1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập trắc nghiệm khách quan nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn địa lí ở trường trung học phổ thông quảng xương 4

24 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 390,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệu quả của các phương pháp hướng dẫn học sinh lựa chọn đúng đáp án câu hỏi trắc nghiệm khách quan ở Trường THPT... Phương phápdạy học theo khuynh hướng đó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG 4

THPT QUẢNG XƯƠNG 4



Người thực hiện: Đoàn Thị Bíp Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực: Môn Địa lí

THANH HÓA, NĂM 2019

Trang 2

I Cơ sở lý luận chung trong kiểm tra đánh giá trắc nghiệm khách quan 3

1 Cơ sở khoa học của kiểm tra đánh giá trắc nghiệm khách quan 3

2 Ưu nhược điểm của phương pháp trắc nghiệm khách quan 5

3 Những yếu tố cần đạt đối với một số phương pháp hướng dẫn học sinh

lựa chọn đúng đáp án kiểm tra trắc nghiệm khách quan 5

4 Những yêu cầu đối với giáo viên khi hướng dẫn học sinh lựa chọn đáp

II Thực trạng học sinh làm bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan tại

1 Những yêu cầu cần thiết để học sinh lực chọn được đáp án đúng

khi làm bài kiểm tra bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 7

2.1 Tổ chức dạy học thông qua sơ đồ tư duy và tổ chức trò chơi 8

2.2 Rèn luyện kỹ năng sử dụng Atlat địa lí Việt Nam cho học sinh 9

2.3 Rèn luyện kĩ năng nhận dạng biểu đồ, nhận xét biểu đồ và bảng số

2.4 Hướng dẫn học sinh đọc và phân tích kĩ phần câu dẫn của câu

IV Hiệu quả của các phương pháp hướng dẫn học sinh lựa chọn

đúng đáp án câu hỏi trắc nghiệm khách quan ở Trường THPT

Trang 3

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nghị quyết 29-NQ/TW được Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hànhTrung ương khóa XI thông qua ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàndiện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiệnkinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nêu rõ

mục tiêu cụ thể của giáo dục phổ thông là: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn” [5].

Để thực hiện được mục tiêu đó, yêu cầu đặt ra cho ngành giáo dục hiệnnay trong giảng dạy là phải chuyển từ dạy học tiếp cận nội dung sang dạy họctheo hướng tiếp cận năng lực học sinh, theo đó người học khi tốt nghiệp ratrường có đủ năng lực, nắm vững kiến thức và kĩ năng nhằm đáp ứng yêu cầucủa xã hội cũng như thị trường lao động hiện nay

Như vậy khi thực hiện mục tiêu, chương trình, phương pháp dạy họctheo hướng tiếp cận năng lực thì đòi hỏi phải có các phương pháp kiểm trađánh giá cho phù hợp để có thể đo lường được mục tiêu giảng dạy Do đó khimục tiêu, phương pháp dạy học thay đổi, phương pháp kiểm tra đánh giá cũngphải thay đổi cho phù hợp

Về kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh,Nghị quyết 29-NQ/TW cũng đã chỉ rõ: “Đổi mới căn bản phương pháp đánhgiá chất lượng giáo dục theo hướng hỗ trợ phát triển phẩm chất và năng lựchọc sinh; phản ánh mức độ đạt chuẩn quy định trong chương trình; cung cấpthông tin chính xác, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động dạy,hướng dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực học sinh” [5]

Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học theo hướngphát huy tính tích cực, lấy học sinh làm trung tâm là một yêu cầu tất yếu đangđược các cấp quản lý và các đơn vị giáo dục đặc biệt quan tâm Phương phápdạy học theo khuynh hướng đó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới phương phápkiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh, và một trong những phươngpháp có nhiều ưu điểm nổi bật đó là phương pháp trắc nghiệm kháchquan :“Trắc nghiệm khách quan là phương pháp để kiểm tra năng lực trí tuệcủa học sinh thông qua những câu hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn Hệ thốngcâu hỏi này cung cấp cho học sinh một phần hoặc tất cả thông tin nhưng yêucầu học sinh lựa chọn một câu trả lời đúng hoặc câu trả lời tốt nhất hay điềnthêm nội dung đúng” Phương pháp kiểm tra – đánh giá kết quả học tập củahọc sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan ở trường trung họcphổ thông đối với môn Địa lí mới chỉ được áp dụng từ kì thi trung học họcPhổ thông Quốc Gia năm 2017, đây là hình thức còn khá mới lạ đối với họcsinh

