Mục đích nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Nhận thấy rõ tầm quan trọng của hệ thống kênhhình trong dạy và học Địa lí, bản thân tôi là một giáo viên Địa lí, trực tiếp giảngdạy chương trì
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NHƯ THANH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THIẾT KẾ, CHẾ TẠO CÁC DỤNG CỤ THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN
ĐỂ DẠY HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH
VẬY LÝ 11 Ở TRƯỜNG THPT NHƯ THANH.
Người thực hiện: Lê Thị Hoa Chức vụ: Giáo viên - TTCM SKKN thuộc môn: Vật lý
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NHƯ THANH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC
ĐỊA LÍ LỚP 11 Ở TRƯỜNG THPT NHƯ THANH.
Người thực hiện: Lê Văn Tư Chức vụ: Giáo viên - TTCM SKKN thuộc môn: Địa lý
THANH HOÁ NĂM 2017
Trang 21 MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Kênh hình trong SGK Địa lí THPT nói chung bao gồm các bản đồ, lược
đồ, biểu đồ, sơ đồ và các hình ảnh Bản thân các kênh hình đó không chỉ cótác dụng minh hoạ làm cho sách sinh động hơn, trực quan hơn, mà nó còn nhằmtái tạo, bổ sung, khắc sâu nội dung cho kênh chữ, giúp học sinh tiếp thu kiếnthức một cách trọn vẹn Ngoài ra, kênh hình còn là một trong những phươngtiện quan trọng nhằm tạo biểu tượng, phát huy tính tích cực của học sinh tronghọc tập, nó là một kênh khai thác kiến thức Địa lí rất hữu ích
Tuy nhiên, thực tế giảng dạy ở trường THPT qua nhiều năm cho tôi thấyhầu hết giáo viên đã có hướng khai thác các kênh hình trong sách giáo khoa vàodạy học Địa lí, nhưng hiệu quả nhìn chung còn nhiều hạn chế Giáo viên chưakhai thác hết kiến thức tiềm ẩn trong các kênh hình đó Chính vì vậy mà khảnăng đạt hiệu quả cao trong 1 tiết giảng dạy còn hạn chế
Mặt khác, điều kiện thực tế của Nhà trường khá tốt, cơ sở vật chất tươngđối đầy đủ, các phương tiện dạy học như tranh ảnh, bản đồ các nước, châu lụcphục vụ cho dạy học Địa lí 11 có nhiều Do đó, để nâng cao hiệu quả giảng dạy
và khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất của Nhà trường, bản thân tôi đã nghiêncứu rút ra kinh nghiệm cho bản thân để đi đến ứng dụng cho tất cả giáo viênĐịa lí trong trường có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất lớn
Thực tế, qua một năm triển khai đề tài trong bộ môn địa lí ở trường tôi đãđạt được hiệu quả nhất định Việc vận dụng đề tài vào dạy học góp phần đổimới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả cũng như khai thác tốt hơn cơ sởvật chất của Nhà trường phục vụ cho việc học tập nói chung và học môn Địa Línói riêng
Vì những lý do trên, với mong muốn góp phần vào việc đổi mới, nâng caochất lượng và hiệu quả dạy học môn Địa lí ở trường THPT Như Thanh, tôi chọn
đề tài: “Hướng dẫn khai thác kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí lớp 11 ở
trường THPT Như Thanh nhằm tạo hứng thú và nâng cao hiệu quả dạy học Địa lí”.
