AN lớp 10 làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Đề tài Giáo dục cho học sinh truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trongquá trình dựng nước và giữ nước; từ đó học sinh sẽ quý trọng những gì mà cha ông đãxây dựng nên

- Giúp các em hình thành và phát huy khả năng tự học, tự tìm hiểu và giải quyếtvấn đề liên quan đến nội dung bài học

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

- Học sinh lớp lớp 10 trường THPT Nguyễn Trãi năm học 2018-2019

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Thao giảng, dạy thử nghiệm về đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học,

dự giờ trao đổi rút kinh nghiệm

- Hướng dẫn học sinh tự học bằng cách: sưu tầm tranh ảnh minh họa…

- Ở mục 1, tác giả trích nguyên văn từ TLTK số 2

Trang 5

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận.

2.1.1 Tại sao phải giáo dục lòng yêu nước?

Mỗi quốc gia, dân tộc đều có cương vực, lãnh thổ riêng, đều gắn liền với nhữngyếu tố địa lý, khí hậu, thời tiết, đặc biệt là có lịch sử của mình Trong quá trình xây dựngquốc gia, dân tộc, xây dựng cộng đồng gia đình, con người gắn bó với nhau trước hếtbằng tình cảm và thông qua tình cảm Người dân nước nào cũng có lòng yêu nước, dĩnhiên đặc điểm lòng yêu nước ở mỗi quốc gia có khác nhau Biểu hiện cao nhất của lòngyêu nước là tinh thần đấu tranh bảo vệ đất nước, bảo vệ Tổ quốc Khi Tổ quốc lâm nguy,

khẩu hiệu của người dân Cu Ba: “Tổ Quốc hay là chết”, khẩu hiệu của người dân Pháp

“Tự do, bình đẳng, bắc ái”… 5

Dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, đã tạo nênnhiều truyền thống tốt đẹp, như truyền thống cần cù lao động, sản xuất, truyền thốngnhân ái, giàu lòng vị tha, truyền thống tôn sư trọng đạo v.v…, trong đó nổi bật là truyềnthống yêu nước Đây là điều thiêng liêng, cao quý nhất, là cơ sở tạo nên những truyềnthống khác

Hồ Chí Minh nói rằng: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý, có khi

được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy Nhưng cũng có thể cất dấu kín đáo trong rương Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý, kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày Nghĩa là phải ra sức tuyên truyền tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người được thực hành vào công việc yêu nước”2

Hiện nay trên thế giới đang diễn ra quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ hơn bao giờhết, vấn đề xung đột tôn giáo, xung đột chủng tộc, khủng bố…, đang diễn ra gay gắt, gâynên những tổn thất lớn Điều đó làm cho chúng ta cần phải tăng cường giáo dục ý thứcdân tộc, bản sắc dân tộc, lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa Bởi vì, chủ nghĩa đế quốc vàbọn phản động đang tìm mọi cách làm sói mòn tinh thần đoàn kết dân tộc, làm lung lay ýchí của một bộ phận thanh niên, xa rời truyền thống yêu nước

Hơn thế nữa, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức nói chung, giáo dục truyền thốngyêu nước nói riêng là một trong những nhiệm vụ của môn GDQP - AN ở trường phổthông mà người giáo viên phải quán triệt và thực hiện, nhằm góp phần xây dựng conngười mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2.1.2 Thế nào là truyền thống yêu nước?

Theo từ điển tiếng Việt “truyền thống” là những đức tính, tập quán, tư tưởng, lối sống

được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác5

- Trong trang này, đoạn “Khi Tổ quốc…bắc ái” tác giả tham khảo TLTK số 5

- Đoạn: “Tinh thần…yêu nước”, tác giả tham khảo TLTK số 2

Trang 6

Lòng yêu nước được hình thành trong quá trình lao động và chiến đấu bảo vệ Tổquốc Yêu nước không chỉ là tình cảm nữa mà là nghĩa vụ, trách nhiệm thiêng liêng củamỗi người đối với quê hương, đất nước Lòng yêu nước theo dòng lịch sử, được củng cố,được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, trở thànhtruyền thống

