SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT THƯỜNG XUÂN 2 *** SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG MỘT SỐ THIÊN TAI Ở VIỆT NAM QUA MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG CHƯƠNG TRINHG ĐỊA
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT THƯỜNG XUÂN 2
***
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG MỘT SỐ THIÊN TAI
Ở VIỆT NAM QUA MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG
CHƯƠNG TRINHG ĐỊA LÍ LỚP 12
Người thực hiện: Nguyễn Văn Hùng Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Địa lí
THANH HOÁ NĂM 2019
Trang 2MỤC LỤC
Trang
I MỞ ĐẦU 01
I.1 Lí do chọ đề tài 01
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 01
I.2.1 Mục tiêu 01
I.2.2 Nhiệm vụ 01
I.3 Đối tượng nghiên cứu 02
I.4 Phương pháp nghiên cứu 02
II NỘI DUNG 03
II.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục kĩ năng phòng chống thiên tai qua các bài học Địa lí lớp 12 03
II.1.1 Thiên tai và các loại thiên tai thường có ở Việt Nam 03
II.1.1.1 Khái niệm thiên tai 03
II.1.1.2 Các loại hình thiên tai thường gặp ở Việt Nam 03
II.1.1.2.1. Bão 03
II.1.1.2.2 Ngập lụt 04
II.1.1.2 3 Lũ quét 04
II.1.1.2 4 Hạn hán 05
II.1.1.2.5 Động đất 06
II.1.1.2.6 Sương muối, sương giá 07
II.2 Thực trạng vấn đề 08
II.2.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh 08
II.2.2 Thực trạng về vấn đề giáo dục kỹ năng phòng chống thiên tai của GV qua các bài dạy Địa lí 12 08
II.2.3 Những hậu quả của thiên tai 09
II.3 Những kỹ năng phòng chống thiên tai 09
II.3.1 Kỹ năng chung 09
II.3.1.1 Khái niệm kỹ năng 09
II.3.1.2 Khái niệm kỹ năng phòng chống thiên tai 09
II.3.2 Những kỹ năng phòng chống thiên tai 09
II.3.2.1 Kỹ năng phòng chống bão 09
II.3.2.2 Kỹ năng phòng chống lũ 10
Trang 3II.3.1.2 Những vấn đề, những nội dung và vấn đề có liên quan đến thiên tai mà
cập 12
II.3.1.3 Không làm biến tính nội dung môn học, không biến bài học Địa lí lớp 12 thành bài giáo dục kỹ năng phòng chống thiên tai 13
II.3.1.4 Kế thừa và phát huy những kiến thức về phòng chống thiên tai đã có ở học
phương 13
II.3.2 Các nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống thiên tai trong chương trình
12 13
II.3.2.1 Cơ sở xác định nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống thiên tai 13
II.3.2.2 Xác định nội dung cụ thể về giáo dục kỹ năng phòng chống thiên tai trong
II.3.4.1 Ví dụ về phòng chống lũ quét và sạt lở đất 15
II.3.4.2 Ví dụ về phòng chống các loại thiên tai 16II.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân,đồng nghiệp và nhà trường 19II.4.1 Đối với hoạt động giáo dục 19II.4.2 Đối với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 19
NGHỊ 20
Trang 4III.1 Kết luận 21
nghị 21
I PHẦN MỞ ĐẦUI.1 Lý do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu toàn cầu là một trong những vấn đề được nhiều nước trên trênthế giới quan tâm Đặc biệt là biểu hiện của nó chính là thiên tai ngày càng trở nênkhốc liệt hơn về cường độ cũng như phạm vi ảnh hưởng Báo cáo môi trường quốc giamới đây nhất khẳng định: Biến đổi khí hậu là nguyên nhân gây ra những thiên tai lớn,
dị thường, vượt qua những hiểu biết hiện tại của con người như: bão, lũ, động đất,sóng thần xảy ra thường xuyên hơn tại nhiều nơi trên thế giới và cùng với nó, thiệthại về kinh tế cũng như sinh mạng ngày một nhiều hơn, diễn biến phức tạp hơn, gâyhậu quả khó lường
Việt Nam nằm ở vùng nội chí tuyến, với khí hậu nhiệt đới gió mùa, là một trong
5 trung tâm bão lớn của thế giới, hàng năm nước ta phải đối mặt với nhiều loại hìnhthiên tai thường xuyên như: áp thấp nhiệt đới, bão, lũ, lũ quét, ngập lụt, lốc xoáy, mưa
đá, động đất, sạt lở đất, hạn hán, cháy rừng, xâm nhập mặn… Những năm gần đâydiễn biến thiên tai và thời tiết lại ngày càng có nhiều biểu hiện bất thường và phức tạphơn, đó là sự đa dạng về loại hình, sự gia tăng về cường độ và tần suất thiên tai Theo
số liệu thống kê trong hơn 30 năm qua, thiên tai xảy ra ở khắp các khu vực trên cảnước đã gây ra nhiều tổn thất về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, về kinh tế, văn hóa, xãhội, tác động xấu đến môi trường, đẩy một bộ phận dân chúng quay trở lại ranh giới
Trang 5nghèo đói Có thể nói thiệt hại do thiên tai gây ra là rất nghiêm trọng, tuy nhiên ý thứccủa người dân về phòng chống thiên tai lại còn rất nhiều hạn chế Vì vậy việc tuyêntruyền và giáo dục những kỹ năng phòng chống thiên tai cho toàn dân, đặc biệt đưanội dung này vào trường học để giáo dục, rèn luyện cho học sinh có ý nghĩa vô cùngquan trọng và cấp thiết của nhà trường phổ thông.
