1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng kiến thức liên môn để nâng cao chất lượng giảng dạy bài 17lao động và việc làm địa lý 12 cơ bản ở trường THPT lê lợi

24 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế đã dẫn đến tình trạng nguồn lao động nước ta tuyđông nhưng tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm nhiều, mặc dù có những khu vựckinh tế, lĩnh vực kinh tế thiếu nguồn lao động n

Trang 1

e Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động: 4

f Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực đối với tăng trưởng

kinh tế:

5

2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 6

a Thực trạng vấn đề nguồn lao động và việc làm ở nước ta. 6

b Thực trạng về vấn đề nhận thức của học sinh lớp 12 về vấn đề lao

động và việc làm hiện nay.

8

1 Phần phân tích nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp. 9

2 Đối với phần phương huớng giải quyết việc làm: 12

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

VIỆT NAM, một đất nước địa linh nhân kiệt, rừng vàng biển bạc, tàinguyên thiên nhiên vô cùng phong phú Có thể nói thiên nhiên vô cùng ưu ái đấtnước và con người Việt Nam, tạo cho chúng ta lợi thế và điều kiện thuận lợi cónhiều tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội Trong những năm gần đây, nềnkinh tế Việt Nam đã có những sự chuyển biến tích cực do chúng ta đã biết khaithác hợp lý các nguồn tài nguyên vốn có, đưa ra những chính sách kinh tế thôngthoáng, tận dụng những cơ hội đầu tư, đặc biệt là những cơ hội đầu tư nướcngoài Một trong những nhân tố quan trọng không thể thiếu đã đóng góp vào sựtăng trưởng của đất nước đó là nguồn lao động Cùng với sự phát triển của đấtnước, nguồn lao động cũng có những bước tiến bộ quan trong cả về mặt sốlượng và chất lượng Nguồn lao động Việt Nam đang được đánh giá là mộttrong những yếu tố thuận lợi thu hút đầu tư nước ngoài

Tuy nhiên, thực trạng “ lao động và việc làm đang lại là vấn đề kinh tế -xãhội lớn mang tính chất gay gắt bức xúc ở nước ta hiện nay Nguồn lao động nước tangày càng tăng thì tỉ lệ lao động thiếu việc làm và thất nghiệp ở thành thị và nôngthôn, ở các vùng trong cả nước đều tăng” [1] Do lao động nước ta đông và tăngnhanh nên cho dù mỗi năm nước ta giải quyết được gần 1 triệu việc làm mới nhờ

sự phát triển của các ngành và các thành phần kinh tế nhưng vẫn không đáp ứngđược nhu cầu giải quyết việc làm cho người lao động

Mặt khác, việc định hướng nghề nghiệp, việc nhận thức về tình trạng laođộng và việc làm của nước ta hiện nay của người lao động nói chung và củanhững người sẽ là nguồn lao động trong tương lai nói riêng - những học sinh,sinh viên đặc biệt là những học sinh trung học phổ thông, việc này còn rất mơ

hồ, chung chung Chính vì thế đã dẫn đến tình trạng nguồn lao động nước ta tuyđông nhưng tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm nhiều, mặc dù có những khu vựckinh tế, lĩnh vực kinh tế thiếu nguồn lao động nhung nguồn lao động thưa củanước ta lại không thể làm việc đuợc trong khu vực đó, lĩnh vực đó do khôngđáp ứng được yêu cầu khắt khe của công việc; nhiều sinh viên ra trường khôngtìm được việc làm hoặc có đi làm nhưng lại không làm đúng chuyên môn, ngànhnghề được đào tạo

Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Sử dụng kiến thức liên môn để nâng

cao chất lượng giảng dạy bài 17" Lao động và việc làm”- Địa lý 12 cơ bản ở Trường THPT Lê Lợi ” làm sáng kiến kinh nghiệm của mình nhằm 1 phần nào

đó cung cấp kiến thức cho học sinh và cũng góp phần định hướng nghề nghiệpcho các em không chỉ phù hợp với năng lực, sở thích của từng em mà còn phùhợp với sự phát triển của nền kinh tế

