1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tích hợp kiến thức sinh học, hình học, hoá học, văn học, vật lý vào dạy phần 3 quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất,

19 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 272 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUAN HỆ GIỮA SỰ BIẾN ĐỔI VỀ LƯỢNG VÀ SỰ BIẾN ĐỔI VỀ CHẤT, BÀI 5: “CÁCH THỨC VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN CỦA SỰ VẬT VÀ HIỆN TƯỢNG” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 10 THEO HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC HỌC SINH

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT NGA SƠN

-*** -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÍCH HỢP KIẾN THỨC SINH HỌC, HÌNH HỌC, HOÁ HỌC, VĂN HỌC, VẬT LÝ VÀO DẠY PHẦN 3 QUAN HỆ GIỮA SỰ BIẾN ĐỔI VỀ LƯỢNG VÀ SỰ BIẾN ĐỔI VỀ CHẤT, BÀI 5:

“CÁCH THỨC VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN CỦA SỰ VẬT VÀ HIỆN TƯỢNG” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 10 THEO HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT NGA SƠN.

Người thực hiện: Lê Thị Hồng

Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THPT Nga Sơn SKKN thuộc lĩnh vực (môn): GDCD

THANH HÓA NĂM 2018

Trang 2

Mục lục TRANG

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5

2.4.Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo

Trang 3

1.Mở đầu

1.1.Lí do chon đề tài

Bước sang thế kỷ XXI, với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ cùng với sự bùng nổ thông tin, lượng tri thức của nhân loại phát minh ngày càng nhiều, kiến thức của các lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau Đồng thời do yêu cầu của xã hội, do nhu cầu thực tế đang đòi hỏi con người phải giải quyết rất nhiều tình huống trong cuộc sống Khi giải quyết các vấn đề đó, kiến thức của một lĩnh vực chuyên môn sẽ không thể hiện được mà cần vận dụng kiến thức liên ngành một cách sáng tạo Từ thực tế đó đã đặt ra cho giáo dục và đào tạo một vấn đề là phải thay đổi quan điểm về giáo dục trong đó dạy học tích hợp là một định hướng mang tính đột phá để đổi mới căn bản và toàn diện về nội dung và phương pháp giáo dục

Hiện nay, việc dạy học lấy học sinh là trung tâm là nhiệm vụ quan trọng, trong

đó áp dụng các phương pháp dạy học tích cực luôn được giáo viên đặt lên nhiệm vụ hàng đầu Xuất phát từ mục tiêu đó, trong dạy học nói chung và dạy học môn GDCD nói riêng tôi luôn tìm tòi khám phá đưa những nội dung mới vào dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tạo ra sự hứng thú trong quá trình học tập cho học sinh Với ý nghĩa đó, tôi nhận thấy rằng: khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn bao gồm cả tự nhiên và xã hội đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp liên quan đến nhiều môn học Mặt khác, trong dạy học cần phải tích hợp kiến thức của nhiều môn học để giải quyết tình huống trong thực tiễn là rất cần thiết trong việc giảng dạy môn GDCD Vì vậy, tôi lựa chọn đề

tài: Tích hợp kiến thức: Sinh học, Vật lý, Hình học, Hoá học, Ngữ văn vào

dạy học phần 3 Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất, bài

5 : “Cách thức vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng” môn giáo dục công dân 10 theo hướng phát huy năng lực học sinh ở Trường THPT Nga Sơn

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Vận dụng kiến thức liên môn: Sinh học, Vật lý, Hình học, Hoá học, Ngữ văn

để hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức: Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng

và sự biến đổi về chất? nhận biết được dấu hiệu về chất của sự vật, cách thức biến đổi nhanh chóng của chất và khi chất mới ra đời lại hình thành một lượng mới phù hợp, trên cơ sở nắm kiến thức, học sinh phải biết liên hệ bản thân trong thực tế cuộc sống đó là: có ý thức kiên trì trong học tập và rèn luyện, không coi thường việc nhỏ, tránh các biểu hiện nôn nóng trong cuộc sống

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh lớp 10D, 10H Trường THPT Nga Sơn.