Địa lí là một trong những môn học có cơ hội giáo dục kỹ năng phòng chốngthiên tai tốt cho học sinh, vì nội dung môn học có liên quan trực tiếp và gián tiếp đếnthiên tai Tuy nhiên dạy học môn Địa lí suốt thời gian dài chưa quan tâm mấy đến vấn
đề này Phần lớn chỉ dừng lại để học sinh “nghe qua cho biết” Trước tình hình thờitiết diễn biến phức tạp, thiên tai liên tục ở nhiều nơi trên thế giới, phần kiến thức vềthảm họa thiên nhiên được đưa vào chương trình Tuy nhiên, các kiến thức này chủyếu ở tầm vĩ mô, định hướng quản lý nhà nước, thiếu hẳn kiến thức về kỹ năng sốngchung với thiên tai
Thực tế ở độ tuổi học sinh, các em có tâm lý thích khám phá, thể hiện mình,tính cách năng động, tuy nhiên lại chưa ý thức được hết trách nhiệm của bản thân đốivới gia đình, xã hội Vì thế trước khi thiên tai xảy ra thường hay có tâm lý chủ quan,trong thiên tai thì lúng túng, không biết cách tự bảo vệ mình cũng như những ngườithân, khi thiên tai qua đi sẽ có nhiều mất mát thì rơi vào tình trạng hoảng loạn, bi quan
từ đó rất có thể có những hành động sai lầm làm ảnh hưởng đến cộng đồng
Từ những lý do nêu trên, giáo dục học sinh hiểu biết về các loại thiên tai và kỹnăng phòng chống thiên tai là một vấn đề hết sức cần thiết nhằm bảo vệ mình, giađình, người thân và xã hội Để trang bị cho các em những kiến thức, kỹ năng cần thiết
để phòng chống thiên tai, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Giáo dục kỹ năng phòng chống một số thiên tai ở Việt Nam qua một số bài học trong chương trình Địa lí lớp 12”
làm đề tài nghiên cứu
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
I.2.1 Mục tiêu
Qua đề tài nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết để phòng chống
khi thiên tai xảy ra
I.2.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc xác định nội dung và phương pháp giáo dục
kỹ năng phòng chống thiên tai qua các bài học Địa lí lớp 12
- Xác định nội dung và phương pháp dạy học giáo dục kỹ năng phòng chống
thiên tai qua các bài học Địa lí lớp 12
- Thực nghiệm sư phạm: Để kiểm chứng, đánh giá tính khoa học và tính khả thi
của giáo dục kỹ năng phòng chống thiên tai qua môn Địa lí lớp 12
I.3 Đối tượng nghiên cứu
* Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu về việc ứng dụng, giáo dục kĩ năng phòng chống thiên tai trongdạy học những phần, nội dung có liên quan bài học Địa lí lớp 12
* Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Trang 6- Phương pháp xử lí số liệu.
