1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá môn giáo dục công dân ở trường THPT theo hướng tiếp cận năng lực học sinh

19 164 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 184 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Thông qua việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD nhằm hình thành các phẩm chất và năng lực của học sinh, giúp các em có khả năng vận dụng tri thức môn G

Trang 1

I MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Mục đích của môn GDCD là giáo dục và hoàn thiện nhân cách của học sinh

Đó là môn học dạy làm người, hoàn thiện cả về tri thức và đạo đức ở bậc học phổ thông Song thực tế chất lượng và hiệu quả dạy học môn GDCD còn thấp, quá trình dạy học môn GDCD còn mang tính chất đối phó

Định hướng đổi mới của chương trình môn GDCD là chú trọng hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh Đồng thời không chỉ coi trọng khối lượng kiến thức mà còn phải chú ý đến khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức,

kĩ năng, thái độ… của học sinh vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày

Vì vậy khi nội dung chương trình chưa thay đổi thì đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực học sinh sẽ đóng vai quyết định trong việc hình thành phẩm chất và năng lực học sinh

Phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD theo hướng tiếp cận nội dung, chủ yếu chỉ tập trung vào kiến thức hàn lâm, phần lớn câu hỏi chỉ mang tính chất tái hiện kiến thức yêu cầu học sinh học thuộc lòng nội dung bài học Do đó phần lớn học sinh học thuộc bài mà không hiểu bài và không có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống

Phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD theo hướng tiếp cận năng lực học sinh là kiểm tra, đánh giá theo chuẩn, sản phẩm đầu ra Không chỉ kiểm tra kiến thức mà quan trọng là phải kiểm tra khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ để giải quyết các vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra

Xuất phát từ những lí do trên nên tôi chọn đề tài: “Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá môn Giáo dục công dân ở trường THPT theo hướng tiếp cận năng lực học sinh.”

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Thông qua việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD nhằm hình thành các phẩm chất và năng lực của học sinh, giúp các em có khả năng vận dụng tri thức môn GDCD vào đời sống thực tế

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Các biện pháp nâng cao phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD nhằm phát triển năng lực học sinh lớp 11 và lớp 12 trường THPT

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thu thập thông tin; điều tra khảo sát thực tế; trải nghiệm phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn GDCD theo hướng tiếp cận năng lực học sinh để rút kinh nghiệm

Trang 2

II NỘI DUNG

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN.

1.1.Yêu cầu cơ bản của việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD theo hướng phát triển năng lực học sinh

Đánh giá theo chuẩn và sản phẩm đầu ra, góp phần quan trọng vào việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh Cụ thể không chỉ kiểm tra kiến thức, mà quan trọng phải kiểm tra các kĩ năng (kĩ năng nhận xét, đánh giá, các kĩ năng vận dụng bài học để giải quyết các vấn đề, tình huống và thực hành trong cuộc sống), kiểm tra thái độ, tình cảm của học sinh đối với các vấn đề đạo đức và pháp luật Từ

đó thúc đẩy học sinh tích cực rèn luyện theo yêu cầu của các chuẩn mực bài học

Để đảm bảo tính khách quan, toàn diện, khoa học và trung thực, trong kiểm tra đánh giá thì kiểm tra, đánh giá cần phải đưa lại những thông tin chính xác, phản ánh đúng kết quả học tập của học sinh Để trên cơ sở đó, giáo viên có sự điều chỉnh phù hợp về phương pháp dạy học; điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh; bài kiểm tra được coi là thước đo để đánh giá đúng năng lực học tập của học sinh dựa theo các yêu cầu đã đặt ra

Hơn nữa để có sự phân hóa cho các đối tượng học sinh khác nhau nhằm khuyến khích học sinh phấn đấu vươn lên, đề kiểm tra cần phải phù hợp với số đông học sinh (đại trà) và dành một số nội dung cho học sinh khá và giỏi (khoảng 20%)