Trong mỗi thời đại, yêu nước được nhận thức một cách khác nhau do quan điểmcủa nhân dân và của giai cấp thống trị trong thời đại đó; tư tưởng của giai cấp thống trịchi phối quan niệm yêu nước, nhưng, lòng yêu nước của nhân dân là chủ đạo Ở ViệtNam lòng yêu nước đã được nâng lên thành tư tưởng yêu nước, và trở thành chủ nghĩayêu nước (mà ngày nay là chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa)

Dưới chế độ phong kiến, yêu nước tức là thần dân phải thể hiện đúng bổn phận của

mình, nghĩa là “Trung quân – ái quốc”

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, yêu nước gắn với lòng trung thành của nhân dân đốivới chế độ xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa đã biến thành sứcmạnh vật chất và tinh thần để nhân dân Việt Nam vượt qua những cuộc đọ sức lịch sử với

đế quốc Pháp (1945 - 1954) và đế quốc Mỹ (1954 - 1975), vượt qua những thử tháchtrong cuộc khủng hoảng của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới hiện nay Bởi vì, chínhĐảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh đã phát triển lòng yêu nước truyền thống củadân tộc ta lên một tầm cao mới: đó là sự kết hợp truyền thống yêu nước chân chính với chủnghĩa xã hội, tinh thần quốc tế vô sản theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng HồChí Minh

Yêu nước xã hội chủ nghĩa, về khách quan, gắn liền với tinh thần quốc tế chânchính (tinh thần quốc tế vô sản) Có người cho rằng, từ khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ởLiên Xô và Đông Âu thì tinh thần quốc tế vô sản không còn nữa Điều này không đúng,

vì hiện nay mọi quốc gia, mọi dân tộc đều phấn đấu cho lợi ích dân tộc, vì lợi ích dân tộc,nhưng không thể không đấu tranh cho lợi ích và tương lai của nhân loại, phát triển lênchủ nghĩa xã hội một cách hợp quy luật Trong điều kiện đấu tranh gay go, phức tạpchống chủ nghĩa khủng bố … thì sự đoàn kết quốc tế là điều không thể thiếu

2.1.3 Biện pháp giáo dục lòng yêu nước cho học sinh qua môn GDQP -AN

Thứ nhất, khai thác nội dung các quá trình lịch sử để giáo dục lòng yêu nước, tránh

tình trạng chỉ nói lý luận chung chung, hời hợt

Thứ hai, đảm bảo những nguyên tắc của phương pháp dạy học GDQP - AN đặc

biệt các nguyên tắc của giáo dục bộ môn

Thứ ba, phát huy tinh thần tự nguyện, tự giác của học sinh, tránh sự áp đặt, công

thức

Thứ tư, tích cực hóa việc học tập của học sinh để vừa tiếp nhận việc giáo dục của thầy,

vừa giúp đỡ nhau và tự giáo dục

Trong trang này, đoạn “Theo từ điển… thế hệ khác”, tác giả tham khảo TLTK số 5

Trang 7

Thứ năm, kết hợp học tập với thực hành, bởi vì lòng yêu nước không chỉ dừng ở

lời nói, nhận thức mà phải biểu hiện ở hành động

Thứ sáu, cần tiến hành nhiều hình thức giáo dục phong phú, sinh động thông qua

bài học nội khóa và các hoạt động ngoại khóa

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1 Thuận lợi.

- Các cấp lãnh đạo, Ban Giám hiệu nhà trường luôn quan tâm tạo mọi điều kiện

thuận lợi cho công tác dạy và học môn GDQP -AN.