- Thông qua kinh nghiệm thực hiện giảng dạy bộ môn
II PHẦN NỘI DUNGII.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục kĩ năng phòng chống thiên tai qua các bài học Địa lí lớp 12
II.1.1 Thiên tai và các loại thiên tai thường có ở Việt Nam
II.1.1.1 Khái niệm thiên tai
Thiên tai là hiện tượng gây nên sự tàn phá và thảm họa bất ngờ trên
diện rộng Thiên tai do tự nhiên gây ra gồm các tai họa như bão, lũ lụt, hạn hán, bãotuyết, lốc xoáy, động đất, sóng thần có thể ảnh hưởng tới môi trường và dẫn tớinhững thiệt hại về tài chính, môi trường và con người
II.1.1.2 Các loại hình thiên tai thường gặp ở Việt Nam
Báo cáo môi trường quốc gia mới đây nhất khẳng định, do tác động của biến đổikhí hậu những năm gần đây thiên tai lớn, dị thường, vượt qua những hiểu biết hiện tạicủa con người, đã xảy ra ngày một thường xuyên hơn, diễn biến phức tạp hơn, gây hậuquả khó lường Các hiện tượng thiên tai phổ biến và gây thiệt hại lớn như: bão, ngậplụt, lũ quét, hạn hán, động đất, sóng thần, dông, lốc,…
II.1.1.2.1 Bão
Bão: là một vùng gió xoáy, có đường kính tới hàng trăm kilômét, hình thànhtrên vùng biển nhiệt đới Ở bắc bán cầu, gió thổi xoáy vào trung tâm theo hướngngược chiều kim đồng hồ
Trang 7Hình 1: Bão ở Việt NamNguyên nhân: Một cơn bão lớn hình thành phải có đủ các điều kiện: nhiệt độcao ở đại dương, độ ẩm cao trong tầng đối lưu, các cơn gió ở mọi độ cao và sự xuấthiện một đợt áp thấp nhiệt đới Vì vậy bão chỉ hình thành trên vùng đại dương nhiệtđới, nơi có vùng nước ấm, tối thiểu là 260C, không khí ẩm ướt và gió hội tụ Trên mặtbiển, nếu có hai cơn mưa dông gặp nhau, những luồng gió khi gặp nhau sẽ bốc lên caotheo luồng hơi nước bốc lên mặt biển ẩm và ở tầng trên của lớp đối lưu, luồng khí ẩmướt này toả ra và bắt đầu xoay theo quán tính hình thành từ chiều quay của Trái Đất.Nếu hiện tượng này tiếp tục thì vận tốc quay sẽ ngày càng tăng dần, những đám mâyđầy hơi nước cũng lớn dần, chúng cần phải tăng tốc xoay tròn do sự tản ra khi gặptầng bình lưu ở độ cao 16 km và một cơn bão hình thành.
Ở Việt Nam: Trên toàn quốc bão bắt đầu từ tháng VI và kết thúc vào tháng XI,đôi khi bão sớm vào tháng V, muộn vào tháng XII, nhưng cường độ yếu Ở nước tacường độ bão chậm dần từ Bắc vào Nam Bão tập trung vào tháng IX sau đó tháng X,tháng VIII Tổng số cơn bão ba tháng này chiếm 70% số bão toàn mùa
Trung bình mỗi năm có từ 3 – 4 cơn bão đổ bộ vào vùng bờ biển nước ta, cónăm lên đến 9 – 10 cơn Nếu tính đến cơn bão có ảnh hưởng đến thời tiết nước ta thìcòn nhiều hơn nữa, trung bình trong 45 năm gần đây, mỗi năm có gần 8,8 cơn bão
Bão thường có gió mạnh và mưa lớn: 300mm – 600mm Trên biển, bão gâysóng to có thể lật úp tàu thuyền, mực nước biển dâng cao gây ngập mặn vùng venbiển Nước dâng tràn đê kết hợp nước lũ do mưa lớn làm ngập lụt trên diện rộng Bãolớn, gió giật mạnh tàn phá các công trình vững chắc như nhà cửa, công sở, cầu cống,cột điện…Bão là một thiên tai gây thiệt hại lớn về người, tài sản, sản xuất và đời sốngnhân dân, nhất là vùng ven biển
II.1.1.2.2 Ngập lụt
Lụt là hiện tượng ngập nước của một vùng lãnh thổ
Trang 8Hình 2 Ngập lụt ở Thanh HóaNguyên nhân: Lụt có thể do thủy triều, nước biển dâng do bão Lụt có thể xuấthiện khi nước trong sông, hồ tràn qua đê hoặc gây vỡ đê làm cho nước tràn vào cácvùng đất được đê bảo vệ Trong khi kích thước của hồ hoặc các vực nước có thể thayđổi theo mùa phụ thuộc vào giáng thủy hoặc tuyết tan, nó không có nghĩa là lũ lụt trừkhi lượng nước này tràn ra gây nguy hiểm cho cho các vùng đất như làng, thành phốhoặc khu định cư khác.