Đổi mới hình thức đề kiểm tra, đánh giá theo hướng kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận (các câu hỏi, bài tập kiểm tra cần gắn với thực tế cuộc sống của học sinh) Ngoài ra còn đánh giá học sinh qua hình thức quan sát động; nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh…

Môn GDCD là một môn học có tính giáo dục và tính thực tiễn cao, đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng bài học và thực hành các chuẩn mực bài học vào trong cuộc sống, có sự thống nhất giữa nhận thức và hành vi Để củng cố và tăng cường ý thức rèn luyện của học sinh ở mọi nơi, mọi lúc theo yêu cầu trên, trong đổi mới kiểm tra môn GDCD cần có sự tham gia, phối kết hợp các lực lượng trong việc kiểm tra, đánh giá như: giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên bộ môn khác, cán bộ đoàn, gia đình và

cộng đồng

1.2 Nội dung đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD

Kiểm tra, đánh giá kết quả học sinh học môn GDCD giáo viên phải căn cứ vào

nội dung chương trình của môn học, cấp học để đánh giá học sinh trên cả ba mặt: kiến thức, kĩ năng, thái độ và khă năng học sinh vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống đặt ra

+ Về mặt kiến thức: Ở trường phổ thông hiện nay bộ môn GDCD kiểm tra, đánh giá HS ở ba cấp độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng Về cơ bản chúng ta đánh giá khả năng Nhận biết (ghi nhớ thuộc kiến thức), Hiểu (bản chất của kiến thức) và Vận dụng (khả năng sử dụng kiến thức môn GDCD trong quá trình học tập, trong thực tiễn cuộc sống phù hợp với lứa tuổi)

+ Về kĩ năng: Kiểm tra, đánh giá học sinh phải căn cứ vào đặc trưng của môn GDCD: nhằm xây dựng , củng cố khả năng tư duy biện chứng trong nhận thức và hành động, biết phân tích, đánh giá, liên hệ, biết lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội Đồng thời rèn luyện cho học sinh: khả năng

Trang 3

trình bày nói và viết, đặc biệt là kĩ năng thực hành, vận dụng các vấn đề đã học vào trong thực tiễn cuộc sống phù hợp với lứa tuổi; giúp học sinh có sự thống nhất giữa nhận thức và hành vi

+ Về thái độ, tình cảm: Môn GDCD không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, phù hợp với lứa tuổi về thế giới quan và nhân sinh quan tiến bộ cùng các giá trị đạo đức, pháp luật, chính sách của Nhà nước mà còn rất có ưu thế trong việc hình thành và phát triển ở các em những tình cảm, niềm tin, biết yêu cái tốt, cái đẹp; không đồng tình với các hành vi việc làm trái với các chuẩn mực đạo đức của xã hội, pháp luật của Nhà nước; giáo dục thế hệ trẻ biết phát huy các truyền thống quý báu của dân tộc

2 THỰC TRẠNG

2.1 Thực trạng phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD

Từ trước đến nay giáo viên ra đề kiểm tra chủ yếu do bắt chước những đề mẫu Việc ra đề kiểm tra nhiều khi còn qua loa, tuỳ tiện ít khi bảo đảm quy trình soạn đề kiểm tra Hình thức đánh giá kết quả học tập học sinh như hiện nay còn đơn điệu, nghèo nàn, thiếu tính thực tiễn và sáng tạo Nội dung các câu hỏi thường chỉ kiểm tra kiến thức ở mức độ học thuộc chứ chưa chú ý đến khả năng vận dụng liên hệ thực tiễn

Trong kiểm tra, đánh giá mới chỉ tập trung vào việc giáo viên đánh giá kết quả học tập của học sinh, ít tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá và học sinh được đánh giá lẫn nhau