Trang 3-2 Mục đích nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhận thấy rõ tầm quan trọng của hệ thống kênhhình trong dạy và học Địa lí, bản thân tôi là một giáo viên Địa lí, trực tiếp giảngdạy chương trình Địa lí 11, tôi vận dụng các phương pháp dạy học để khai thác cóhiệu quả kênh hình trong SGK vào dạy học Địa lí 11 ban cơ bản
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giảng dạy
và rèn luyện thêm kiến thức, kỹ năng cho giáo viên; Cũng như góp phần tạohướng thú môn học, khắc sâu kiến thức, phát huy tính tự giác, độc lập và sángtạo của học sinh
3 Phạm vi, đối tượng áp dụng của sáng kiến
- Các kiến thức từ kênh hình về địa lí tự nhiên và kinh tế xã hội Thế giớidành cho học sinh khối 11 trường THPT Như Thanh
- Phạm vi nghiên cứu là đối tượng học sinh, cụ thể là học sinh lớp 11A4
và 11A8 Trường THPT Như Thanh
2 NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1 Kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí
Trong cấu trúc của sách giáo khoa Địa lí nói chung và sách giáo khoa Địa
lí 11 nói riêng gồm 2 phần là kênh chữ và kênh hình Kênh chữ và kênh hìnhluôn đảm bảo tỉ lệ hợp lí giữa lí thuyết và thực hành Mỗi thành phần thực hiệnmột số chức năng nhất định Kênh chữ (bài viết) là thành phần cơ bản của SGK
có liên hệ với thành phần ngoài bài viết Bài viết Địa lí trong SGK thường mangtính chất giải thích minh hoạ và bao gồm các lí thuyết, giải thích, mô tả và cácchỉ dẫn Những thành phần ngoài bài viết của SGK có ý nghĩa về mặt phươngpháp và kiểm tra đối với học sinh Trong SGK còn có hệ thống câu hỏi và bàitập nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức, thiết lập các mối liên hệ và phụthuộc, vận những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống Các câu hỏi bài tập
Trang 4giúp học sinh định hướng hoạt động tư duy của học sinh trong quá trình nắmvững tài liệu mới.
Việc thực hiện các bài tập và câu hỏi trong SGK đòi hỏi học sinh phải dựavào các nguồn kiến thức khác nhau, đó là kênh hình như biểu đồ, bản đồ, lược
đồ, sơ đồ, tranh ảnh các kênh hình minh hoạ không chỉ có tác dụng cụ thể hoábài viết mà còn là nguồn gây hứng thú đối với học sinh
Như vậy, kênh hình trong sách giáo khao Địa lí gồm nhiều loại là bản đồ,lược đồ, biểu đồ, các bảng số liệu và tranh ảnh Mỗi một loại có những cách thểhiện khác nhau nhưng đều cùng một mục đích là truyền đạt các kiến thức đếnngười học và rèn luyện kỹ năng cho học sinh
1.2 Vai trò của kênh hình trong SGK Địa lí
Kênh hình góp phần hỗ trợ việc cung cấp kiến thức, giảm tính trừu tượng của kiến thức, tạo điều kiện cần thiết cho học sinh thực hành để rèn luyện các
Ngoài ra nó còn hỗ trợ giáo viên trong việc nâng cao kiến thức, kĩ năng,
và thiết kế bài dạy
1.3 Một số yêu cầu khi sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí
Kênh hình phải được sử dụng có hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu về nộidung và phương pháp được quy định trong chương trình giáo dục
Tập trung vào việc sử dụng kênh hình như một nguồn kiến thức, hạn chếdùng theo cách minh hoạ kiến thức
Để có thể sử dụng tốt kênh hình Giáo viên cần:
- Có kế hoạch chuẩn bị trước các kênh hình, nghiên cứu kĩ các kênh hình
để hiểu rỏ nội dung, tác dụng của từng loại kênh hình, tránh tình trạng khi lênlớp mới cùng học sinh tiếp xúc với kênh hình
- Cần lựa chọn nội dung mang tính thiết thực đối với nội dung bài học,đồng thời sử dụng tối đa các nội dung đã được thể hiện trên mỗi kênh hình
Trang 5- Khi sọan bài cũng như khi lên lớp, Giáo viên cần phải xây dựng hệthống câu hỏi, bài tập tương đối chính xác rỏ ràng để học sinh làm việc với cácloại kênh hình nhằm lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng Địa lí.