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 3

Thông qua việc nghiên cứu đề tài, tôi hi vọng cung cấp cho học sinhnhững thông tin về nguồn lao động và đặc điểm nguồn lao động Việt Nam hiệnnay Từ đó đưa ra một số giải pháp để khắc phục và nâng cao chất lượng nguồnnhân lực, đặc biệt ngay từ khi các em còn đang học trong trường trung học phổthông để có thể đáp ứng những yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đạiđất nước trong thời gian tới Từ đó giúp các bạn trẻ cũng như mọi người có thểđịnh hướng tốt về nghề nghiệp trong tương lai của mình thông qua thực trạngviệc làm của nước ta hiện nay.

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu :

Trong khuân khổ bài viết này, vì điều kiện thời gian (Vừa công tác vừanghiên cứu) và do năng lực bản thân còn hạn chế; nên tôi chỉ mạnh dạn nêu lênvấn đề: “Sử dụng kiến thức liên môn để nâng cao chất lượng giảng dạy bài 17

"

Lao động và việc làm” - Địa lý 12 cơ bản ở Trường THPT Lê Lợi” với thiết

tha mong muốn, tìm cho mình những kinh nghiệm nhỏ để cùng đồng nghiệpthực hiện tốt công tác giáo dục, định hướng tốt về nghề nghiệp trong tương laicủa học sinh thông qua thực trạng việc làm của nước ta hiện nay

Trang 4

B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I CƠ SỞ LÍ LUẬN.

1 Một số khái niệm cơ bản

a Dân số: Là tổng số người đang tồn tại và phát triển trong phạm vi một

lãnh thổ nhất định (một nước, một châu lục hay toàn cầu…) tại một thời điểmxác định

b Nguồn lao động (hay lực lượng lao động): Là một bộ phận dân số trong

độ tuổi qui định thực tế có tham gia lao động Nguồn lao động được chia thành 2nhóm: Nhóm dân số hoạt động kinh tế và dân số không hoạt động kinh tế [2]

- Dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở

lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc làm Nhưvậy vơí khái niêm trên có thể hiểu dân số hoạt động kinh tế hay còn gọi là lựclượng lao động là một bộ phận của nguồn lao động nó bao gồm hai phần Một lànhững người đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm trong các lĩnh vực đời sống kinh

tế xã hội, biểu hiện của việc làm đó là tạo ra được thu nhập mà hoạt động tạo thunhập này không bị pháp luật cấm, ngoài ra còn cả những hoạt động cuả bộ phậndân số không trực tiếp tạo ra thu nhập nhưng lại trực tiếp giúp cho người thân, giađình tạo thu nhập Hai là những người đang trong độ tuổi lao động không có việclàm nhưng có nhu cầu tìm việc làm và luôn sẵn sàng làm việc (như vậy ngược vớiphần trên thì bộ phận dân số này là những người không tạo ra được thu nhậpnhưng luôn tìm cách để tạo ra thu nhập) Ngoài ra khi nghiên cứu về lao động tacòn thường sử dụng khái niệm về dân số hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12tháng qua: là những người từ đủ 15 tuổi trở lên có tổng số ngày làm việc và ngàyngày có nhu cầu làm thêm lớn hơn hoặc bằng 183 ngày, nếu nhỏ hơn 183 ngày làdân số không hoạt động kinh tế thường xuyên [3]

- Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ số người từ đủ 15

tuổi trở lên không thuộc bộ phận có việc làm và không có việc làm Nhữngngười này không hoạt đông kinh tế vì các lí do: đang đi học , hiện đang làmcông việc nội trợ cho bản thân gia đình, Ngoài ra tuỳ theo tình trạng việc làm,dân số hoạt động kinh tế được chia thành hai loại: người có việc làm và ngườithất nghiệp [4]

c Việc làm : Để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm ta phải liên hệ