Giáo viên chấm điểm kiểm tra hầu như không có sự phản hồi cho học sinh, thường chỉ cho điểm hoặc chỉ phê đại khái chứ chưa giải thích được rõ cho học sinh biết tại sao sai, sai như thế nào Chưa đánh giá được quá trình dạy học; chưa đánh giá được năng lực học sinh giải quyết những vấn đề đời sống thực tiễn đặt ra

Phần lớn lời phê, sửa lỗi bài làm của học sinh còn chung chung, ít khai thác lỗi để rèn luyện phương pháp tư duy Giáo viên chữa bài kiểm tra trên lớp lại thường đưa ra lời giải đúng theo cách tư duy “áp đặt” mà không giúp học sinh tự kiểm soát, phát hiện ra những khuyết điểm để có hướng khắc phục, sửa chữa

Thậm chí sau mỗi bài kiểm tra, giáo viên thường chỉ quan tâm đến điểm số của chứ không quan tâm đến việc đánh giá chất lượng đề kiểm tra để rút kinh nghiệm…đồng thời xem xét phát hiện những thiếu sót của học sinh, để có hướng điều chỉnh hoạt động dạy và học sao cho phù hợp

Bên cạnh đó bệnh thành tích cũng như tình trạng thiếu khách quan trong kiểm tra, đánh giá vẫn còn khá phổ biến Kiểm tra, đánh giá chỉ mang tính áp đặt, không linh hoạt, giảm khả năng sáng tạo của học sinh

2.2 Nguyên nhân

Thứ nhất: Năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên GDCD vẫn còn

nhiều bất cập Ngoài ra giáo viên còn gặp phải tình trạng phân công chuyên môn còn chưa đúng với văn bằng đào tạo

Kết quả kiểm tra, đánh giá môn GDCD phải chịu nhiều áp lực từ phía nhà trường, gia đình và xã hội Bên cạnh đó một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi được khả năng tư duy của học sinh Vì vậy dẫn tới cách dạy và học đối phó như hiện nay

Trang 4

Thứ hai: Học sinh coi bộ môn này là môn phụ, không hứng thú học Điều

đó thể hiện trong suy nghĩ, tình cảm và hành động của các em Tâm lí không thích học những giờ GDCD khô khan, nhàm chán dẫn tới việc học tập thụ động, thiếu tự tin, thiếu chủ động sáng tạo Khi làm bài kiểm tra học sinh tìm mọi cách đối phó cho qua Tư tưởng “thi gì học ấy” đã len lỏi vào trong nhận thức của các

em và gia đình, vì vậy các em chỉ tập trung đầu tư vào các môn thi đại học Việc tham gia vào quá trình tự kiểm tra, đánh giá; đánh giá lẫn nhau đối với học sinh vẫn còn mới lạ Các em chưa có suy nghĩ một cách đúng đắn về bộ môn GDCD, còn suy nghĩ rất phiến diện

Thứ ba: Nội dung môn học còn nặng, phân tán, thiếu tập trung một số nội

dung mang tính “hàn lâm” Lượng kiến thức trong từng bài còn dài, nhiều đơn vị kiến thức khó, trừu tượng xa rời thực tế Nếu giáo viên dạy bộ môn này không có

sự đầu tư giờ học sẽ rất nhàm chán, học sinh sẽ không chú ý lắng nghe, thực tế cho thấy học sinh không hứng thú học bộ môn này

3 CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN TIẾN HÀNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN GDCD THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC HỌC SINH.

3.1 Yêu cầu nhận thức của giáo viên

Giáo viên cần có nhận thức đúng đắn và thay đổi chính bản thân mình đối với việc dạy học môn GDCD Yếu tố quyết định nâng cao chất lượng, hiệu quả môn GDCD phải là yếu tố giáo viên Vì nội dung chương trình có thay đổi, trang thiết bị có hiện đại, học sinh có năng động nhưng bản thân giáo viên không đổi mới thì chất lượng dạy học môn GDCD vẫn là kết quả đối phó, không được cải thiện theo hướng tích cực Chính vì đội ngũ giáo viên là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định đến chất lượng, hiệu quả giáo dục