- Giáo viên cần giúp học sinh nắm được trình tự các bước làm việc vớitừng loại phương tiện, thiết bị dạy học để tìm kiến thức, rèn luyện kĩ năng, pháttriển tư duy
2 Cơ sở thực tiễn
Chương trình Địa lí 11 gồm hai phần chính là Khái quát nền kinh tế - xãhội thế giới và phần Địa lí khu vực và quốc gia Sách giáo khoa Địa lí 11 đượctập thể các tác giả biên soạn một cách công phu với hệ thống kênh hình phongphú và tiêu biểu, nó đảm bảo tỉ lệ hợp lý giữa kênh chữ và kênh hình Nội dungkênh hình phong phú, đa dạng nên học sinh đã có nhiều hứng thú hơn khi học
- Biểu đồ Địa lí cũng đầy đủ các dạng nhưng tập trung chủ yếu là biểu đồtròn, cột, miền với 10 biểu đồ; thể hiện cơ cấu, sự chuyển dịch cơ cấu và sosánh sự phát triển của các hiện tượng kinh tế xã hội của các nước
- Hệ thống tranh ảnh nhiều hơn cả với 33 tranh ảnh; đây là những hìnhảnh rất sinh động, thể hiện được những đặc trưng cả về tự nhiên, dân cư, kinh tếcủa các nước và khu vực
- So với chương trình Địa lí lớp 10 thì chương trình Địa lí 11 ít sơ đồ hơnnhiều chỉ với 7 sơ đồ Sơ đồ cũng gồm nhiều loại như sơ đồ cấu trúc, sơ đồlôgic và sơ đồ địa đồ học
Ngoài ra, sách giáo khoa Địa lí 11 gồm có rất nhiều bảng số liệu thống kê
và các bảng kiến thức Bảng số liệu thống kê, bảng kiến thức bản thân nó vừa làkênh chữ, vừa là kênh hình chứa đựng nhiều kiến thức Địa lí, đặc biệt là các
Trang 6bảng số liệu thống kê, nó cũng là một dạng kiến thức tương tự các biểu đồ Địalí.
Như vậy, hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 11 có nhiềunhóm khác nhau gồm nhóm bản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh và các bảng sốliệu Đề tài tập trung vào các phương pháp khai thác hiệu quả hệ thống bản đồ,lược đồ, biểu đồ và tranh ảnh để đạt hiệu quả cao trong dạy học Địa lí 11
3 Thực trạng
Khảo sát đầu năm
Lớp Số HS
Kiểm tra thường xuyên( Kỹ năng đọc bản đồ)
Điểm 8->10 Điểm 5->7 Điểm < 5
SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ %11A4 39 15 38,4 20 51,2 4 10,411A8 41 8 19,5 18 43,9 15 36,6
Đánh giá
Qua kết quả kiểm tra, đánh giá thường xuyên đầu năm học cho thấy kỹ năng sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa của học sinh còn hạn chế Học sinh bị phụ thuộc nhiều vào kênh chữ ( học thuộc) không phát huy được năng lực của người học và khả năng sáng tạo, tư duy Học sinh thụ động trong lĩnh hội kiến thức và phụ thuộc nhiều vào nội dung giáo viên chuyển tải
4 Các giải pháp
4.1.Bồi dưỡng nâng cao nhận thức
Như chúng ta đã biết kênh hình vừa có chức năng minh họa vừa có chứcnăng nguồn tri thức, nên trong dạy học Địa lí giáo viên cần phát huy tối đa cácchức năng của kênh hình, giáo viên có thể sử dụng theo 2 cách sau:
Thứ nhất, sử dụng kênh hình để minh họa hoặc giảng giải nội dung bài
học: Khi giáo viên dạy bài mới, đến phần nội dung kiến thức cơ bản ngoài phầnnội dung của kênh chữ trình bày, giáo viên xác định trên bản đồ, biểu đồ, tranhảnh… để học sinh thấy rõ sự phân bố của các sự vật, hiện tượng và mối quan hệnhân quả đia lí
Trang 7Ví dụ: Khi dạy bài 6 Địa lí 11: Hợp chúng quốc Hoa Kì, tiết 1 Tự nhiên
và dân cư, ở mục I – Lãnh thổ và vị trí Địa lí: Khi trình bày lãnh thổ rộng lớngồm 3 bộ phận GV cần khai thác hình 6.1 trang 37 để xác định cho học sinh 3vùng lãnh thổ đó Tuy nhiên, hình 6.1 chưa thể hiện rõ do đó chúng ta yêu cầuhọc sinh sử dụng bản đồ các nước trên thế giới (trang 4 và 5) sẽ thấy rất rõ 3 bộphận này, từ đó học sinh rút ra được 3 bộ phận này nằm tách biệt nhau