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế

- Phương pháp giải quyết vấn đề

- Phương pháp kiểm tra, đánh giá

- Phương pháp thu thập, xử lí thông tin

Trang 4

- Phương pháp thảo luận nhóm, đàm thoại, trò chơi

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

2.1.Cơ sở lí luận của việc vận dụng phương pháp dạy học tích hợp trong

dạy học môn GDCD.

Dạy học tích hợp là phương pháp dạy học dựa trên cơ sở phát triển năng lực của học sinh, là hình thức tìm tòi những nội dung giao thoa giữa các môn học với nhau, những khái niệm tư tưởng chung giữa các môn học, tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số môn học có liên hệ với nhau Từ những năm 60 của thế kỷ XX, người ta đã đưa vào giáo dục ý tưởng tích hợp trong việc xây dựng chương trình dạy học Dạy học tích hợp góp phần phát triển

tư duy liên hệ, liên tưởng ở học sinh Tạo cho học sinh một thói quen trong tư duy, lập luận tức là khi xem xét một vấn đề phải đặt chúng trong một hệ quy chiếu, từ đó mới có thể nhận thức vấn đề một cách thấu đáo Có thể khẳng định rằng dạy học tích hợp là một trong những phương pháp dạy học hiện đại Nó giúp học sinh dễ ghi nhớ, phát triển nhận thức, khả năng tư duy, óc liên tưởng, khả năng vận dụng và khả năng sáng tạo Đây là một công cụ hữu hiệu trong quá trình dạy học hiện nay Ví dụ như: lồng ghép nội dung giáo dục dân số, giáo dục môi trường, bảo vệ sức khỏe…vào nội dung các môn học : địa lí, sinh học, văn học, giáo dục công dân…

Như vậy, có thể hiểu Dạy học tích hợp là dạy cho học sinh biết tổng hợp kiến

thức, kĩ năng ở nhiều môn học để giải quyết các nhiệm vụ học tập và hình thành năng lực giải quyết các tình huống thực tiễn

Hiện nay, chúng ta cần tích cực dạy học theo hướng tích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học Từ đó khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức của các môn học khác nhau để giải quyết các tình huống thực tiễn, tăng cường khả năng vận dụng tổng hợp, khả năng tự học, tự nghiên cứu Đó là tính ứng dụng và thực

tế của phương pháp dạy học tích hợp Trong quá trình dạy học, chúng ta có thể tích hợp liên môn ở tất cả các môn học, trong đó có môn GDCD

Dạy học tích hợp môn GDCD có nghĩa là: nội dung kiến thức trong bài học

của môn GDCD liên quan đến kiến thức nhiều môn học để giải quyết vấn đề nào

đó Trong phạm vi của đề tài này: Tích hợp kiến thức : Sinh học, Vật lý, hình

học, Hoá học, Ngữ văn vào dạy học phần 3 Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất, bài 5 : “Cách thức vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng” môn giáo dục công dân 10 theo hướng phát huy năng lực học sinh ở Trường THPT Nga Sơn giúp học sinh có kiến thức tổng hợp về

cánh thức vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng, làm cho việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn, tạo được sự hứng thú trong học tập, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh Mặt khác, việc tích hợp kiến thức trong dạy học sẽ giúp học sinh hiểu được quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi

về chất, nhận thức được bản thân cần có ý thức kiên trì trong học tập và rèn luyện, không coi thường việc nhỏ, tránh các biểu hiện nôn nóng trong cuộc sống

Trang 5

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Tích hợp

kiến thức :Sinh học, Vật lý, hình học, Hoá học, Ngữ văn vào dạy học phần

3 Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất, bài 5 : “Cách thức vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng” môn giáo dục công dân

10 theo hướng phát huy năng lực học sinh ở Trường THPT Nga Sơn

2.2.1 Thực trạng tiếp thu kiến thức môn GDCD trên lớp và học bài ở nhà của

học sinh lớp 10 trường THPT Nga Sơn.