Nên mỗi người giáo viên cần phải tự bồi dưỡng, tham gia tập huấn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh; khắc phục dần tình trạng dạy học theo lối truyền thụ một chiều, học thuộc lòng máy móc như hiện nay

Ngoài ra người giáo dạy môn GDCD còn phải có phẩm chất tốt, có trình độ năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm vững vàng, có hiểu biết sâu rộng mới

có thể dạy môn GDCD đem lại kết quả cao Giáo viên dạy môn GDCD phải tạo được uy tín trước học sinh giúp họ có động cơ, thái độ học tập đúng đắn và say mê yêu thích bộ môn; giảm thiểu những tệ nạn xã hội; xây dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh

3.2 Hiểu tâm lý lứa tuổi học sinh

Hiểu tâm lý lứa tuổi học sinh là một điều cần thiết của giáo viên trong quá trình dạy học môn GDCD Bởi đối tượng giáo viên cần tác động chính là học sinh với đặc điểm tâm lí nổi trội như: Xu hướng nghề nghiệp mở rộng; nhu cầu được tôn trọng, bình đẳng, chứng tỏ bản thân; phát triển tư duy lý luận, óc phê phán độc lập; có nhu cầu kết bạn tâm tình; xuất hiện nhu cầu yêu đương hồn nhiên, thầm kín, dễ vỡ… nếu cảm xúc, tình cảm lứa tuổi này phát triển mạnh sẽ giúp học sinh say mê với môn học, là cơ sở để bồi dưỡng niềm tin, ý chí quyết tâm của người học… ngược lại, người học có tình cảm tiêu cực thì dễ chán nản, thiếu hứng thú,

Trang 5

không kích thích được tính tích cực, chủ động, sáng tạo Hiểu rõ đời sống tình cảm của học sinh chính là cơ sở để người dạy điều chỉnh cảm xúc, bồi dưỡng, phát triển tính tích cực của các em trong quá trình học

3.3 Tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức của học sinh

Thực tế hiện nay, học sinh chỉ chú trọng học những môn thi đại học, chọn những ngành nghề phù hợp với chính mình Song các em lại coi nhẹ, không cần học môn GDCD Bởi cho nó là môn phụ Còn các môn học khác, các em chỉ học đối phó với mục đích sao cho có đủ điều kiện để được lên lớp

Song rất nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học tuy đã có trình độ chuyên môn giỏi nhưng năng lực giao tiếp, năng lực làm việc hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề…chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế khách quan đặt ra Vì vậy khi được các nhà tuyển dụng phỏng vấn vẫn trượt, vẫn bị thất nghiệp Có rất nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân đó là khi còn ngồi trên ghế nhà trường các em

đã học lệch, còn xem nhẹ các môn không thi đại học đặc biệt đã xem nhẹ và không học môn GDCD, chưa thấy hết được vai trò của môn GDCD Môn học này đã trang bị cho các em một số năng lực chuyên biệt mà các môn học khác không có được, các lớp dạy kĩ năng sống cũng không có được Đó là năng lực tự nhận thức,

tự điều chỉnh hành vi phù hợp với pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội…

Để tránh được tình trạng này ngay từ bây giờ khi còn ngồi trên ghế nhà trường các em cần thay đổi nhận thức về tất cả các môn học, không phân biệt môn chính hay môn phụ, có thi đại học hay không, các em cần phải học đều tất cả các môn học đặc biệt cần học tốt môn GDCD

3.4 Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá môn GDCD theo hướng tiếp cận năng lực học sinh

Phương pháp kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận nội dung và kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực học sinh có những điểm khác nhau căn bản

Trước đây: Đánh giá kết quả học sinh học môn GDCD chỉ qua điểm số của kiểm tra miệng bài kiểm tra viết