Thứ hai, Giáo viên sử dụng kênh hình như một cơ sở để học sinh tìm tòi,
khám phá kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên Bằng cách đó, giáo viênhình thành và rèn luyện cho học sinh phương pháp đọc lược đồ, bản đồ, phântích biểu đồ và tranh ảnh
Ví dụ: Khi dạy bài 3 – Một số vấn đề mang tính toàn cầu, ở mục 2 – Ônhiễm nguồn nước ngọt, biển và đại dương: Phần ô nhiễm biển và đại dương,giáo viên cho học sinh quan sát hình 3 (trang 15 SGK) và trả lời câu hỏi: Dựavào hình 3 hãy cho biết nguyên nhân của ô nhiễm biển và đại dương? Từ đó đưa
ra giải pháp cho vấn đề này? HS sẽ nghiên cứu hình 3 rút ra được nguyên nhânchính dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường biển và đại dương là do vậnchuyển dầu trên biển Giải pháp là phải đảm bảo an toàn giao thông đườngbiển…
4.2 Luyện kỹ năng thực hành
4.2.1 Khai thác kiến thức từ bản đồ, lược đồ
Sách giáo khoa Địa lí 11 gồm có 29 bản đồ trong 12 bài và một bản cácnước trên thế giới ở trang 4 và 5 Đây là loại thông tin rất trực quan mô tả về vịtrí của lãnh thổ, các điều kiện tự nhiên và sự phân bố dân cư, kinh tế của mỗiđơn vị lãnh thổ
Nói về kênh hình SGK thì bản đồ như một người “anh cả” có vai trò và ýnghĩa quan trọng trong dạy và học Trước hết vì nó là kiến thức được “lý giải”bằng đường nét cụ thể nhất và được ví như SGK thứ hai trong tay người học vàngười dạy Các bản đồ, lược đồ SGK giúp học sinh bồi dưỡng năng lực tự học,
tự tìm tòi nghiên cứu
Để khai thác hiệu quả bản đồ, lược đồ trước tiên giáo viên phải nắm vữngkiến thức và kỹ năng về bản đồ như xác định phương hướng, hiểu hệ thống kí
Trang 8hiệu của bản đồ thông qua bảng chú giải và màu sắt Đó là những kiến thức cơbản để giáo viên và học sinh tiếp cận với bản đồ.
Kỹ năng bắt nguồn từ tri thức nên muốn dạy cho học sinh các kỹ năngđọc, hiểu và vận dụng bản đồ thì phải dạy các kiến thức tối thiểu về bản đồ Trithức giúp học sinh giải mã các kí hiệu bản đồ và xác lập các mối quan hệ giữachúng Từ đó học sinh phát hiện các kiến thức Địa lí mới ẩn chứa trong bản đồ,lược đồ
Giáo viên phải nắm các bước đọc bản đồ, quan sát phân tích để rút ra cácnhận xét về các đối tượng, sự vật và các hiện tượng Địa lí sâu sắc hơn Để sửdụng hiệu quả nó có các bước sau:
Bước 1: Cần xác định rõ mục đích sử dụng, khai thác lược đồ, bản đồ là
Bước 4: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc lược đồ, bản đồ hoặc dùngphương phám đàm thoại để cùng học sinh khai thác kiến thức trên bản đồ, lược
đồ Giáo viên phải xây dựng được hệ thống câu hỏi để hướng dẫn học sinh làmviệc với bản đồ, lược đồ và cũng chuẩn bị các đáp án để chuẩn kiến thức, sửacác lỗi cho học sinh
Để sử dụng hiệu quả bản đồ, giáo viên phải biết phối hợp khai thác cácbản đồ treo tường hoặc tập bản đồ thế giới và các châu lục (thường gọi là Atlatthế giới) hoặc phóng to các hình trong sách giáo khoa Do đó, ngoài quy trìnhtrên, để đảm bảo tính sư phạm, khi hướng dẫn học sinh khai thác, sử dụng, giáoviên không nên dùng tay mà phải dùng que chỉ, tư thế chếch nghiêng, chỉ hệthống sông từ thượng lưu xuống hạ lưu, xác phạm vi một lãnh thổ nào đó thì
Trang 9phải khoanh tròn lại, xác định đỉnh núi thì chỉ có một điểm Trước khi trìnhbày bao giờ cũng phải giới thiệu tên bản đồ, lược đồ Ngôn ngữ, cử chỉ của giáoviên là hết sức quan trọng Trong quá trình khai thác cần chú ý đến đối tượnghọc sinh và thời gian giờ giảng.