đến phạm trù lao động vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Laođộng trước hết là một hành động diễn ra giữa con người với giới tự nhiên, tronglao động con người đã vận dụng trí lực và thể lực cùng với công cụ tác động vàogiới tự nhiên tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, đời sống conngười, lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó làhoạt động rất cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người Con người khôngthể sống khi không có lao động Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử

Trang 5

dụng sức lao động, sức lao động là năng lực của con người nó bao gồm cả thểlực và trí lực, nó là yếu tố tích cực đóng vai trò trung tâm trong suốt quá trìnhlao động, là yếu tố khởi đầu, quyết định trong qúa trình sản xuất, sản phẩm hànghoá có thể được ra đời hay không thì nó phải phụ thuộc vào quá trình sử dụngsức lao động Bản thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đềuchiếm những vị trí nhất định, mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệthống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trongquá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm [5]

Như vậy việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất

xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao độngđược coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sảnxuất của xã hội Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quátrình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân Nhưng với khái niệmviệc làm như trên thì chưa được coi là đầy đủ vì con người chỉ có thể tồn tạitrong gia đình và xã hội, do đó việc làm được hiểu theo một cách hoàn chỉnh đó

là ngoài phần người lao động tạo ra cho xã hội còn phải có phần cho bản thân vàgia đình nhưng điều cốt yếu là việc làm đó phải được xã hội thừa nhận(đượcpháp luật thừa nhận) Như vậy một hoạt động được coi là việc làm khi có nhữngđặc điểm sau: đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó

là những công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình,hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận Tuỳ từng cách phân loại mà ta cócác hình thức việc làm ở đây ta chỉ tiếp cận hai hình thức sau: [6]

• Việc làm chính: là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời giannhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác [7]

• Việc làm phụ: là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời giannhất sau công việc chính Với việc nghiên cứu đặc điểm, khái niệm và phân loạiviệc làm giúp cho ta hiểu rõ hơn về việc làm từ đó đưa ra những tiêu chí đánhgiá một cách sâu hơn nhằm xác định được các mục tiêu và giải pháp trong việclập kế hoạch việc làm [8]

d Trình độ giáo dục của nguồn lao động : là sự hiểu biết của người lao

động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội Trình độ giáodục của nguồn lao động là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh chất lượng củanguồn lao động Chỉ tiêu này được xác định bởi số năm học trung bình, số họcsinh và sinh viên, tỷ trọng chuyên gia có trình độ giáo dục trung cấp và caocấp… Để xã hội phát triển đòi hỏi không chỉ sự tương thích trình độ tư liệu sảnxuất, mà còn cả sự phát triển vượt trội của người lao động, của các cá nhân,trước hết bằng con đường học tập Vai trò và ý nghĩa của đất nước trong thế giớingày nay xác định không chỉ là tiềm năng an ninh và kinh tế, mà còn là tiềmnăng trí tuệ Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng, con đường ngắn nhất đi đến sự phồnvinh là thông qua giáo dục Trình độ giáo dục cao tạo khả năng tiếp thu và vậndụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn

e Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động: là sự hiểu biết, có

khả năng thực hành về chuyên môn, kỹ thuật nghề nghiệp để tham gia các họat

Trang 6

động lao động Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động được thể hiệnqua tỷ lệ dân số đã qua các lớp đào tạo nghề, qua đào tạo sơ cấp kỹ thuật, côngnhân kỹ thuật Thực tế cho thấy chỉ có lực lượng lao động đông và rẻ không thểtiến hành được công nghiệp hóa mà đòi hỏi phải có đội ngũ lao động có trình độchuyên môn và tay nghề cao đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của tiến

bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ

f Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế: Trong những năm 1950 và 1960, tăng trưởng kinh tế là do công nghiệp