Trang 4

Đối với kì thi trung học học Phổ thông Quốc Gia, trong thời gian 50phút học sinh phải hoàn thành 40 câu hỏi trắc nghiệm, như vậy các em chỉ có1,25 phút cho một câu hỏi Mặt khác phương pháp kiểm tra này có dunglượng kiến thức lớn, đề phủ kín tất cả các nội dung của môn học, trong đó cónhững câu hỏi vận dụng cao rất khó, các em phải mất khá nhiều thời gian suynghĩ mới lựa chọn được đáp án Rõ ràng để đạt được điểm cao khi làm bài thitrắc nghiệm không hề đơn giản Xuất phát từ thực trạng trên và những trăn trởcủa bản thân, tôi thiết nghĩ cần phải có những biện pháp cụ thể hướng dẫn các

em học tập tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức, đặc biệt các em phải đượctrang bi phương pháp làm bài thi trắc nghiệm khách quan để đạt kết quả cao

Từ đó tôi mạnh dạn viết đề tài: “Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập trắc nghiệm khách quan nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Địa lí ở trường trung học phổ thông Quảng Xương 4”

2 Mục đích nghiên cứu

Qua việc nghiên cứu lí luận và thực tiễn để từ đó hướng dẫn học sinhlàm các dạng bài tập trắc nghiệm khách quan đặc biệt trong kì thi THPT QuốcGia, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổimới theo mục tiêu mà Nghị quyết 29-NQ/TW đã đề ra

3 Đối tượng nghiên cứu

Các kinh nghiệm, biện pháp nhằm phát huy tính chủ động, tích cực,sáng tạo của học sinh trong học tập đặc biệt trong làm các dạng bài tập trắcnghiệm khách quan

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm đã được sử dụng các phương pháp sau

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Sử dụng các phương pháp phân tích,tổng hợp để nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp quan sát,đánh giá thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm giảng dạy, nắm bắt thông tin

- Phương pháp thống kê toán học

Trang 5

B.PHẦN NỘI DUNG

I.CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG TRONG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRẮC

NGHIỆM KHÁCH QUAN

1 Cơ sở khoa học của việc kiểm tra – đánh giá trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan theo nghĩa rộng là một phép lượng giá cụ thểmức độ, khả năng thể hiện hành vi trong lĩnh vực nào đó của một người cụ thểnào đó.[4]

Phương pháp trắc nghiệm khách quan là một trong những dạng trắcnghiệm viết, kỹ thuật trắc nghiệm này được dùng phổ biến để đo lường năng lựccủa con người trong nhận thức, hoạt đông và cảm xúc Phương pháp trắc nghiệmkhách quan đã được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực như y học, tâm lý, giáodục ở nhiều nước.[4]

Trong lĩnh vực giáo dục, trắc nghiệm khách quan đã được sử dụng rất phổbiến tại nhiều nước trên thế giới trong các kỳ thi để đánh giá năng lực nhận thứccủa người học, tại nước ta trắc nghiệm khách quan được sử dụng trong các kỳthi tuyển sinh cao đẳng, đại học và làm các bài kiểm tra thường xuyên, định kì

và kết thúc học kì

Trắc nghiệm khách quan là phương pháp để kiểm tra đánh giá năng lực,trí tuệ của học sinh thông qua những câu hỏi kèm theo câu trả lời sẵn Hệ thốngcâu hỏi này cung cấp cho học sinh một phần hoặc tất cả thông tin nhưng yêu cầuhọc sinh lựa chọn một câu trả lời đúng hoặc câu trả lời tốt nhất hay điền thêmnội dung đúng, cụ thể trắc nghiệm khách quan bao gồm năm dạng chính sauđây:

a) Câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn

Câu trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn (hay câu hỏi nhiều lựachọn) là loại câu được ưa chuộng nhất và có hiệu quả nhất Một câu hỏi loại nàythường gồm một phần phát biểu chính, thường gọi là phần dẫn (câu dẫn) hay câuhỏi, và bốn, năm hay phương án trả lời cho sẵn để học sinh tìm ra câu trả lờiđúng nhất trong nhiều phương án trả lời có sẵn