- Đội ngũ giáo viên môn GDQP -AN có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, nhiệt

tình và tâm huyết với môn học

- Nền nếp, kỷ cương của nhà trường đối với học sinh chặt chẽ qua từng cấp, từngkhâu nên đa phần các em chăm ngoan, có ý thức học tập tốt

- Đối với học sinh:

+ Theo đặc thù bộ môn, theo xu thế của xã hội, môn GDQP -AN đang bị mất dần

vị thế của nó, học sinh ít mặn mà với bộ môn GDQP -AN

+ Dưới tác động của nền kinh tế thị trường một số tệ nạn xã hội đã bắt đầu len lỏivào trong các nhà trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến các em học sinh, vì đây là lứatuổi rất dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài; các em dành nhiều thời gian cho mạng

xã hội, game…

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

Lòng yêu nước được thử thách trải qua quá trình lao động sản xuất và chiến đấu,bảo vệ tổ quốc và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo thành sợi chỉ đỏ bềnchặt xuyên suốt lịch sử Việt Nam qua từng giai đoạn Trong dạy học môn GDQP - AN,chúng ta khai thác nội dung truyền thống yêu nước trên cơ sở tìm hiểu những sự kiện cụthể của quá trình

Tìm hiểu sự hình thành truyền thống yêu nước qua bài Truyền thống đánh giặc giữ

nước của dân tộc Việt Nam ” GDQP - AN lớp 10 Khi dạy mục I Lịch sử đánh giặc giữ

nước của dân tộc Việt Nam , giáo viên cho học sinh trình bày, yêu cầu các em rút ra nhậnxét chung về các cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong thời Bắc thuộc? Sau đó giáo viêncủng cố, giảng giải, phân tích

Trang 8

Văn hóa Đông Sơn là cơ sở vật chất để tạo nên nhà nước sơ khai thời Hùng Vươngcủa nước Văn Lang – Âu Lạc Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng tồn tại vào khoảngthế kỷ V - III TCN Tiếp sau là nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương kéo dài khoảng

30 năm Trong xã hội Văn Lang – Âu Lạc, người Việt sống chủ yếu bằng nghề nôngtrồng lúa, làm vườn, chăn nuôi gia xúc đánh cá Đặc biệt nghề đúc đồng đã đạt đến đỉnhcao rực rỡ Trong thời kì Văn Lang – Âu Lạc đã có sự phân hóa xã hội

Do ở vị trí đầu mối giao thông của Đông Dương và Đông Nam Á nói chung nênngười Việt cổ có thuận lợi trong giao lưu, nhưng cũng phải đụng độ với nhiều kẻ thù và

dễ bị tấn công từ nhiều phía Điều đó đặt nhân dân ta nhiệm vụ phải tự vệ, chống lại cácmối đe dọa từ bên ngoài Muốn đạt được thắng lợi, cần phải cố kết với nhau để tạo sứcmạnh bảo vệ quê hương, lãnh thổ sinh sống

Sau khi thắng quân Tần, Thục Phán thay thế vua Hùng và tự xưng là An DươngVương, lập nước Âu Lạc (trên cơ sở kết hai nhóm người Tây Âu và Lạc Việt)

Năm 183 TCN, Triệu Đà xưng là Nam Việt Vũ đế, rồi tổ chức xâm lược Âu Lạc.Cuộc xâm lược của Triệu Đà mở đầu thời kì lịch sử nước ta bị phong kiến nước ngoài đô

hộ Phá vỡ sự phát triển bình thường của xã hội ta Một thử thách lớn đặt ra cho nhân dân

Âu Lạc, phải tiến hành cuộc đấu tranh giành lại đất nước Lòng yêu nước của nhân dân

Âu Lạc được thử thách hết sức gay gắt Bởi vì, họ bị chuyển sang địa vị của người dân bị

rõ hơn về lòng yêu nước của nhân dân ta trong thời kì này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một

số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu

Giáo viên chuyển ý qua phần 2 “Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu”, hướng dẫn

cho các em thảo luận nhóm, rồi cử đại diện nhóm lên trình bày từng cuộc khởi nghĩa Sau

đó, giáo viên nhận xét, củng cố lại, đặc biệt là giáo dục lòng yêu nước cho các em thôngqua các cuộc khởi nghĩa

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (Năm 40): Vì nợ nước, thù nhà, vào mùa Xuân năm 40

sau công nguyên, Hai Bà Trưng đã dựng cờ khởi nghĩa Ngọn cờ nghĩa quân dấy lên ởđất Hát Môn, lập tức các lực lượng nghĩa quân yêu nước ở khắp nơi từ Bắc Bộ tới ThanhHóa ngày nay, lần lượt đứng lên chung sức đánh giặc Nghĩa quân của Hai Bà Trưng kéo