Năm học 2017 - 2018 tôi được phân công giảng dạy 2 lớp : 10D, 10H Qua các bài kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kỳ của học sinh tôi nhận thấy chất lượng học tập môn GDCD lớp 10 của học sinh chưa cao Một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng học tập của học sinh còn thấp đó là:

2.2.1.1 Học tập trên lớp:

Trên lớp các em chưa chủ động trong học tập, chưa thực sự phát huy tính chủ động sáng tạo, nhiều em chưa mạnh dạn trong trả lời câu hỏi, kỹ năng xử lý và phân tích các tình huống còn hạn chế Đặc biệt là khả năng vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống gần với thực tiễn

Thiếu kỹ năng hoạt động nhóm; kỹ năng phân tích tổng hợp; kỹ năng hệ thống hoá kiến thức sau mỗi bài học Thường hay ỷ lại hoặc lười hoạt động trong việc tìm tòi kiến thức mới…

2.2.1.2 Học tập ở nhà:

Vận dụng kiến thức liên môn trong ôn tập kiến thức ở nhà chưa hiệu quả, làm bài tập và nghiên cứu trước bài mới chưa cao

Hầu hết các em chưa biết cách học “chủ yếu học vẹt đọc thuộc lòng” do đó

chất lượng kiểm tra bài cũ ở nhà còn thấp “có tới 80% học sinh không thuộc bài” khi đến lớp.

2.2.2 Thực trạng vận dụng pháp dạy học tích hợp trong giảng dạy ở trường

THPT Nga Sơn.

Môn GDCD là môn học có nhiều nội dung tích hợp để hình thành kỹ năng sống cho học sinh và nội dung bài học gắn liền với cuộc sống hằng ngày của các

em, để hình thành kĩ năng sống cho học sinh qua các bài học phải lựa chọn lồng ghép kĩ năng sống phù hợp với từng đối tượng học sinh và phù hợp với từng nội dung của bài học trong chương trình GDCD10

Qua các đợt tiếp thu chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học do sở GD&ĐT Thanh Hóa tổ chức và triển khai thực hiện cuộc thi: “ Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn dành cho học sinh trung học và cuộc thi dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên trung học” , Trường THPT Nga sơn đã tích cực triển khai áp dụng thực hiện, tuy nhiên trong thực tế qua dự giờ thao giảng cũng như dự giờ sinh hoạt chuyên đề chúng tôi nhận thấy nhìn chung giáo viên vận dụng phương pháp dạy học tích hợp vào giảng dạy trong các tiết học còn rất ít Một số GV còn gặp khó khăn, lúng túng trong việc tổ chức, thiết kế và sử dụng phương pháp dạy học tích hợp trong dạy học Một số ít GV vận dụng vào giảng dạy một nội dung của bài học nhưng mới

Trang 6

dừng lại dưới hình thức giáo viên hỏi, học sinh trả lời sau đó giáo viên chốt lại kiến thức mà chưa hình thành cho các em kỹ năng tự vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống trong thực tiễn sau đó lên trình bày trước lớp theo cách hiểu riêng Đặc biệt giáo viên chưa hướng dẫn cho các em cách khai thác nội dung bài học bằng hình thức tư duy tích hợp các môn học liên quan để các em có thể củng cố và khắc sâu kiến thức bài học.Đây chính là lí do để tôi

chọn đề tài này: Tích hợp kiến thức: Sinh học, Hình học , Vật lý, Hoá học,

Ngữ văn vào dạy học phần 3 Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất, bài 5 : “Cách thức vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng” môn giáo dục công dân 10 theo hướng phát huy năng lực học sinh ở Trường THPT Nga Sơn