* Ưu điểm:

- Với sự phối hợp của nhiều phương án trả lời để chọn cho mỗi câu hỏi,giáo viên có thể dùng loại câu hỏi này để KT-ĐG những mục tiêu dạy học khácnhau, chẳng hạn như

+ Xác định mối tương quan nhân quả

+ Nhận biết các điều sai lầm

+ Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau

+ Định nghĩa các khái niệm

+ Tìm nguyên nhân của một số sự kiện

+ Nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều vật

+ Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện

+ Xác định thứ tự hay cách sắp đặt giữa nhiều vật

+ Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm

Trang 6

- Tốn kém giấy mực để in và mất nhiều thời gian để học sinh đọc nộidung câu hỏi.

b) Câu trắc nghiệm "đúng- sai"

Là câu trắc nghiệm yêu cầu người làm phải phán đoán đúng hay sai vớimột câu trần thuật hoặc một câu hỏi, cũng chính là để học sinh tuỳ ý lựa chọnmột trong hai đáp án đưa ra

* Ưu điểm:

- Đây là loại câu đơn giản nhất để trắc nghiệm kiến thức về những sựkiện, mặc dù thời gian soạn cần nhiều công phu nhưng lại khách quan khi chấmđiểm

- Có thể khảo sát được nhiều mảng kiến thức của học sinh trong mộtkhoảng thời gian ngắn

c) Câu trắc nghiệm ghép đôi: (xứng – hợp)

Đây là loại hình đặc biệt của loại câu câu hỏi nhiều lựa chọn, trong loạinày có hai cột gồm danh sách những câu hỏi và câu trả lời Dựa trên một hệ thứctiêu chuẩn nào đó định trước, học sinh tìm cách ghép những câu trả lời ở cột nàyvới các câu hỏi ở cột khác sao cho phù hợp Số câu trong hai cột có thể bằngnhau hoặc khác nhau Mỗi câu trong cột trả lời có thể được dùng một lần haynhiều lần để ghép với một câu hỏi

* Ưu điểm:

- Câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng loại này thích hợp với học sinh cấpTHCS Có thể dùng loại câu hỏi này để đo các mức trí năng khác nhau Nóthường được xem như hữu hiệu nhất trong việc đánh giá khả năng nhận biết các

hệ thức hay lập các mối tương quan

- So với một số loại trắc nghiệm khác thì đỡ giấy mực, yếu tố may rủigiảm đi

Trang 7

d) Câu trắc nghiệm điền khuyết

Đây là câu hỏi TNKQ mà học sinh phải điền từ hoặc cụm từ thích hợp vớicác chỗ để trống Nói chung, đây là loại TNKQ cóa câu trả lời tự do

* Nhược điểm:

- Khi soạn loại câu này thường dễ mắc sai lầm là người soạn thường tríchnguyên văn các câu từ SGK Ngoài ra loại câu hỏi này thường chỉ giới hạn vàochi tiết vụn vặt chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn nhữngdạng câu hỏi TNKQ khác

- Thiếu yếu tố khách quan lúc chấm điểm, mất nhiều thời gian chấm,không áp dụng được các phương tiện hiện đại trong kiểm tra- đánh giá

e) Câu hỏi bằng hình vẽ (kênh hình)

- Trên hình vẽ sẽ cố ý để thiếu hoặc chú thích sai yêu cầu học sinh chọnmột phương án đúng hay đúng nhất trong số các phương án đã đề ra, bổ sunghoặc sửa chữa sao cho hoàn chỉnh

- Sử dụng loại câu hỏi này để kiểm tra kiến thức thực hành như: kĩ năngquan sát bảng số liệu, biểu đồ, kĩ năng sử dụng atlat địa lí Việt Nam

Như vậy có nhiều loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan, mỗi loại có những

đặc điểm và công dụng riêng tuy nhiên chung quy lại chúng có một số ưu,nhược điểm nhất định