đi đánh chiếm được 65 thành Khí thế yêu nước, đánh giặc của Hai Bà vang xa, ngay cảngười Choang ở Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) cũng hưởng ứng Trong nghĩaquân không chỉ có thanh niên trai tráng mà còn có cả phụ nữ và nhiều bô lão tham gia.Cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn, Hai Bà Trưng được suy tôn làm vua, đóng đô ở

Mê Linh Chính quyền tự chủ của nhân dân ta được khôi phục sau hơn 150 năm bị đô hộ

“Đô kỳ đóng cõi Mê Linh Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta” 5

Trang 9

Rõ ràng họ ý thức được rằng, mất nước là nỗi nhục chung của mọi tầng lớp Dovậy, chống giặc, đòi lại độc lập, tự do không phải là công việc của một lớp người nào, mà

là nhiệm vụ của toàn dân Tinh thần đó thể hiện ý thức dân tộc sâu sắc, mà ý thức dân tộc

là cội nguồn xâu xa của tinh thần đoàn kết, yêu nước chống giặc ngoại xâm

Thế nhưng mùa hè năm 42, Mã Viện được cử đưa 2 vạn quân sang xâm lược ÂuLạc Nghĩa quân bị thất bại Hai Bà Trưng chạy về phía sông Hát rồi nhảy xuống sông tự tửcùng một số vị tướng trung thành Người đời còn truyền lại:

“Cấm khê đến lúc hiểm nghèo Chị em thất thế cùng liều với sông” 3

Khởi nghĩa Bà Triệu (Năm 248): Sau khi Hai Bà Trưng mất, Mã Viện những

tưởng đã dập tắt được lòng yêu nước của nhân dân Âu Lạc và đồng hóa được họ Nhưng,lòng yêu nước của nhân dân Âu Lạc vẫn âm ỷ cháy để 250 năm sau, nó lại bùng lên ởmảnh đất Thanh Hoá mà Triệu Thị Trinh là người phát động Triệu Thị Trinh đã nói lên

chí khí của mình : “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở

Biển Đông, đánh đuổi giặc Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”.

Quân thù đã khiếp sợ mà thốt lên rằng :

“Hoành qua đương hổ dị, Đối diện bà Vương nan”.

Tức : “Múa giáo trước hổ dễ,

Đối diện bà Vương khó” 5

Khởi nghĩa Lý Bí (Năm 542): Năm trăm năm dưới ách đô hộ, kìm kẹp của các triều

đại Đông Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương là 5 thế kỉ nô lệ tủi nhục của nhân dân

ta Trong 5 thế kỉ đó, lòng yêu nước của nhân dân ta vẫn cháy lên, thể hiện qua việckhông ngừng nổi dậy chống lại ách đô hộ của quân xâm lược phương Bắc Những cuộcđấu tranh đó phát triển dần dần chống lại âm mưu đồng hóa của kẻ thù, tạo điều kiện cho

sự bùng nổ của cuộc khởi nghĩa Lý Bí Năm 542, nghĩa quân Lý Bí chiếm thành LongBiên Quân nhà Lương tan rã Năm 544, Lý Bí dựng nước, lấy quốc hiệu là Vạn Xuân(ước muốn xã tắc sẽ được lưu truyền tới muôn đời sau), tự xưng là Lý Nam Đế

Triệu Quang Phục tiếp nối Lý Nam Đế đánh giặc, nên “thế kỷ VI đánh dấu một

bước phát triển mới của lòng yêu nước”

Năm 722, Mai Thúc Loan (quê ở Hà Tĩnh) kêu gọi nhân dân nổi dậy chống lại

việc gánh vải cống nộp cho nhà Đường Nhiều người hưởng ứng theo ông thành cuộckhởi nghĩa lớn Mai Thúc Loan xây thành Vạn An (Nghệ An), xưng đế (Mai Hắc Đế).Nhà Đường cử tướng Dương Tư Húc sang đàn áp và thành Vạn An rơi vào tay giặc

- Năm 783, Phùng Hưng (Hà Tây) nổi dậy khởi nghĩa đánh chiếm Tống Bình, xây

dựng nền tự chủ trong bảy năm thì qua đời Con của Phùng Hưng là Phùng An lênthay Năm 791, nhà Đường cho quân sang đàn áp và Phùng An đầu hàng