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

2.3.1 Các phương pháp, phương tiện giáo viên sử dụng trong bài dạy

2.3.1.1 Các phương pháp sử dụng trong bài dạy:

Giáo viên có thể sử dụng nhiều phương pháp/kỹ thuật khác nhau Ở bài này, sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp: điều tra, khảo sát thực tế; nêu vấn đề; đàm thoại;thảo luận nhóm, trò chơi

- Kĩ thuật: xử lý tình huống, làm bài tập trắc nghiệm

2.3.1.2 Phương tiện dạy học:

- SGK,SGV GDCD10

- Chuẩn kiến thức kĩ năng GDCD THPT

- Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng GDCD10

- Sơ đồ, bảng biểu, bài tập tình huống, bài tập trắc nghiệm, video…

- Máy chiếu

- Bảng hệ thống tuần hoàn

- Sưu tầm ca dao, tục ngữ nói về sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi

về chất

2.3.2 Nội dung kiến thức tích hợp trong phần 3 Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất

- Phần1 Khởi động

* Tích hợp với môn sinh học

Giáo viên trình chiếu video về sự nảy mầm của hạt để kích thích học sinh tự tìm hiểu xem các em đã biết gì về chất, lượng và giữa chúng có mối quan hệ với nhau như thế nào? Qua đó rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo phát huy năng lực phát triển và giải quyết vấn đề của học sinh

- Phần 2 Hoạt động hình thành kiến thức

* Tích hợp với bộ môn vật lý

- Ở điểm a mục 3 giáo viên sử dụng sơ đồ các trạng thái tồn tại của nước và đặt câu hỏi để học sinh hiểu được:

+ Sự biến đổi về chất của sự vật và hiện tượng bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi về lượng và sự biến đổi này diễn ra một cách dần dần.( không phải ngay lập tức chúng ta có nước sôi mà phải có sự tích luỹ dần dần về nhiệt độ)

Trang 7

+ Muốn làm cho chất của sự vật và hiện tượng thay đổi đòi hỏi lượng của sự vật, hiện tượng phải biến đổi đến một giới hạn nhất định

Giới hạn mà trong đó sự biến đổi về lượng chưa làm thay đổi chất của sự vật

và hiện tượng được gọi là “Độ” tức là trạng thái nước ở khoảng giới hạn từ

0oC < độ<100oC

Giới hạn mà tại đó sự biến đổi về lượng làm thay đổi chất của sự vật và hiện

tượng được gọi là “Điểm nút” tức là tại điểm 0oC và 100oC

* Tích hợp với bộ môn hóa học

Giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu ví dụ SGK trang 31 Trong điều kiện bình thường đồng (Cu) ở trạng thái rắn Nếu ta tăng dần nhiệt độ đến 10830C, đồng sẽ nóng chảy Ở ví dụ này, độ là khoảng giới hạn trong đó nhiệt độ của đồng chưa đạt tới 10830C và điểm nút là nhiệt độ 10830C

Giáo viên cho các em sử dụng bảng hệ thống tuần hoàn để lấy thêm ví dụ về

độ, điểm nút

- Phần 3: hoạt động luyện tập

* Tích hợp với môn hình học

Bài 1 Cho hình chữ nhật có chiều dài 50cm, chiều rộng 20cm, người ta có thể tăng hoặc giảm chiều rộng theo hai phía để giải thích sự biến đổi của hình học Hỏi:

a Lượng thay đổi của hình chữ nhật như thế nào?

b Chất mới của hình chữ nhật là gì?

c Xác định độ, điểm nút.