2 Ưu, nhược điểm của phương pháp trắc nghiệm khách quan

a, Ưu điểm

- Dung lượng kiến thức lớn , đề thi phủ kiến được nhiều kiến thức trongnội dung môn học từ đơn giản đến phức tạp, từ nội dung cụ thể đến kiến thứctổng quát, so sánh

- Trong một thời gian ngắn kiểm tra được một phạn vi kiến thức rộng, dovậy tránh được tình trạng học tủ, học đối phó của học sinh

- Rèn luyện tư duy độc lập và khả năng phán đoán của học sinh

b) Nhược điểm

- Dễ gây tình trạng đoán mò, chọn mò cho học sinh khi không nắm chắckiến thức

- Không phát triển được tư duy sáng tạo cho học sinh

- Hạn chế trong việc rèn luyện kĩ năng viết, tư duy, lập luận logich, trìnhbày một vấn đề

- Hạn chế trong việc đánh giá kết quả nhận thức thái độ của học sinh đốivới thế giới quan, nhân sinh quan

3 Những yếu tố cần đạt đối với một số phương pháp hướng dẫn học sinh lựa chọn đúng đáp án kiểm tra trắc nghiệm khách quan

Trang 8

Để học sinh lựa chọn được đáp án đúng trong kiểm tra trắc nghiệm khách

quan, yêu cầu cần thiết khi giáo viên hướng dẫn học sinh phải đạt được như sau:

- Tránh việc để học sinh lựa chọn đáp án theo xác suất nghĩa là trong số

40 câu hỏi, học sinh không được phép làm bài theo kiểu chọn 5 đáp án A rồ lạiđến 5 đáp án, rồi lại đến C, đến D và quay vòng trở lại, kiểu làm bài như vậy rất

dễ dẫn đến tình trạng học sinh bị điểm liệt

- Học sinh không được lựa chọn đáp án theo cảm tính, thích đáp án nàothì chọn cái đó

- Học sinh phải chọn đáp án dựa trên cơ sở kiến thức đã được tiếp thu vàlĩnh hội, có sự tư duy logich, biết lập luận, so sánh, phân tích, vận dụng kiếnthức một cách tổng hợp để trả lời các câu hỏi khó

4 Những yêu cầu đối với giáo viên khi hướng dẫn học sinh lựa chọn đáp án trắc nghiệm khách quan

- Để học sinh có thể hiểu, chọn được đáp án đúng khi làm bài thi , bàikiểm tra bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan, giáo viên cần cho học sinh làmquen với hệ thống câu hỏi trắc nghiệm, biết được ưu điểm và ích lợi của nó,phải hiểu hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan mang tính bao quát toàn bộnội dung kiến thức, không tập trung vào nội dung trọng tâm giống như kiểm tra

tự luận trước đây, giáo viên phải hiểu được số câu và tỉ lệ phần trăm tương ứngcho từng nội dung kiến thức của chương trình học từ đó có biện pháp hướngdẫn, định hướng phù hợp cho học sinh.Giáoviên cần nắm chắc các dạng trắcnghiệm khách quan để hướng dẫn cho các em cách lam bài đối với từng dạngcâu hỏi phải rèn luyện được kĩ năng làm bài và tiếp cận kiến thức chủ động, tíchcực sáng tạo cho học sinh

Giáo viên phải hiểu đề thi gồm 4 mức độ ( nhận biết, thông hiểu, vậndụng và vận dụng cao) đi từ đơn giản đến phức tạp, độ khó tăng dần Trong đó: + Nhận biết: yêu cầu học sinh phải nhắc lại hoặc mô tả đúng kiến thức, kĩnăng đã học

+ Thông hiểu: Học sinh biết phân tích, so sánh, áp dụng trực tiếp kiến thức,

kĩ năng đã biết để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập

+ Vận dụng: Học sinh phải kết nối và sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đãhọc để giải quyết thành công tình huống, vấn đề tương tự tình huống, vấn đề đãhọc

+ Vận dụng cao: yêu cầu học sinh vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đểgiải quyết các tình huống, vấn đề mới không giống với vấn đề, tình huống

đã được hướng dẫn, đưa ra những phản hồi hợp lí trước một tình hướng, vấn đềmới trong học tập hoặc trong cuộc sống