- Trong trang này, đoạn “Đô kỳ…nước ta”, tác giả trích nguyên văn TLTK số 5

Trang 10

Năm 905, Khúc Thừa Dụ (Hải Dương) đánh chiếm lại Tống Bình, Tự xưng là

Tiết độ xứ Nhà Đường buộc phải thừa nhận chính quyền của họ Khúc Năm 930, quânNam Hán kéo sang xâm lược

Năm 931, Dương Đình Nghệ kéo quân từ Ái Châu (Thanh Hóa) ra đánh, chiếm

thành Đại La, giành lại quyền tự chủ cho nước nhà

Lợi dụng tình hình rối ren, Nam Hán lại kéo quân xâm lược lần thứ hai Cuối năm

938, Ngô Quyền làm nên chiến thắng Bạch Đằng : Kết quả là sau hơn 10 thế kỷ bị chiếm

đóng và đồng hóa, Việt Nam không biến thành một tỉnh của Trung Quốc như bao quốcgia, dân tộc cổ đại đã từng tồn tại trên lãnh thổ Trung Quốc, mà chúng ta vẫn là một quốcgia dân tộc độc lập Quốc gia, dân tộc Việt đã được tự tạo trong những cuộc nổi dậy vàchiến tranh của người Việt chống phong kiến Trung Quốc đô hộ Khởi nghĩa Ngô Quyền

là cuộc nổi dậy cuối cùng, kết thúc hẳn một thời kỳ và mở đầu một thời kỳ mới

Trước khi bị quân xâm lược Trung Quốc đô hộ trong hơn 1000 năm, quốc giangười Việt đã xuất hiện, mặc dù còn non nớt và văn hóa Việt đã hình thành Dù bị mấtnước, nhưng văn hóa dân tộc, ý thức dân tộc vẫn tồn tại phát triển; các cuộc khởi nghĩa

nổ ra liên tục không chỉ chống xâm lược mà còn chống đồng hóa, chống Hán hóa

Chiến thắng Bạch Đằng 938 là chiến thắng của truyền thống yêu nước và mở ra một thời đại mới, thời đại độc lập, tự chủ lâu dài trên đất nước ta.

Từ thế kỷ XV đến trước khi Pháp xâm lược Việt Nam (1858)

Vào khoảng nửa sau thế kỷ XV, chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam phát triển mạnh

mẽ vào thời Lê Thánh Tông Sự phát triển ấy có mặt tích cực là đã khẳng định và củng cố

những thành quả của sự nghiệp dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc

Bộ máy hành chính các cấp được cải tổ theo hướng tăng cường sự chi phối của triều đình

và hạn chế quyền lực của địa phương, nhằm phát triển chế độ trung ương tập quyền Năm

1483, bộ luật Hồng Đức ra đời

Tuy vậy, sang thế kỷ XIX chế độ phong kiến Việt Nam trong giai đoạn suy vong đã đểđất nước tụt hậu rất xa so với thế giới Những xu hướng cải cách và những đề án canh tânđất nước bị vua tôi nhà Nguyễn bác bỏ Đất nước chìm đắm trong các mối quan hệ xã hộiphong kiến trì trệ, hủ lậu, thối nát Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến mất nước khi chủ

nghĩa thực dân xâm lược

Mặc dù về mặt chính sự quốc gia, giai đoạn này đầy biến động, song những thành quảtrong sự nghiệp xây dựng kinh tế và văn hóa đạt được đã chứng tỏ sức sống mạnh mẽ củadân tộc và tạo nên tiền đề để dân tộc giữ được cốt cách của mình, vượt được những thăngtrầm, thử thách về sau Trở lại lịch sử, chúng ta nhớ rằng đầu thế kỷ XVI, nhà Lê suy yếu,các cuộc thoán đoạt, tranh giành giữa các phe nhóm phong kiến nổ ra Năm 1527, Mạc -