hoá: thiếu vốn và nghèo nàn về cơ sở vật chất là khâu chủ yếu ngăn cản tốc độtăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ có mộtphần nhỏ của sự tăng trưởng kinh tế có thể giải thích bởi khía cạnh đầu vào lànguồn vốn Phần rất quan trọng của sản phẩm thặng dư gắn liền với chất lượngnguồn lao động (trình độ giáo dục, sức khoẻ và mức sống) Đầu tư cho conngười nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội từ đó nâng cao năng suất laođộng Lịch sử các nền kinh tế trên thế giới cho thấy không có một nước giàu cónào đạt được tỷ lệ tăng tưởng kinh tế cao trước khi thành đạt được mức phổ cậpgiáo dục phổ thông Cách thức để thúc đẩy sản xuất, đến lượt nó thúc đẩy cạnhtranh, là phải tăng hiệu quả giáo dục Các nước và lãnh thổ công nghiệp hoá mớithành công nhất như Hàn Quốc, Singapo và Hồng Kông và một số nước khác có

tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong những thập kỉ 1970 và 1980 thườngđạt mức độ phổ cập tiểu học trước khi các nền kinh tế đó cất cánh Mặc dù vậy,các nghiên cứu cũng cho thấy thành công của Nhật Bản và Hàn Quốcc trongkinh tế không chỉ do phần đông dân cư có học vấn mà còn do các chính sáchkinh tế, trình độ quản lý của họ Do đó giáo dục phải được đề cao hơn nữa (đặcbiệt là giáo dục đại học) như là một điều kiện cần để phát triển kinh tế Kết quảgiáo dục cùng với sự cạnh tranh trong giáo dục đại học sẽ thúc đẩy các ngànhkinh doanh của các nước đang phát triển thu hút những nhà khoa học sáng giánhất của họ và của nước ngoài Khi cân bằng về sức mạnh khoa học kĩ thuật trêntừng khu vực được thiết lập, những mơ ước và những ý đồ đổi mới kỹ thuậtcông nghệ của các nước đang phát triển sẽ được thực hiện ngay trên đất nướccủa mình Thực tế cho thấy gần đây nhiều sản phẩm của các nước Châu Á sảnxuất ra không cần giấy phép và mang nhãn của công ty nước ngoài, hàng hoá dongười Châu Á sản xuất ra đã đi khắp thị trường thế giới Tiềm năng kinh tế củamột đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học và công nghệ lại phụ thuộc vàođiều kiện giáo dục Đã có rất nhiều bài thất bại khi một nước sử dụng công nghệngoại nhập tiến tiến khi tiềm lực và khoa học công nghệ yếu, thiếu đội ngũ kỹthuật và công nhân lành nghề và do đó không thể ứng dụng các công nghệ mới.Không có sự lựa chọn nào khác, hoặc là đào tạo các nguồn nhân lực quý giá chođất nước để phát triển hoặc phải chịu tụt hậu so với các nước khác Như vậy,cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại không chỉ nhằm biến đổi cơ sở kỹthuật của nền sản xuất như trong thời kỳ cách mạng công nghiệp Cuộc cáchmạng đó mang nội dung mới trên cơ sở các quan hệ sản xuất, khoa học và côngnghệ Những phát minh khoa học ở thời kỳ này ngay lập tức được ứng dụng vàosản xuất và làm xuất hiện một hệ thống sản xuất linh hoạt đủ khả năng thay đổi

Trang 7

nhanh chóng quy trình sản xuất Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và côngnghệ tạo ra hàm lượng thông tin và tri thức trong tổng chi phí sản xuất cao Yếu

tố mới xuát hiện và trở thành yếu tố cốt lõi của cả hệ thông sản xuất hiên đạichính là thông tin và tri thức Các số liệu thống kê năm 1990 phản ánh phầnđóng góp thông tin, tri thức trong thu nhâp quốc dân của Hoa Kỳ là 47,4%, Anh45,8%, Pháp 45,1%, Đức 40,4% Trí tuệ trở thành động lực cho toàn bộ tươnglai nhân loại, thúc đẩy sự tiến bộ vừa sâu vừa rộng của xã hội trên nền tảng khoahọc và công nghệ để tạo ra bước tăng trưởng mới, hiếm thấy so với trước đây.Kinh nghiệm về quản lý và sử dụng nguồn nhân lực của các nước trên thế giới lábài học quý báu cho chúng ta trong việc khai thác tiềm năng của nguồn lao độngnước ta

2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

a Thực trạng vấn đề nguồn lao động và việc làm ở nước ta.