II THỰC TRẠNG HỌC SINH LÀM BÀI KIỂM TRA TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TẠI TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG 4

Trước hết, là thực tế của cuộc vận đông đổi mới phương pháp mà ngànhgiáo dục đã và đang tiến hành một cách rộng rãi và đã thu được những kết quảthiết thực, trong đó việc đổi mới kiểm tra,đánh giá học sinh rất được chú ý Đặcbiệt là qua đợt tập huấn về đổi mới phương pháp ạy học và kiểm tra đánh giá

Trang 9

học sinh tại trường do chính đồng chí hiệu trưởng nhà trường truyền đạt, trongquá trình chỉ đạo chuyên môn, ban giám hiệu nhà trường luôn coi trọng và đềcao vấn đề đổi mới phương pháp, sử dụng các kĩ thuật mới trong dạy học, đíchthân ban giám hiệu đã gương mẫu đi đầu trong việc sử dụng các phương pháp và

kĩ thuật dạy học và kiểm tra đánh giá tích cực thông qua các tiết kiểm tra 1 tiết,học kì và các lần thi khảo sát chất lượng các môn thi trung học phổ thông quốcgia do trường, sở GDĐT tổ chức

Cũng xuất phát từ thực tế kết quả các bài kiểm tra, bài thi của học sinh tôi

và đồng nghiệp trong nhà trường nói chung và trong môn Địa lí nói riêng thấyrằng cần có sự đổi mới trong phương pháp trang bị kiến thức, kĩ năng và cáchlàm bài của học sinh để nâng cao hiệu quả giáo dục và kết quả học tập Nhưngviệc áp dụng đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trắc nghiệm khách quancòn nhiều mới mẻ và bỡ ngỡ, lúng túng, cần có sự phối hợp nghiên cứu và bổ trợthêm, đồng thời cần được tiến hành một cách phổ biến thường xuyên hơn Đặcbiệt hơn, một số đồng nghiệp và học sinh còn coi nhẹ vấn đề đổi mới phươngpháp kiểm tra đánh giá trắc nghiệm khách quan, coi đó như là phương phápkiểm tra đơn giản, giáo viên không phải mất nhiều thời gian khi chấm bài, giáoviên đục lỗ đáp án theo mã đề thi và cũng có thể vừà xem tivi vừa chấm đượcbài thi.Với học sinh đa phần các em tỏ ra hứng thú khi làm bài thi trắc nghiệm vìcác em không cần phải trình bày, diễn đạt, không lo chữ xấu, viết sai chínhtả vv đặc biệt hơn các em đều hoàn thành xong bài thi, có nghĩa các em tô hếtcác câu hỏi trong phiếu làm bài, có những lần xem thi tôi quan sát thấy nhiều

em không chịu đọc đề, không suy nghĩ, bởi có đọc các em cũng chẳng biết đáp

án nào là đúng nhất trong 4 đáp án có nội dung gần giống nhau đó và chỉ cầncòn lại khoảng thời gian 5 phút các em cũng có thể tô xong đáp án theo cách lựachọn cảm tính, tô đại, ăn may vv Những vấn đề trên tôi thiết nghĩ cũng làthực trạng chung của hầu hết các trường hiện nay, vì thế thông qua đề tài này tôikhông những muốn đem đến những thay đổi trong suy nghĩ và hành động củacác đồng nghiệp trong nhà trường mà còn muốn chia sẻ kinh nghiệm với bạn bèđồng nghiệp gần xa

III GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1.Những yêu cầu cần thiết để học sinh lựa chọn được đáp án đúng khi làm bài kiểm tra bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Trước hết, để có những giải pháp tốt cho vấn đề này, ta cần xác định đượcphương pháp kiểm tra, đánh giá trắc nghiệm khách quan được dùng trong trườnghợp nào và cần điều kiện gì để học sinh làm bài đạt kết quả cao?