Ví dụ cụ thể:
Ví dụ 1: Dạy bài 1, mục I: Sự phân chia các nhóm nước Giáo viên giúp
học sinh khai thác hình 1 với hệ thống câu hỏi như sau:
- Quan sát hình 1 hãy nhận xét sự phân bố các nước và vùng lãnh thổ trênthế giới theo mức GDP bình quân đầu người? Giáo viên hướng dẫn học sinhquan sát chú giải phía dưới: GDP/người chia làm 4 mức và dựa vào màu sắc đểđối chiếu với bản đồ, từ đó tìm ra kiến thức
- Học sinh quan sát và rút ra được:
+ Những nước có mức GDP/người cao (những nước phát triển) phân bố ởBắc Mĩ, Tây Âu, Bắc Âu, Nhật Bản, Ôxtrâylia, Liên Bang Nga
+ Những nước có mức GDP/người thấp (những nước đang phát triển)phân bố chủ yếu ở Châu Phi, Châu Á, một số nước ở Mĩ La tinh
Ví dụ 2: Bài 5
Tiết 1, mục I: Một số vấn đề về tự nhiên (Châu Phi)
Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi như sau: Quan sát hình 5.1 hãy
- Xác định vị trí Địa lí của Châu Phi (tiếp giáp những biển, đại dươngnào, châu lục nào)
- Xác định đường xích đạo, chí tuyến qua Châu Phi
Từ những hình dạng lãnh thổ, vị trí đường xích đạo chạy ngang cùng vớihai đường chí tuyến Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát hình 5.2 về hoangmạc Xa-ha-ra để giúp học sinh trả lời được câu hỏi SGK: Dựa vào hình 5.1 vàhiểu biết của bản thân, cho biết đặc điểm khí hậu, cảnh quan của Châu Phi
Qua ví dụ này ta thấy, nếu để học sinh quan sát hình 5.1 thì chưa đủ để rút
ra đặc điểm khí hậu, cảnh quan vì trên bản đồ không có chú giải về các đới, cáckiểu khí hậu của Châu Phi
Tiết 2: Khu vực Mĩ La tinh
Với bản đồ hình 5.3 giáo viên chỉ cần hướng dẫn học sinh xem chú giải sẽrút ra được cảnh quan chính và các loại tài nguyên của Mĩ La tinh
Trang 10Tuy nhiên, để học sinh thấy rõ các loại tài nguyên GV cần nêu thêm cáccâu hỏi phụ như: Mĩ La tinh có đường biển dài, giáp hai đại dương lớn nên cóthuận lợi gì? Biển đã mang lại các nguồn lợi (tài nguyên) gì? Cảnh quan rừng,thảo nguyên thì có thuận lợi gì?