Việt Nam là một nước đông dân, cơ cấu dân số trẻ Do đó, nước ta cónguồn lao đông dồi dào Năm 2005 có 42,53 triệu lao động chiếm 51,2 % tổngdân số Tính đến ngày 1/7/2011 cả nước có 54,1 triệu lao động chiếm 58,5%tổng số dân Hay trong năm 2016 mới đây, lực lượng lao động trong độ tuổi laođộng Quý 2 ước tính là 47,55 triệu người, tăng 227,5 nghìn người so với cùng

kỳ năm trước Điều này chứng tỏ nguồn lao động nước ta tăng nhanh Trong khi

tỉ lệ gia tăng nguồn lao động đạt khoảng 3%/năm, thời kì 1999 - 2005 là 2,13%/năm thì tốc độ gia tăng nguồn lao động là 2,4% (năm 2005) Như vậy tốc độ giatăng nguồn lao ở nước ta nhanh hơn tốc đọ gia tăng dân số tự nhiên và mặc dùgia tăng dân số tự nhiên đã giảm nhưng hằng năm nguồn lao động vẫn được bổsung thêm khoảng hơn 1 triệu lao động

Tuy nhiên nguồn nhân lực dồi dào không có nghĩa là thị trường ViệtNam đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp Lao động nước tađông và tăng nhanh hơn khả năng tạo việc làm của nền kinh tế nên cho dù mỗinăm nhà nước giải quyết được gần một triệu viêc làm mới nhờ sự phát triển củacác ngành và các thành phần kinh tế nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầugiải quyết việc làm cho người lao động, tình trạng thiếu, thất nghiệp còn phổbiến Mặc dù người lao động cần cù, chịu khó, năng động, sáng tạo, khéo léo và

có nhiều kinh nghiệm sản xuất phong phú gắn với truyền thống dân tộc, đặc biệt

là sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Song so với yêu cầu hiện naylưc lượng lao động có trình độ cao vẫn còn ít, đặc biệt là đội ngũ, nhân viên kĩthuật lành nghề vẫn còn thiếu nhiều, đa số là lao động chưa qua đào tạo, laođộng thủ công là chính Ngoài ra lao động việt có thể lực yếu, tiếu tác phongcông nghiệp, kém nhạy bén với cơ chế thị trường Do đó nhiều nơi có việcnhưng lao động không đáp ứng được yêu cầu nên càng làm gay gắt hơn vấn đềviệc làm trong nước Chính vì vậy vấn đề chất lượng nguồn nhân lực là vấn đềcần quan tâm hiện nay, là yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển đấtnước, sự sống còn của các doanh nghiệp Tuy nhiên ở nước ta vấn đề này chưađược quan tâm đúng mực và còn tồn tại nhiều yếu kém

Trang 8

Năng suất lao động nước ta so với các nước phát triển trong khu vực.

Theo số liệu của Viện nghiên cứu và phát triển thành phố Hồ Chí Minhcho biết, cung lao động nước ta rất dồi dào và lớn hơn về cầu lao động Tuynhiên phần lớn lượng cung lao động này là lao động phổ thông, lao động chưaqua đào tạo và chất lượng lao động không đồng đều giữa các vùng miền Cụ thể

là gần 77% người lao động trong độ tuổi chưa qua đào tạo hoặc qua đào tạonhưng vẫn còn nhiều hạn chế Về mặt cầu, phần lớn nguồn nhân lực ở nôngthôn, nơi mà không đòi hỏi cao về kĩ năng cũng như trình độ lao động

Đọc bảng cơ cấu lao động có việc làm phân theo trình độ chuyên môn kĩthuật năm 1996 và năm 2005 ta sẽ thấy sự biến thiên về trình độ lao động củangười dân (đơn vị :%) [9]