Đăng Dung cầm đầu một thế lực phong kiến đã phế truất vua Lê, lập ra triều Mạc Khôngthuần phục nhà Mạc, dưới danh nghĩa khôi phục triều đại chính thống, nhiều thế lựcphong kiến đã nổi lên Nguyễn Kim (một viên tướng cũ của nhà Lê) đã tôn phò một tônthất nhà Lê lập ra một chính quyền riêng là triều Lê Trung Hưng, chiếm giữ Thanh Hóa.Năm 1545, Nguyễn Kim chết, quyền hành rơi vào tay Trịnh Kiểm Ngoài Bắc do họ Mạcthống trị (Bắc triều), từ Thanh - Nghệ trở vào họ Trịnh thống trị (Nam Triều) Năm 1592

Đoạn “Tôi chỉ muốn… bà Vương khó”, tác giả trích nguyên văn TLTK số 5

Trang 11

Nam triều thắng Bắc triều, chiếm được Thăng Long Ngay khi Nam - Bắc triều còn tranhgiành quyền lực thì xuất hiện một cơ sở cát cứ mới do Nguyễn Hoàng chiếm giữ ở vùng Thuận Hóa (1558) Cuộc chiến tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài với 7 lần vũ trang tấn công nhau đã kéo dài từ 1627 đến 1672 Cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn kéo dài đã không phân thắng bại, kết cục sông Gianh trở thành giới tuyến chia đôi đất nước

Mục tiêu độc lập dân tộc không tách rời với thống nhất đất nước cũng là truyền thống của dân tộc Việt Nam Yêu cầu thống nhất quốc gia trở nên vô cùng bức xúc, phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ mãnh liệt ở Bình Định (1771) Sau khi dẹp xong thế lực cát

cứ họ Nguyễn Đàng Trong (1783), nghĩa quân Tây Sơn đã vươn lên làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất quốc gia Thất bại thảm hại, Nguyễn ánh rước quân Xiêm vào giày mả tổ Nghĩa quân Tây Sơn với truyền thống giữ nước oanh liệt đã lập nên chiến công ở Rạch Gầm - Xoài Mút, đuổi 5 vạn quân Xiêm ra khỏi bờ cõi nước ta

Năm 1788, tên vua bù nhìn Lê Chiêu Thống đã "cõng rắn cắn gà nhà" rước 20 vạn quân Thanh vào xâm lược nước ta ý chí độc lập dân tộc và truyền thống chống giặc giữ nước thôi thúc, nghĩa quân Tây Sơn lại "thần tốc" tiến công ra Bắc lập nên những chiến công ở

Hạ Hồi, Ngọc Hồi, Khương Thượng, Gò Đống Đa với sức mạnh kỳ diệu, quét sạch 20 vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi nước ta

Đây là một trong những chiến công hiển hách vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Truyền thống giữ nước Việt Nam một lần nữa được viết tiếp một trang oai hùng mới

Sau khi đại phá quân Thanh, Tây Sơn thống nhất quốc gia, những tiền đề quan trọng nhất cho việc thiết lập một quốc gia độc lập tự chủ, thống nhất và hùng mạnh được hình thành Quang Trung có đề ra một số chính sách tích cực Nhưng đáng tiếc ông mất sớm,

và sau đó đến thời kỳ Quang Toản thì cuộc đấu tranh giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn đã chuyển hóa, có lợi cho tập đoàn Nguyễn Ánh Kết quả là Nguyễn Ánh đã lên ngôi Hoàng

đế và triều Nguyễn thành lập (1802)

Triều Nguyễn xuất hiện có những mặt hạn chế của nó phải phê phán, song cũng có những mặt tích cực cần được khẳng định Tuy nhiên, so với yêu cầu của lịch sử, nhà Nguyễn ngày càng trở nên bất cập, thậm chí nhà Nguyễn lại không chấp nhận xu hướng cải cách và những đề án của Đặng Huy Trứ, của Nguyễn Lộ Trạch, của Nguyễn Trường Tộ , những đề án canh tân đất nước rất có hệ thống và tiến bộ Lúc ấy muốn giữ nước, giữ vững nền độc lập thì phải cải cách, đổi mới đất nước và mở rộng giao lưu với bên ngoài, khép kín là tự sát Song nhà Nguyễn lại không chấp nhận cải cách ở bên trong, bế quan tỏa cảng với bên ngoài, làm hủy hoại các tiềm lực bên trong, dẫn tới trì trệ, khủng hoảng, không bắt nhập được xu thế tiến bộ của thời cuộc, và vì vậy không có đủ sức mạnh để giữ vững nền độc lập

Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta đến Cách mạng tháng Tám năm 1945

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta Sau những cuộc chiến đấu rời rạc, yếu kém, thiếu tự tin, bọn phản động trong giới cầm quyền nhà Nguyễn đã vứt bỏ ngọn cờ dân tộc, lần lượt ký những điều ước, hòa ước đầu hàng, rồi cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp Nhân dân ta lại bị chủ nghĩa thực dân Pháp nô dịch

Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược cho đến khi giới cầm quyền phản động nhà

Nguyễn đầu hàng, với truyền thống yêu nước, rất nhiều lực lượng gồm các văn thân, sĩ phu yêu nước và các tầng lớp nhân dân đã lần lượt đứng lên đấu tranh chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp

Các cuộc khởi nghĩa của Trương Định ở Gò Công; của Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá, Hà Tiên; rồi đến phong trào Cần Vương của Tôn Thất Thuyết; khởi nghĩa Ba Đình ở

Trang 12

Thanh Hóa; khởi nghĩa Bãi Sậy ở Hưng Yên; khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng nhân dân cả nước đứng lên chống Pháp

Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh vũ trang dưới sự chỉ huy của các văn thân sĩ phu yêu nước chống Pháp đã thất bại Nhưng kẻ trước ngã xuống đã

có người sau nối bước Hoàng Hoa Thám cầm đầu cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế - Bắc Giang (1887-1913), làm cho kẻ thù thất điên bát đảo

Vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ do kẻ thù gây nên, phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta sau đó vẫn tiếp tục sôi nổi, từ phong trào Đông Du, vận động cứu nước của Phan Bội Châu và phong trào cải cách của Phan Chu Trinh, đến các cuộc khởi nghĩa của đồng bào các dân tộc thiểu số anh em trên mọi miền đất nước

Các cuộc khởi nghĩa và các phong trào đó đều bị dìm trong biển máu, song nhân dân ta, dân tộc ta quyết không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ Truyền thống dựng nước và giữ nước không ngừng được phát huy và tô thắm thêm, đã góp phần vào việc tìm ra con đường cách mạng đúng đắn mà Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương về sau này

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội II của Đảng lao động Việt Nam (2-1951) Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi,

nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"(1) Chính nhờ kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo những tinh hoa của triết học và văn hóa phương Đông và phương Tây mà Nguyễn ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã

ra đi tìm đường cứu nước (1911) và đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin (1920) Con

đường cứu nước đúng đắn đã được tìm thấy Đó là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Con đường cứu nước bắt đúng xu thế của lịch sử, nhờ đó Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp được sức mạnh của dân tộc và của thời đại

Ngay sau khi ra đời (1930), Đảng ta đã tuyên truyền, giác ngộ, xây dựng lực lượng cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam Qua các phong trào 1930-1931, 1936-

1939, Đảng ta đã tập hợp quần chúng, tôi luyện họ trong cuộc đấu tranh cách mạng, phát triển lực lượng mọi mặt của nhân dân ta, chuẩn bị đón thời cơ giành lại độc lập tự do cho

Tổ quốc

Với đường lối chiến lược đúng đắn, với những chính sách kịp thời và linh hoạt, nhất là

từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ tám (5-1941), cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm

1945 đã thành công Cách mạng tháng Tám (1945) ở Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình ở một nước thuộc địa nửa phong kiến do giai cấp công nhân lãnh đạo Thắng lợi ấy đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ

nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội

Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), khai sinh ra nước Cộng hòa dân chủ Việt Nam Người trịnh trọng tuyên bố: "Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế

độ dân chủ cộng hòa"

"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và củacải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy"

Bản Tuyên ngôn độc lập là một trang vẻ vang trong lịch sử dân tộc Việt Nam Nó chấm

Ngày đăng: 21/10/2019, 19:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w