Bây giờ ngoài đánh giá học sinh qua điểm số của kiểm tra miệng và bài kiểm tra viết giáo viên còn đa dạng hóa các hình thức đánh giá như sau:

Thứ nhất: Đánh giá qua phương pháp học tập, phương pháp rèn luyện của

học sinh trong giờ học

Quan sát học sinh: Khi học sinh đọc bài, nghe giảng hoặc phát biểu giáo viên chú ý nhìn gương mặt, ánh mắt, thái độ, đồng thời lắng nghe phần các em trình bày để đo lường những diễn biến tình cảm cũng như mức độ hiểu vấn đề của các em

Cho học sinh trình bày vấn đề bằng nhiều cách khác nhau như: nói, ghi bảng, mô tả bằng hình ảnh, biểu đồ, hoặc diễn giải các ý chính trong bài, tóm tắt ý chính từng phần Giáo viên có thể cho học sinh đóng vai, tham gia trò chơi giúp học sinh sửa chữa thiếu sót, động viên kịp thời sự tiến bộ của các em, bồi dưỡng tình cảm hứng thú học tập cho học sinh

Thứ hai: Đánh giá qua các hoạt động của học sinh

Đánh giá qua hoạt động trải nghiệm thực tế của học sinh như: Tuân thủ pháp luật, tham gia phòng chống tệ nạn xã hội, hành vi văn minh, thân thiện trong giao tiếp, động cơ, thái độ học tập Sử dụng phương pháp thuyết phục giúp học

Trang 6

trò lĩnh hội giá trị nhân văn, từng bước hình thành nhân cách, lối sống chuẩn mực của các em

Thứ ba: Đánh giá tính chuyên cần của học sinh qua số buổi đi học đầy đủ,

các giờ thảo luận, ngoai khóa, tham quan… Việc đánh giá tính chuyên cần nhằm hình thành ý thức chấp hành kỷ luật cho học sinh , tạo điều kiện cho học sinh nắm được những nội dung cơ bản của môn học và định hướng tự học cho mình Một học sinh biết sắp xếp thời gian để có thể vừa học tốt ở trường lại vẫn có thời gian giúp đỡ thêm cho gia đình là do bạn đó rất sáng tạo

Thứ tư: Đánh giá thông qua các hoạt động phong phú, sáng tạo của Đoàn và

thầy cô giáo chủ nhiệm lớp Nắm bắt kịp thời những nhận xét về thái độ, hành vi

của học sinh liên quan đến các chuẩn mực bài học để có những hình thức khuyến khích học sinh tự liên hệ, tự kiểm tra, tự đánh giá Giúp các em rèn luyện, kiểm tra

về đạo đức trong hoạt động thực tiễn ở trường và ngoài xã hội Biện pháp này nhằm khắc phục sự tách rời giữa nhận thức và hành động, giúp củng cố và tăng

cường ý thức rèn luyện ở học sinh (đánh giá ngoài).

Thứ năm: Đánh giá qua hoạt động tổ chức tham gia tự làm thiết bị, đồ dùng

học tập môn GDCD của học sinh, coi đó là một hoạt động hiệu quả để phát huy sự tham gia tích cực của các em vào quả trình học tập môn GDCD

Học sinh biết định hướng ôn tập Việc kiểm tra, đánh giá dựa trên các năng lực thực tế và sáng tạo cần hình thành ở học sinh được xác định trước và không thay đổi chúng

Giáo viên bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng để ra đề kiểm tra, không sử dụng

những nội dung xa lạ hoặc xa rời chương trình vào việc kiểm tra, đánh giá và được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1:Xác định mục tiêu kiểm tra

Đề kiểm tra, đánh giá yêu cầu học sinh cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái

độ Đặc biệt khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ của các em vào giải quyết các tình huống thực tế

Bước 2: Xác định hình thức kiểm tra.