Trước tiên giáo viên phải chuẩn bị một cách công phu hệ thống câu hỏi trắc

nghiệm, phải hiểu qui trình xây dựng hình thức trắc nghiệm khách quan gồmnhững bước nào và từ đó mới hướng dẫn cho học sinh các phương pháp làm bàiđạt hiệu quả Qui trình xây dựng hình thức trắc nghiệm khách quan gồm cácnhiều bước Các bước đó phải phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của họcsinh trong học tập đặc biệt trong kiểm, đánh giá bằng phương pháp trắc nghiệmkhách quan

Trang 10

a) Chuẩn bị câu hỏi trắc nghiệm: Quá trình này buộc giáo viên phải nắm được

một số yêu cầu chung, xong cũng phải phù hợp với đối tượng và khả năng thựchiện Lưu ý về các loại câu hỏi trắc nghiệm Câu hỏi trắc nghiệm yêu cầu độchính xác, tính khoa học cao vì vậy khi chuẩn bị các câu hỏi trắc nghiệm đồngthời giáo viên cũng đưa ra được câu trả lời đúng Tránh tình trạng giáo viêncoppy câu hỏi trên mạng xuống không kiểm tra kĩ càng dẫn tới tình trạng mộtcâu hỏi có nhiều đáp án có thể chấp nhận được hoặc câu hỏi không chính xác vềkiến thức, kĩ năng dẫn đến học sinh không chọn được đáp án cho câu hỏi vv

b) Ra đề: Tùy thời gian của tiết kiểm tra đánh giá mà xác định số lượng câu hỏi,

các dạng câu hỏi cho một đề Trong một đề nên có cả các dạng câu trắc nghiệmkhách quan Sau khi ra đề giáo viên nên tập hợp hệ thống câu hỏi thành một số

đề khác nhau cho cung một lớp đối tượng học sinh và in đề cho học sinh nhưvậy sẽ đánh giá được khách quan học sinh

c) Tiến hành kiểm tra: Ở khâu này đòi hỏi giáo viên phải quan sát, kiểm tra chặt

chẽ khi học sinh làm bài, tránh để học sinh nhìn bài nhau để đảm bảo được tính

khách quan, độc lập cho học sinh

2 Những phương pháp cụ thể

2.1 Tổ chức dạy học thông qua sơ đồ tư duy và tổ chức trò chơi

Môn Địa lí với lượng kiến thức lớn lại liên quan nhiều đến thực tế luôn

hấp dẫn nhưng cũng là thách thức với những ai lựa chọn nó Hơn 10 năm giảngdạy bộ môn, tôi nghĩ rằng, muốn học sinh làm bài trắc nghiệm tốt, các em phảithực sự hiểu nội dung các bài học, hiểu vấn đề Với mục tiêu này, cách làm củatôi là hướng dẫn, khuyến khích các em lập sơ đồ tư duy Mỗi buổi học, học sinh

sẽ được gợi ý lựa chọn các từ khóa trong sách giáo khoa và sắp xếp kiến thứcliên quan theo các sơ đồ để dễ nhìn, dễ học Đây là một phương pháp kích hoạtnão của các em hiệu quả, buộc các em phải tư duy và ghi nhớ: Ghi nhớ kiếnthức, thông tin, số liệu địa lí bằng chính tư duy của mình để tự tin và đạt kết quảcao hơn trong các kì thi

Và để các em không cảm thấy nhàm chán khi mỗi tiết học phải luyện tập các đềthi trắc nghiệm trên giấy, tôi tổ chức trò chơi như : “Rung chuông vàng, Ainhanh hơn” Cả lớp sẽ trả lời các câu hỏi trắc nghiệm với 4 đáp án Các câu hỏinày lần lượt đi từ dễ đến khó và sẽ loại dần các thành viên trả lời sai để tìm rangười chiến thắng cuối cùng Trò chơi Ai nhanh hơn được áp dụng cho kỹnăng khai thác Atlat Học sinh sẽ nhìn vào Atlat và trả lời nhanh các câu hỏi:

Ví dụ: Tỉnh nào ở trung du miền núi Bắc bộ vừa có đường biên giới vừa

có đường bờ biển? Sông nào có diện tích lưu vực lớn nhất? Vùng nào có sảnlượng thủy sản cao nhất? Với sự hưởng ứng nhiệt thành từ học trò, giáo viên tổchức các cuộc thi sáng tạo câu hỏi trắc nghiệm Với mỗi chủ đề bài học, hướngdẫn các em tự ra các câu hỏi trắc nghiệm dựa trên các từ chìa khóa trong sáchgiáo khoa Các câu hỏi này sẽ được đưa ra cho các bạn trong lớp cùng trả lờidưới dạng cuộc thi, giúp các em nhớ từ khóa, thông hiểu và vận dụng kiến thức