Ví dụ 3: Khi dạy về Địa lí khu vực và quốc gia, hệ thống bản đồ có đặc
điểm chung là bản đồ tự nhiên, bản đồ dân cư và bản đồ kinh tế được trình bàytheo tuần tự gần như giống nhau ở các bài, do đó chúng ta phải rèn luyện chohọc sinh trình tự đọc các bản đồ này, cụ thể:
- Với bản đồ tự nhiên: Luôn trình bày ở phần đầu mỗi quốc gia (trừ Liên
minh Châu Âu (EU) và ÔXtrâylia) Giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác các
bản đồ tự nhiên theo hệ thống câu hỏi như sau:
+ Để xác định vị trí Địa lí của quốc gia, khu vực giáo viên cho học sinhtrả lời các câu hỏi: Phạm vi tiếp giáp của quốc gia, khu vực đó: Phía Bắc, phíaNam, Phía Tây, phía Đông giáp những nước, biển hay đại dương nào? Giáoviên gợi ý cho học sinh quan sát hệ thống kinh vĩ tuyến rút ra tọa độ Địa lí củaquốc gia, khu vực cần tìm hiểu Từ đó rút ra ý nghĩa của vị trí Địa lí đối vớiphát triển kinh tế của quốc gia, khu vực đó
+ Để tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên giáo viên phảihướng dẫn học sinh quan sát chú giải xem có những loại tài nguyên nào, chú ýđến tài nguyên khoáng sản, rừng, đất, nước Hầu hết các quốc gia trong chươngtrình Địa lí 11 đều là các quốc gia có lãnh thổ rộng lớn nên thiên nhiên phân hóa
đa dạng Giáo viên phải xác định cho học sinh các ranh giới phân chia các vùng,miền của mỗi quốc gia: Hoa Kì (phần trung tâm Bắc Mĩ) chia thành 3 vùng làphía tây, vùng trung tâm và phía đông, ranh giới của các vùng này là dãy Coóc-đi-e ở phía tây và A-pa-lat ở phía đông; Liên Bang Nga lãnh thổ rộng lớn địahình chia làm 2 phần rõ rệt mà ranh giới là sông Ê-nit-xây; Trung quốc cũngchia làm 2 miền đông và tây với ranh giới là kinh tuyến 1050Đ; Khu vực ĐôngNam Á thì chia làm 2 bộ phận là Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á biểnđảo
Để khai thác hiệu quả kênh hình trong các nội dung trên giáo viên nênxây dựng các phiếu học tập để học sinh so sánh giữa các vùng, miền về đặcđiểm khí hậu, địa hình, các loại tài nguyên đất, khoáng sản
Trang 11- Với các bản đồ dân cư: chủ yếu trình bày về sự phân bố dân cư của mỗi
nước, mỗi khu vực Khai thác hiệu quả các bản đồ này theo hướng như sau: chohọc sinh quan sát các mức phân chia mật độ dân số của quốc gia, khu vực đó.Sau đó yêu cầu học sinh xác định các vùng có mật độ dân số đông, mật độ dân
số thưa, vì sao dân số lại phân bố như vậy? Giáo viên có thể gợi ý dựa vào điềukiện tự nhiên, lịch sử, điều kiện kinh tế-xã hội để giải thích, từ đó rút ra thuậnlợi, khó khăn gì đối với phát triển kinh tế
Ví dụ: với hình 8.4 phân bố dân cư của Liên Bang Nga theo các bướcsau:
+ Quan sát hình 8.4 hãy nhận xét sự phân bố dân cư LB Nga?