Đề kiểm tra thường kết hợp giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận

Ưu điểm: Kiểm tra kiến thức học sinh trên diện rộng mà vẫn rèn được kĩ năng viết, kĩ năng trình bày vấn đề của các em

Bước 3: Thiết lập ma trận đề kiểm tra

Mạch dọc xác định kiến thức, kĩ năng, thái độ cần đạt được theo từng chủ đề

ở học sinh

Mạch ngang tăng câu hỏi phần vận dụng nhằm rèn khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ của các em vào cuộc sống (Nhận biết 30%; thông hiểu 40%; vận dụng 30%)

Bước 4: Soạn câu hỏi kiểm tra

* Soạn câu hỏi phần trắc nghiệm khách quan:

Giáo viên rút câu hỏi trắc nghiệm từ ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đã tích luỹ trong quá trình giảng dạy.Thẩm định lại từng câu trắc nghiệm khách quan theo đúng yêu cầu về nội dung đề thi và các mạch của ma trận

Ra các câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn thay vì chỉ có các câu hỏi một lựa chọn như trước đây

Trang 7

*Soạn câu hỏi phần tự luận:

Giáo viên lấy câu hỏi tự luận trong ngân hàng đề đã tích lũy trong các giờ học Thẩm định lại từng câu theo đúng nội dung đề thi và các mạch của ma trận

Theo đúng quy luật nhận thức thì quá trình nhận thức bao giờ cũng phải đi

từ biết mới đến hiểu, mà có hiểu thì mới vận dụng được Vì vậy đề kiểm tra theo hướng tiếp cận năng lực phần “ đóng” vẫn phải có và thêm phần “ mở”

* Phần “đóng” có hai mức độ:

- Mức độ biết: Kiểm tra kiến thức cơ bản trong chương trình, sách giáo khoa

nhưng không kiểm tra ghi nhớ máy móc Mức độ này tập trung vào những phần trọng tâm cơ bản

- Mức độ hiểu: Kiểm tra hiểu biết của học sinh Ở mức độ này đòi hỏi học

sinh phải hiểu bản chất sự kiện, hiện tượng (phần kiến thức trọng tâm cơ bản), chính là kiểm tra sự sáng tạo, năng động trong hoạt động nhận thức Vì vậy, bài viết không nên chỉ là câu hỏi yêu cầu học thuộc lòng, mà có thể là bài tập tình huống, bài tập trắc nghiệm khách quan, một sự kiện để các em nhận xét, đánh giá, liên hệ, tự tìm ra cách ứng xử, cách giải quyết của bản thân hay của người khác

* Ra đề theo hướng “mở”

Đây là những câu hỏi thú vị yêu cầu học sinh hiểu bản chất vấn đề, không cần phải học thuộc các em huy động tổng hợp vốn sống, kinh nghiệm, sự hiểu biết của mình để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống, biết rút ra những bài học kinh nghiệm Kiểu đề thi mở này giúp học sinh có cơ hội thể hiện bản thân, giúp các em bộc lộ những suy nghĩ khác người khác, sáng tạo, tự tin góp phần hình thành những năng lực, phẩm chất được mong đợi của một công dân toàn cầu

Bước 5: Ra đề kiểm tra:

Hầu hết phần tự luận của đề kiểm tra đều là những câu hỏi ứng xử, vận dụng lí thuyết đã học và kinh nghiệm thực tế để giải quyết tình huống đã hình thành năng lực học sinh giảm thiểu sự quay cóp, chép bài của nhau Học sinh hiểu biết thêm nhiều điều từ đời sống thực tế sau khi học và làm bài môn GDCD

Kiểm tra, đánh giá học sinh học như thế nào, có biết vận dụng không, yêu cầu vận dụng là quan trọng nhất, tránh dừng lại ở lý thuyết suông, khắc phục hiện tượng tách rời nhận thức với hành vi, lời nói với việc làm, coi trọng bồi dưỡng tình cảm hứng thú, tự giác học tập mở mang hiểu biết để điều chỉnh hành vi, thái độ tuân thủ pháp luật, tự giác tham gia các hoạt động xã hội của các em