- Trung học chuyên nghiệp

- Cao đẳng, đại học và trên đại

học

Chưa qua đào tạo

12,3

6,03,82,387,7

25,0

15,54,25,3

75,0Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy trình độ lao động có trình độ qua đàotạo tăng, chưa qua đào tạo giảm Nhưng lao động chưa qua đào tạo vẫn chiếmnhiều trong cơ cấu chuyên môn và nó gấp 3 lần lao động chưa qua đào tạo

Như vậy, có thể thấy rằng chất lượng và nguồn lao động nước ta hiệnnay đang còn rất thấp, trong khi nhu cầu sử dụng lao động có tay nghề, có chấtlượng cao của các doanh nghiệp lại liên tục tăng Điều này dẫn đến nguồn laođộng của chúng ta dồi dào, nhu cầu việc làm lớn nhưng các doanh nghiệp vẫn

Trang 9

rơi vào tình trạng thiếu lao động Đặc biệt là vấn nạn thất nghiệp diễn ra ngàycàng gay gắt và nghiêm trọng trên khắp cả nước.

b Thực trạng về vấn đề nhận thức của học sinh lớp 12 về vấn đề lao động và việc làm hiện nay.

Để tìm hiểu nhận thức của học sinh về vấn đề lao động và việc làm, tôi

đã có một số câu hỏi dành cho các em khối 12 như sau: “ Em biết gì về thực

trạng nguồn lao động và vấn đề việc làm của nước ta hiện nay?” thì đa phần

học sinh : “ nguồn lao động nuớc ta đông; còn về vấn đề việc làm thì em không

rõ lắm" Còn đến câu hỏi: “ Em có định hướng nghề nghiệp như thế nào?” thì có

tới 10% trả lời “ chưa có định hướng gì”, 15% trả lời “ Có nhưng chưa chắc

lắm”, hơn 55% trả lời là “em sẽ thi những trường em thích” và chỉ có gần 20%

học sinh có định hướng rõ ràng về công việc của mình trong tương lai Điều đócho thấy học sinh lớp 12 chưa có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về vấn đề laođộng và việc làm, từ đó việc định huớng nghề nghiệp còn chung chung, mơ hồ.Việc chưa có khả năng xác định rõ nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình,phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, chỉ chú trọng đầu tư vào kiến thức

bỏ qua việc rèn luyện kĩ năng thực hành đã khiến hàng nghìn cử nhân, thạc sĩthất nghiệp khi ra trường Nhiều người lầm tưởng vào đại học, phải học cao mới

có việc làm Do đó, nhiều học sinh nộp hồ sơ vào những trường đại học khôngphù hợp với khả năng của mình, học tràn lan rồi dẫn đến tình trạng không xinđược việc làm khi ra trường, dẫn đến thừa thầy thiếu thợ Trong khi nhu cầu thịtrường là cần những người có năng lực thực hành cao

Đối với học sinh truờng THPT Lê Lợi thì đa số là những học sinh chămngoan và có năng lực, tuy nhiên phần lớn đều cho rằng chỉ cần giỏi 1 vài môntheo khối còn các môn còn lại thì bình thường là được nên dẫn đến tình trạnghọc lệch, học sinh khối A, B thì rất giỏi tự nhiên nhưng có 1 số lại không biết gì

về các môn xã hội cũng như ngoại ngữ; còn học sinh khối C thì học tốt về xã hội

Trang 10

nhưng lại nắm không chắc lĩnh vực tự nhiên, đặc biệt là công nghệ thông tincũng như ngoại ngữ…từ đó chưa thấy rõ được vai trò của các môn học trongviệc tìm kiếm việc làm trong tương lai.