đã được học

Trang 11

Bởi vậy, không khí tĩnh lặng, có phần nặng nề theo cách dạy nghe – đọc –chép truyền thống đã không còn Với phương pháp truyền đạt mới của lớp họctrở nên sôi nổi, hào hứng Mọi cử chỉ, lời nói đều rất thoải mái, các em được tự

do phát huy tính cá tính, bản lĩnh cá nhân và sự sáng tạo của riêng mình, từ đóhiểu và nắm vững nội dung bài học theo đặc điểm riêng Theo tôi thông quacách dạy này 100% học trò trong lớp đều nắm bắt tốt bài học với sự hỗ trợ củabản đồ ghi nhớ, sơ đồ tư duy và các trò chơi

2.2 Rèn luyên kĩ năng sử dụng Atlat địa lí Việt Nam cho học sinh

Trong đề thi số lượng câu hỏi atlat tương đối nhiều khoảng 10 câu, hơnnữa có những câu không yêu cầu sử dụng atlat nhưng nếu có kĩ năng khai thácatlat sẽ giúp cho học sinh chọn được đáp án của câu hỏi vì vậy việc rèn luyện kĩnăng sử dụng Atlat địa lí Việt Nam hiệu quả để đạt điểm tối đa cho phần câu hỏinày là điều cần thiết và cần hướng dẫn học sinh có được kĩ năng sự dụng Atlatthuần thục

a Nắm chắc các kí hiệu trong chú thích của Atlat

Học sinh cần nắm chắc các kí hiệu chung về địa hình, khoáng sản, nôngnghiệp, công nghiệp, lâm- ngư nghiệp ở trang 3 của quyển Atlat vì một số bản

đồ trong Atlat không in chú thích kèm theobanr đồ như bản đồ khoáng sản trang

8, bản đồ công nghiệp chung trang 21, nông – lâm nghiệp trang 18, 19 Việcnắm được kí hiệu chung sẽ giúp cho các em tiết kiệm được thời gian , đọc đượcthông tin trên bản đồ một cách nhanh chóng từ đó sẽ đạt hiệu quả cao trong bàithi của mình

b Nắm được cấu trúc của Atlat địa lí Việt Nam

Cấu trúc theo sách giáo khoa địa lí 12 và Atlat tương tự như nhau Nếusách SGK địa lí 12 được cấu trúc thành 4 đơn vị kiến thức cơ bản là: Địa lí tựnhiên, Địa lí dân cư, Địa lí các ngành kinh tế, Địa lí các vùng kinh tế thì Atlatđịa lí Việt Nam cũng được cấu trúc tương tự như vậy

Trong Atlat địa lí Việt Nam chia thành:

Phần 1: Địa lí tự nhiên ( từ trang 4 đến trang 14 )

Phần 2: Địa lí dân cư ( từ trang 15 đến trang 16 )

Phần 3: Địa lí các ngành kinh tế ( từ trang 17 đến trang 25 )

Phần 4: Địa lí các vùng kinh tế ( từ trang 26 đến trang 30 )

Việc làm này giúp tổng hợp kiến thức một các khoa học hơn cho cả nhữngcâu hỏi của phần lí thuyết và tiết kiệm được thời gian làm bài

c Biết khai thác biểu đồ có trong các bản đồ của Atlat địa lí Việt Nam

Thông thường mỗi bản đồ ngành kinh tế đều có từ 1- 2 biểu đồ ( cột,đường, tròn, miền ) bên cạnh thể hiện sự tăng, giảm về giá trị tổng sản lượng,

về diện tích đối với các ngành nông – lâm nghiệp của các ngành kinh tế Họcsinh cần biết cách khai thác các biểu đồ trong các bài có liên quan để đỡ phảinhớ nhiều số liệu trong phần lí thuyết

Ví dụ: Có câu hỏi trắc nghiệm như sau

Trong cơ cấu kinh tế theo ngành của Đồng bằng sông Hồng hiện nay

A ngành dịch vụ chiếm tỉ trọng cao nhất

Trang 12

B ngành nông – lâm – ngư nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất

C ngành công nghiệp- dịch vụ chiếm tỉ trọng cao nhất

D ngành công nghiệp- dịch vụ chiếm tỉ trọng thấp nhất

Với câu hỏi này để đỡ phải nhớ số liệu và chắc chắn đáp án chọn là đúnghọc sinh có thể dựa vào biểu đồ trong bản đồ Atlat trang 26 vùng kinh tế

Như vậy bằng cách này học sinh sẽ lựa chọn được đúng đáp án cho phầncâu hỏi.``

d Đọc kĩ câu hỏi và áp dụng vào Atlat

Tất cả các câu hỏi có yêu cầu trình bày về phân bố sản xuất hoặc yêu cầunói rõ ngành đó ở đâu, vì sao ở đó đều có thể dùng bản đồ của Atlat để trả lời.Các câu hỏi có yêu cầu trình bày tình hình phát triển sản xuất hoặc quá trìnhphát triển của ngành này hay ngành khác, học sinh cũng có thể tìm thấy một vài

số liệu ở các biểu đồ trong Atlat

Ví dụ: Câu hỏi về sự tăng của khách du lich thuộc về nhóm khách nào? Học sinh

sẽ khai thác được kiến thức từ biểu đồ trong bản đồ Atlat trang 25- Du lich và trảlời được đó là khách nội địa vv

e Biết sử dụng đủ số bản đồ trong Atlat cho một câu hỏi

Trên cơ sở nội dung câu hỏi cần xem phải trả lời một vấn đề hay nhiềuvấn đề, học sinh có thể xác dịnh những trang bản đồ trong Atlat cần thiết dựavào vào phần mục lục cuối cuốn trang 31

Những câu trắc nghiệm chỉ cần dùng một trang bản đồ của Atlat để trả lờinhư: phân bố tài nguyên khoáng sản ở nước ta? Với câu này chỉ sử dụng bản đồĐịa chất- khoáng sản trang 8 là đủ, hoặc câu phân bố dân cư nước ta? Chỉ cầndùng một bản đồ Dân số trang 15 là đủ Tuy nhiên lại có những câu phải dùngnhiều trang Atlat Ví dụ khi đánh giá tiềm năng của một ngành như ngành côngnghiệp năng lượng, học sinh không những chỉ sử dụng bản đồ khoáng sản đểthấy khả năng phát triển các mnganhf công nghiệp mà còn sử dụng bản đồ côngnghiệp để thấy vai trò của ngành với các ngành khác và sử dụng bản đồ sôngngòi để thấy tiềm năng phát triển thủy điện

2.3 Rèn luyên kĩ năng nhận dạng biểu đồ, nhận xét biểu đồ, bảng số liệu

Các câu hỏi về bảng số liệu, biểu đồ học sinh thường gặp ở 2 dạng yêucầu, thứ nhất là từ bảng số liệu, học sinh phải chọn được dạng biểu đồ thích hợp

để thể hiện các đối tượng đã cho, thứ 2 là phải chọn được nhận xét đúng hoặckhông đúng của câu trắc nghiệm từ bảng số liệu, biểu đồ, phải trả lời được câuhỏi biểu đồ thể hiện nội dung nào Vậy để học sinh làm chắc dạng câu hỏi nàytheo kinh nghiệm bản thân tôi cần rèn luyện vững cho học sinh hai kĩ năng sau:

Thứ nhất phải trang bị cho học sinh kĩ năng nhận dạng biểu đồ Học sinhphải nắm được 5 dạng biểu đồ cơ bản gồm biểu đồ cột, đường biểu diễn, tròn,miền và kết hợp Để chọn đúng được biểu đồ cho yêu cầu câu hỏi học sinh cầncăn cứ vào 2 yếu tố đó là yêu cầu của đề bài và bảng số liệu

Biểu đồ cột: khi đề bài yêu cầu thể hiện tình hình, sổ lượng, khối lượng,

so sánh, giá trị của đối tượng, nếu chỉ có một đối tượng một đại lượng thì chọncột đơn, từ lớn hai đố tượng , hai đại lượng và giữa chúng độc lập nhau thì chọn

Ngày đăng: 21/10/2019, 19:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w