Trả lời Giáo viên hướng dẫn để học sinh có thể trả lời được:

a Lượng thay đổi phụ thuộc và chiều rộng từ 0 – 50cm

b Chất mới của hình chữ nhật là:

+ Hình vuông

+ Đường thẳng

c Xác định

+ 0 < độ < 50

+ Nút: 0 và 50

- Phần 5: Hoạt động mở rộng

*Tích hợp với môn văn học

Độ

Trạng thái Nước

Rắn

Lỏng

Hơi

Điểm nút

Trang 8

Giáo viên hướng dẫn học sinh sưu tầm các câu ca dao tục ngữ, câu thơ nói về sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất

+ Chín quá hoá nẫu.

+ Có công mài sắt có ngày nên kim.

+ Góp gió thành bão

+ Tích tiểu thành đại.

+ Dốt đến đâu học lâu cũng biết.

2.3.3 Giáo án minh họa : Phần 3 Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự

biến đổi về chất, Bài 5 - tiết 2(Tiết PPCT 8): Cách thức vận động, phát triển của

sự vật và hiện tượng

Giáo án minh họa.

I MỤC TIÊU BÀI HỌC:

Học xong bài này học sinh cần:

1 Về kiến thức:

Học sinh biết được mối quan hệ biện chứng giữa sự biến đổi về lượng và

sự biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng

2 Về kĩ năng:

- Chứng minh được cách thức của sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và chất mới ra đời lại bao hàm một lượng mới tương ứng

- Vận dụng sự biến đổi của lượng và chất trong các sự vật, hiện tượng

3 Về thái độ:

- Có ý thức kiên trì trong học tập và rèn luyện, không coi thường việc nhỏ, tránh nôn nóng trong cuộc sống

II CÁC NĂNG LỰC HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN Ở HỌC SINH.

- Năng lực tự học

- Năng lực giải quyết vấn đề

- Năng lực tư duy sáng tạo

- Năng lực giao tiếp

- Năng lực hợp tác…

III PHƯƠNG PHÁP/ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC CÓ THỂ SỬ DỤNG.

- Phương pháp: đàm thoại, nêu vấn đề, thảo luận, trò chơi

- Kĩ thuật: xử lí tình huống, làm bài tập trắc nghiệm

IV PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC.

1 Sự chuẩn bị của giáo viên:

- SGK, SGV, chuẩn kiến thức kĩ năng môn GDCD lớp 10

- Sơ đồ, bảng biểu, bài tập tình huống, bài tập trắc nghiệm, video…

- Máy chiếu

2 Sự chuẩn bị của học sinh:

- SGK GDCD lớp 10, giấy A4

- Bảng hệ thống tuần hoàn

Trang 9

- Đọc và tìm hiểu trước nội dung bài học.

- Sưu tầm thơ, ca dao, tục ngữ nói về sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất

V TỔ CHỨC DẠY HỌC:

Hoạt động cơ bản của giáo viên và học sinh Nội dung bài học

1 Khởi động

*Mục tiêu:

- Kích thích học sinh tự tìm hiểu xem các em đã

biết gì về chất, lượng và giữa chúng có mối

quan hệ với nhau như thế nào?

- Rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo, năng lực

phát triển và giải quyết vấn đề của học sinh

*Cách tiến hành:

GV: trình chiếu video về sự nảy mầm của hạt và hỏi:

Em có nhận xét gì về hình ảnh mà các em vừa xem?

HS: 2 đến 3 HS trả lời

Lớp nhận xét, bổ sung nếu có

GV chốt lại: Đó là quá trình biến đổi về lượng làm thay

đổi về chất (Hạt → Cây)

Điều đó cho thấy lượng và chất có mối quan hệ mật thiết

với nhau Vậy mối quan hệ giữa lượng và chất được thể

hiện như thế nào? Chúng ta sẽ đi tìm câu trả lời qua tiết

học hôm nay

2 Hoạt động hình thành kiến thức.

Hoạt động 1: Thảo luận nhóm, giáo viên sử dụng sơ đồ

chiếu lên màn hình, tìm hiểu về sự biến đổi về lượng dẫn

đến sự biến đổi về chất

*Mục tiêu:

- Trình bày được quy luật lượng đổi dẫn đến chất

đổi

- Rèn luyện năng lực tư duy, năng lực sử dụng

ngôn ngữ, năng lực giải quyết vấn đề

*Cách tiến hành:

- Chia lớp thành 3 nhóm

GV cho HS quan sát sơ đồ các trạng thái tồn tại của

nước và yêu cầu các em trả lời các câu hỏi

-Sự biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi về lượng Sự biến đổi này diễn ra

1 cách dần dần Quá trình biến đổi ấy đều có ảnh hưởng đến trạng thái chất của sự vật, hiện tượng, nhưng chất

Trang 10

? Có phải ngay lập tức có thể có nước sôi?

? Việc tăng dần nhiệt độ diễn ra như thế nào?

? Đó là sự tích luỹ về lượng hay về chất?

? Thế nào là độ? Thế nào là điểm nút?

- Các nhóm thảo luận và cử đại diện nhón trình bày

GV giảng giải: Muốn làm cho chất cơ bản của sự vật

hiện tượng thay đổi (nước từ trạng thái lỏng sang trạng

thái khí) đòi hỏi lượng của sự vật, hiện tượng (nhiệt độ)

phải biến đổi đến 1 giới hạn nhất định

Giới hạn mà trong đó sự biến đổi về lượng chưa làm thay

đổi chất cơ bản của sự vật, hiện tượng được gọi là “ĐỘ”

GV: Khi sự biến đổi (tích lũy) của lượng đạt đến giới

hạn của ĐỘ thì điều gì sẽ xảy ra.

HS: Sự vật, hiện tượng sẽ chuyển sang chất mới

GV giải thích: Khi đó sự vật, hiện tượng sẽ không còn là

nó nữa Sự vật, hiện tượng cũ sẽ bị thay thế bằng sự vật,

hiện tượng mới

Điểm giới hạn mà tại đó sự biến đổi của lượng làm thay

đổi về chất của sự vật, hiện tượng được gọi là “Điểm

nút”.

- Giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu ví dụ SGK trang

31

GV kết luận: Sự biến đổi về lượng đạt đến 1 giới hạn

nhất định (giới hạn của độ), phá vỡ sự thống nhất giữa

chất và lượng, chất cơ bản của sự vật sẽ thay đổi, chất

mới ra đời thay thế chất cũ, sự vật mới ra đời thay thế sự

vật cũ

Hoạt động 2: Đàm thoại để tìm hiểu chất mới ra đời bao

hàm một lượng mới tương ứng

*Mục tiêu:

- HS trình bày được chất mới ra đời gắn liền với

1 lượng mới tương ứng

- Rèn luyện năng lực tư duy, năng lực giải quyết

vấn đề, năng lực giao tiếp

*Cách tiến hành:

GV: Em hãy cho biết khi nước ở trạng thái lỏng chuyển

sang trạng thái khí thì có còn những thuộc tính ban đầu

của sự vật, hiện tượng chưa biến đổi ngay

+Giới hạn mà trong

đó sự biến đổi về lượng chưa làm thay đổi chất cơ bản của

sự vật, hiện tượng được gọi là độ -Khi sự biến đổi về lượng đạt đến giới hạn nhất định, phá

vỡ sự thống nhất giữa chất và lượng thì chất mới ra đời thay thế chất cũ, sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ

+Điểm giới hạn mà tại đó sự biến đổi của lượng làm thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng được gọi là điểm nút

Mỗi sự vật, hiện tượng đều có chất đặc trưng và lượng đặc trưng phù hợp với nó Vì vậy, khi một chất mới ra đời lại bao hàm một lượng mới để tạo thành sự thống nhất mới giữa chất và

Độ

Trạng

thái

Nước

Rắn

Lỏng

Hơi Điểm nút

Ngày đăng: 21/10/2019, 19:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w