+ GV hướng dẫn học sinh quan sát bảng chú giải, điều đầu tiên dễ nhận ra
là LB Nga có mật độ dân số thấp
+ Sau khi học sinh nhận xét được dân số LB Nga phân bố chủ yếu ở phíaTây (đồng bằng Đông Âu) với mật độ trên 10 người/km2 và trên 25 người/km2 ,dải p phía Nam của Xibia dân cư cũng tương đối đông hơn Còn phần lớn lãnhthổ ở phía đông (Bắc Á) kể cả đồng bằng Tây Xia bia có mật độ dân số rât thấp(dưới 1 người/km2) Nguyên nhân chủ yếu là do phần phía Tây và phía Nam cókhí hậu ấm hơn còn phần phía Đông (từ dãy U ran về phía đông) dân số thưathớt vì khí hậu ôn đới lục địa và cận cực lạnh giá, khắc nghiệt
+ Từ đó, học sinh rút ra được những khó khăn trong khai thác tài nguyênđặc biệt là vùng phía đông thiếu lao động
Tương tự với hình 10.4 về sự phân bố dân cư Trung Quốc cũng khai tháctheo các bước như vậy: Dân cư cũng phân bố không đều, chủ yếu tập trung ởphía Đông với mật độ rất cao từ phổ biến từ 51-100 người/km2 và trên 100người/km2, còn phía Tây thì mật độ dưới 1 người/km2
- Với các bản đồ về kinh tế: thể hiện sự phân bố theo không gian các
ngành nông nghiệp, công nghiệp Để khai thác các bản đồ này, giáo viên hướngdẫn học sinh quan sát các kí hiệu (tượng hình) và màu sắc trên bản đồ nôngnghiệp và các vòng tròn thể hiện các trung tâm công nghiệp để xác định được
cơ cấu ngành nông nghiệp, công nghiệp của mỗi quốc gia, sự phân bố sản xuấtcủa các ngành Dựa vào kiến thức đã học (về tự nhiên, dân cư) để giải thíchnguyên nhân sự phân bố đó
Trang 12Ví dụ: Hình 10.8 và 10.9 về sự phân hóa lãnh thổ công nghiệp, nôngnghiệp Trung Quốc, giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi:
+ Dựa vào hình 10.8 hãy xác định các trung tâm công nghiệp có quy môrất lớn và lớn? Cơ cấu ngành của mỗi trung tâm? Các trung tâm công nghiệpphân bố củ yếu ở miền nào? Tại sao có sự phân hóa rõ rệt giữa miền Đông vớimiền Tây như vậy?
+ Dựa vào hình 10.9 hãy trình bàu các vùng nông nghiệp chính của TrungQuốc? Vì sao có sự khác biệt lớn trong phân bố nông nghiệp giữa miền Đông
và miền Tây?
Như vậy hệ thống bản đồ trong Địa lí 11 có những đặc điểm giống nhau
về cách trình bày về các quốc gia, giáo viên cần khai thác tốt từng bản đồ ở mỗibài, đặc biệt là các bản đồ bắt đầu từ các quốc gia đầu tiên như Hoa Kì, LB Nga
từ đó giáo viên sẽ tạo được thói quen và trình tự khai thác bản đồ khi học về cácnước sau như Nhật Bản, Trung Quôc, khu vực Đông Nam Á và Ôxtrâylia
4.2.2 Khai thác kiến thức từ các biểu đồ
Địa lí 11 có chỉ có 10 biểu đồ trong đó nhiều nhất là biều đồ cột gồmbiểu đồ (cột đơn, cột gộp nhóm, thanh ngang dạng tháp tuổi ), biểu đồ tròn,biểu đồ miền Đây là các dạng biểu đồ quen thuộc của chương trình Địa líTHPT, mỗi loại biểu đồ có chức năng thể hiện nhưng do đặc tính riêng củamình mỗi loại biểu đồ có khả năng biểu hiện một đặc điểm nào đó của đốitượng như:
Biều đồ cột có nhiều ưu điểm trong việc thể hiện so sánh các sự vật, hiệntượng, biểu hiện số lượng, tình hình phát triển của sự vật, hiện tượng
Với biểu đồ tròn thể hiện rõ về quy mô và cơ cấu của sự vật hiện tượng
Để thể hiện tốt nhất sự chuyển dịch cơ cấu thì biểu đồ miền là dạng biểu
đồ tối ưu
Dù dưới dạng biểu đồ nào thì giáo viên cũng cần tập trung vào việc giúphọc sinh rút ra được những kiến thức chứa đựng trong biểu đồ Từ đó hìnhthành và rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng biểu đồ cũng như cách xâydựng các biều đồ đó
- Để khai thác tốt các kiến thức từ các biểu đồ cần lưu ý:
+ Nhận xét biểu đồ từ cái tổng quát đến cụ thể