Chính vì vậy, việc “Sử dụng kiến thức liên môn để nâng cao chất

lượng giảng dạy bài 17 " Lao động và việc làm”- Địa lý 12 cơ bản ở Trường THPT Lê Lợi ” là rất cần thiết Từ đó, giúp học sinh có những nhận thức đúng

đắn hơn đối với các môn học trong vấn đề lao động và việc làm trong tương lai,

giúp các em định hướng nghề nghiệp chính xác hơn

II BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

Đối với bài này thì kiến thức cơ bản là của môn Địa lí, vì vậy nguời dạycần phải cung cấp đầy đủ nhất, cơ bản nhất những kiến thức trong sách giáokhoa về đặc điểm nguồn lao động, cơ cấu lao động và vấn đề việc làm và hướnggiải quyết việc làm Tuy nhiên để làm cho học sinh hiểu sâu hơn các nguyênnhân gây ra hiện trạng thất nghiệp, thiếu việc làm cũng như phương hướng giảiquyết việc làm thì cần phải lồng ghép các vai trò của ngoại ngữ, đặc biệt là tiếngAnh và của Tin học, Giáo dục thể chất Việc sử dụng kiến thức liên môn củatiếng Anh, Tin học, Giáo dục thể chất sẽ giúp các em thấy được sự quan trọngtrong việc tiếp thu đầy đủ kiến thức của các môn học chẩn bị hành trang choviệc tìm kiếm việc làm trong tương lai không xa Cụ thể như sau:

1 Phần phân tích nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp.

“Hiện nay đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa, Việt Nam luôn là điểm sáng cho các nhà đầu tư nước ngoài như: Hàn Quốc,Nhật Bản, Đài Loan,… Là bộ phận trực tiếp tham gia vào các quy trình sảnxuất vì thế mà việc phát triển nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọngtrong việc phát triển kinh tế của các doanh nghiệp Tuy nhiên theo số liệu thống

kê của Viện khoa học lao động xã hội thì tỉ lệ thất nghiệp của cả nước tính đếntháng 6/2014 ở khoảng 1,84% nằm trong top những nước có tỉ lệ người thấtnghiệp cao nhất thế giới Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Việt Nam đang

có tình trạng việc làm ổn định cho người dân Theo đánh giá của Ngân hàng thếgiới ( World Bank), thì nước ta đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề,công nhân kĩ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấphơn nhiều so với các nước khác Trong khi tồn tại một nghịch lý đó là cử nhân,thạc sĩ ra trường không có việc làm vẫn còn ở mức báo động Từ con số 72.000người không có việc làm tăng lên đến 162.000 người trong đầu năm nay, trong

đó, nhóm người không có chuyên môn kỹ thuật chiếm gần 60% tổng số lao độngthất nghiệp, nhóm có bằng đại học và trên đại học chiếm gần 17% Như vậy, sovới thế giới, Việt Nam thuộc diện có tỉ lệ thất nghiệp thấp nhưng đối với tìnhhình lao động việc làm trong nước thì tỉ lệ thất nghiệp vẫn chiếm tỉ lệ cao Trongkhi đó, các dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực của doanh nghiệp nước ngoài vàoViệt Nam là trên 16.300 dự án, với tổng số vốn đầu tư thực tế khoảng 238 tỷUSD đã tạo ra không ít việc làm cho người lao động.” [10]Hơn nữa tình trạngthiếu việc làm vẫn là vấn đề bức xúc ở cả nông thôn và thành thị Ở thành thị,thất nghiệp ngày càng gia tăng trong khi có rất nhiều khu công nghiệp, tỉ lệ thất

Trang 11

nghiệp ở độ tuổi lao động 15-24 rất cao ở nhưng vùng kinh tế trọng điểm, cóquy mô lớn Còn ở nông thôn, tình trạng thiếu việc làm khá trầm trọng, đất đai

bỏ hoang, nông dân bỏ ruộng ra thành phố kiếm công việc có thu nhập cao Hơnnữa một số thanh niên ở nông thôn không có khả năng tìm kiếm việc làm thườnghay tụ tập, chơi bời, lêu lổng dẫn đến đời sống gia đình khó khăn, phát sinhnhiều vấn đề xấu trong xã hội

“Cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, nhân loại tiến hành cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ hiện đại với đặc trưng là sự xuất hiện và phát triển nhanhchóng công nghệ cao Đây là các công nghệ dựa vào những thành tựu khoa họcmới, với hàm lượng tri thức cao, có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh

tế - xã hội, làm cho nền kinh tế thế giới chuyển dần từ nền kinh tế công nghiệpsang một loại hình kinh tế mới - nền kinh tế tri thức.” [11] Đặc biệt, thế giớiđang đang bước sang một cuộc cách mạng công nghiệp mới, cuộc cách mạng4.0 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư này được cho là đã bắt đầu từ vàinăm gần đây, đại thể là cuộc cách mạng về sản xuất thông minh dựa trên cácthành tựu đột phá trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,công nghệ nano,… với nền tảng là các đột phá của công nghệ số Mặt khác,nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế, sự hợp tác trong phát triển kinh tếcủa nước ta với nước ngoài ngày càng nhiều, càng cao thì việc đòi hỏi người laođộng Việt Nam phải thông thạo ngoại ngữ, tin học là đòi hỏi tối cần thiết Tuynhiên, đây cũng chính là một trong những hạn chế của lao động Việt Nam

Chính vì thế, một trong những lí do khiến nhiều tri thức trẻ Việt Namkhông xin được việc làm đó là yếu ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh và trình độtin học Như chúng ta đã biết nước ta thu hút rất nhiều các nhà đầu tư nướcngoài đến kinh doanh Do đó khi cầm bằng cử nhân trên tay đi xin việc ở cáccông ti lớn thì chưa đủ, bạn phải có vốn ngôn ngữ đa dạng Bởi nếu bạn khônghiểu những gì họ nói bạn sẽ khó khăn trong công việc và rất dễ bị sa thải Thếnhưng hiện nay có rất ít học sinh, sinh viên hiểu được tầm quan trong của tiếngAnh trong xã hội Nó là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất thế giới, có ởkhắp mọi nơi, đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực như giao lưu, trao đổikinh nghiệm làm ăn với các quốc gia khác trên thế giới

Trang 12

Người lao động có nền tảng ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng tốtthì sẽ có nhiều cơ hội việc làm hấp dẫn Chẳng hạn khi bạn có trong tay tấm bằngTOEIC hay IELTS đi xin việc thì sẽ có nhiều có cơ hội hơn những người khác.

Để có một công việc tốt thì tiếng Anh hiện nay đối với các ứng viên là vô cùngquan trọng do các công ti đều tuyển dụng nhân viên bằng tiếng Anh, vì vậy nó rấthữu ích đối với người lao động trong tìm hiếm và nâng cao chất lượng lao động

Khi các bạn trẻ và những người lao động khác đã sử dụng được ngôn ngữtiếng Anh thì việc nắm bắt công nghệ thông tin là vô cùng dễ dàng Chúng tađang sống trong một thời đại khoa học kĩ thuật phát triển không ngừng, đặc biệtkhi cả Thế giới đang bước sang thời kỳ 4.0 thì công nghệ thông tin là lĩnh vực

vô cùng quan trọng Nó có mặt khắp mọi nơi, hiện diện trong mọi lĩnh vực củacuôc sống, nó trở thành phương tiện số hóa tất cả các dữ liệu, kết nối con ngườilại với nhau và mọi công việc hiện nay đều được thực hiện trên máy tính nhờ sựphát triển của công nghệ thông tin Do đó hiểu biết công nghệ thông tin là chiếcchìa khóa để mở đến những cơ hội nghề nghiệp lớn Hơn thế nữa, công nghệthông tin hiện là ngành được đầu tư và chú trọng từ những nước nghèo đến cácnước phát triển trong đó có Việt Nam Hầu như các tổ chức, các công ti, doanhnghiệp đều cần người làm trong lĩnh vực này Bên cạnh đó phạm vi của nó rấtrộng, bạn có thể tìm việc ở bất kì nơi nào và đặc biệt là bạn sẽ nhận được mứclương khá cao so với những ngành nghề khác

Ngày đăng: 21/10/2019, 19:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w