Bước 6: Ra đáp án và hướng dẫn chấm:

Vì đề mở nên khi xây dựng đáp án và biểu điểm cho đề kiểm tra, đánh giá cần phải chú ý có thể có nhiều phương án trả lời khác nhau cho một câu hỏi Để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, giáo viên cần tôn trọng các phương

án giải quyết các vấn đề, các cách diễn đạt khác nhau, không bắt buộc học sinh phải trả lời hoàn toàn như trong đáp án mà chỉ cần đảm bảo đúng và đủ ý

Bước 7: Không sử dụng bất kì tài liệu nào, không có đáp án và thang điểm,

trực tiếp giải chi tiết đề kiểm tra (có bấm giờ) Sau đó chỉnh sửa nội dung đề kiểm tra, đáp án, thang điểm, độ khó, độ dài của từng đề

Bước 8: Coi kiểm tra nghiêm túc.

Kiểm tra không thể làm bài tập thể, không thể gian lận

Bước 9: Chấm bài

Trang 8

Chấm bài phải phê động viên sự cố gắng tiến bộ của học sinh và nhận xét khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ vào đời sống

Chấm bài kiểm tra phải khuyến khích sự sáng tạo của các em tránh học vẹt, học tủ….tập trung rèn luyện các kỹ năng cho các em

Việc cho điểm có thể kết hợp giữa đánh giá kết quả bài làm với theo dõi sự

cố gắng, tiến bộ của học sinh và thái độ làm bài (Công bố công khai trước học trò vẫn đảm bảo tính chính xác, khách quan trong việc đánh giá kết quả học tập của các em)

Bước 10: Trả bài

Khi trả bài công bố công khai đáp án, thang điểm hướng dẫn học sinh tự đánh giá năng lực của mình và đánh giá bạn

Hoạt động tự đánh giá xảy ra khi một học sinh nhận lại bài kiểm tra của mình từ giáo viên hoặc sau khi các em trao đổi bài viết với bạn Khi đọc bài kiểm tra của bạn cùng với việc đọc những lời nhận xét của giáo viên và bạn cùng lớp về bài viết của mình, các em sẽ có sự tự đánh giá về mình Tự đánh giá bản thân không chỉ thể hiện năng lực tư duy mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệm với công việc của chính mình

Học sinh có thể thực hiện việc đánh giá lẫn nhau thông qua hoạt động trao đổi bài viết cho nhau và đánh giá bài viết của bạn Sau đó các em sẽ nhận lại bài viết của mình và các em có thể trao đổi với bạn về bài viết của mình

Bước 11: Thu thập thông tin phản hồi:

Trả bài xong thu thập thông tin phản hồi từ học sinh Thông tin phản hồi chính là những căn cứ vững chắc giúp giáo viên phát hiện những ưu, nhược điểm của học sinh để kịp thời có biện pháp uốn nắn điều chỉnh và kịp thời động viên sự tiến bộ của các em Giúp giáo viên điều chỉnh quá trình giảng dạy, nâng cao trình

độ, nghệ thuật sư phạm của mình

Thông tin phản hồi giúp học sinh biết tự đánh giá kết quả học tập, phân biệt được đúng sai, tìm ra nguyên nhân để tự khắc phục, rèn luyện kĩ năng tư duy độc lập, khả năng tự học của học sinh

Ưu điểm của đề kiểm tra theo hướng tiếp cận năng lực học sinh: Đề kiểm

tra, đánh giá yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh; đánh giá học sinh qua việc các em vận dụng năng lực của mình để giải quyết các vấn đề thực tế Kết quả cuối cùng hình thành được năng lực phẩm chất của học sinh

*KIỂM TRA THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC HỌC SINH

(minh họa).

Bước 1: Mục đích đề kiểm tra

Đề kiểm tra này nhằm kiểm tra nhận thức của học sinh về kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh từ bài 1 đến hết bài 3 trong học ki I lớp 12; kiểm tra khả năng vận dụng các năng lực ấy vào giải quyết những vấn đề trong cuộc sống đặt ra

Bước 2: Yêu cầu đề kiểm tra

1 Về kiến thức:

- Nêu được khái niệm, bản chất của pháp luật

Trang 9

- Hiểu được đặc trưng vai trò của pháp luật đối với đời sống của mỗi cá nhân, nhà nước và xã hội

- Nêu được khái niệm thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật, các loại vi phạm pháp luật và trácg nhiệm pháp lí

- Hiểu được các hình thức thực hiện pháp luật; các hành vi vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý

- Hiểu được thế nào là công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lí

2 Về kĩ năng:

Biết cách thực hiện pháp luật phù hợp với lứa tuổi

3 Về thái độ:

Ủng hộ những hành vi thực hiện đúng pháp luật và phê phán những hành vi làm trái các quy định của pháp luật

Bước 3: Những năng lực mà đề kiểm tra hướng tới đánh giá

Năng lực tự học; năng lực tư duy phê phán, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo; năng lực tự nhận thức, tự điều khiển hành vi phù hợp với pháp luật

Bước 4: Hình thức kiểm tra

Kết hợp trắc nghiệm khách quan và tự luận: trắc nghiệm khách quan70 %; tự luận 30%

Bước 5: Thiết lập ma trận

Tên

chủ đề Nhận biết Thông hiểu

Vận dụng

Cộng

Cấp độ thấp Cấp độ cao Chủ đề TNKQ T

L

L

T N K Q

KQ

TL

1 Pháp

luật và

đời

sống

Nêu được

khái

niệm, bản

chất của

pháp luật

Hiểu được mối quan

hệ của pháp luật

- Đặc trưng, Vai trò của pháp luật

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ: %

3

0,75

0,75%

3 0,75 0,75%

6 1,5 15%

2 Thực

hiện

pháp

luật

Nêu

được khái

niệm thực

hiện pháp

luật; vi

phạm

Xác định đúng được các hình thức thực hiện pháp luật; các

Trang 10

pháp luật;

các loại vi

phạm

pháp luật

và trách

nhiệm

pháp lí

hành vi vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý trong tình huống cụ thể

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ: %

7

1,75

17,5%

13 3,25 32,5%

20 5,0 50%

3 Công

dân

bình

đẳng

trước

pháp

luật

Nêu được

thế nào là

công dân

bình đẳng

về quyền

và nghĩa

vụ; công

dân bình

đẳng về

trách

nhiệm

pháp lí

Vận dụng để

xử lí tình huống bình đẳng về quyền

và nghĩa

vụ gia đình

Có cách ứng xử thực hiện quyền bình đẳng của công dân trong gia đình

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ: %

2

0,5

0,5%

1 1,0 10%

1 2,0 20%

4 3,5 35% Tổng số

câu

Tổng số

điểm

Tỉ lệ: %

12

3.0

30%

16 4,0 40%

1 1,0 10%

1 2,0 20%

30 10,0 100%

Bước 6: Đề kiểm tra

Phần I: Trắc nghiệm khách quan(7 điểm)

Hãy khoanh tròn vào đáp án đúng:

Câu 1: Trong những sự việc sau đây, sự việc nào vi phạm pháp luật ?

A Anh Thắng bị phạt tù 1 năm vì che giấu tội phạm

B Bình nhận trông xe hộ Minh nhưng lại tự ý cho người khác mượn xe

C Bà Hòa bị buộc phải phá dỡ công trình xây dựng trái phép

D Ông Tư bồi thường cho đối tác vì cung cấp hàng không đúng chất lượng theo thỏa thuận

Câu 2: Pháp luật là gì?

A Hệ thống các văn bản và nghị định do các cấp ban hành và thực hiện

B Những luật và điều luật cụ thể trong thực tế đời sống

Ngày đăng: 21/10/2019, 19:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w