Hiện nay ở Việt Nam vùng chịu ngập lụt nhiều nhất là đồng bằng sông Hồng
Do diện mưa bão rộng, lũ tập trung trong các hệ thống sông lớn, mặt đất thấp, xungquanh có đê sông, đê biển bao bọc Mức độ đô thị hóa cao cũng làm cho mức độ ngậplụt nghiêm trọng hơn Ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long không chỉ do mưa lũ gây
ra mà còn do triều cường Vì vậy khi tiến hành tiêu nước chống nhập lụt ở đồng bằngsông Cửu Long, cần tính đến các công trình thoát lũ và ngăn thủy triều Ở Trung Bộ,nhiều vùng trũng ở Bắc Trung Bộ và đồng bằng hạ lưu các sông lớn Nam Trung Bộcũng bị ngập lụt mạnh vào các tháng IX – X do mưa bão, nước biển dâng và nước lũnguồn về
Thiệt hại lớn nhất là ảnh hưởng nghiêm trọng đến mùa màng, hàng chục ngàn
ha lúa, màu và cây lương thực bị hư hại, hàng ngàn gia cầm, gia súc bị chết, hàng ngànnhà cửa, kho tàng trường học bệnh viện, hàng chục công trình giao thông, thuỷ lợi bịxuống cấp hoặc hư hỏng Thiệt hại về kinh tế không thể thống kê được, hơn nữa cácthiệt hại đó lại tập trung chủ yếu ở những vùng cao, vùng sâu, nơi trình độ dân trí vàkinh tế còn thấp.
II.1.1.2 3 Lũ quét
Lũ quét: Lũ quét là hiện tượng tự nhiên, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như:mưa với cường suất lớn trên địa hình đặc biệt, nơi có độ dốc lưu vực trên 20% - 30%,nhất là ở nơi có độ che phủ của thảm thực vật thưa do lớp phủ thực vật bị tàn phámạnh, độ ổn định của lớp đất mặt lưu vực kém, tạo điều kiện tập trung hình thànhdòng chảy dồn vào các sông suối thuận lợi, làm cho lượng nước tích tụ ngày càngnhanh và tạo ra thế năng rất lớn
Trang 9Hình 3 Lũ quét ở Lào Cai Nguyên nhân: Mưa lớn với cường độ cao, lưu vực có sườn núi dốc, địa hình bịchia cắt, lớp phủ thực vật thưa, bị phá huỷ bừa bãi, sự gia tăng dân số cũng là nguyênnhân khiến lũ quét xuất hiện nhiều Dân số tăng nhưng đất thì không tăng, rừng bị đốtphá để lấy đất làm nương rẫy…
Ở nước ta, theo nghiên cứu của Viện Khí tượng thủy văn cho thấy, từ năm 1950trở lại đây năm nào cũng có lũ quét mà xu hướng ngày càng tăng Ở miền Bắc lũ quétthường xảy ra vào các tháng VI – X, tập trung ở vùng núi phía Bắc như lưu vực sôngNậm La (Sơn La), Mường Lay (Lai Châu), Bát Xát (Lào Cai) Ở miền Trung vào cáctháng X – XII lũ quét cũng xảy ra nhiều nơi: Hoài Ân, An Lão, Vĩnh Thạnh (BìnhĐịnh)
Lũ quét thường phá huỷ nặng nề các công trình giao thông, thuỷ lợi, nôngnghiệp và các công trình hạ tầng cơ sở Đặc biệt, đất đá và dòng bùn có lúc, có nơi đãvùi lấp hoặc làm xói lở một diện tích lớn đất đai nông nghiệp, hoa màu, dẫn tới làmgián đoạn sản xuất nông nghiệp, giảm năng suất và sản lượng lương thực, có nơiruộng đồng bị xói lở hoặc bị đất đá vùi lấp từ 1 – 2m đã làm mất hẳn diện tích canhtác Những điều này có thể dẫn đến nạn phá rừng tiếp tục gia tăng để khai thác đất đaihoặc gia tăng các hoạt động phá rừng vô tổ chức để tìm kiếm các nguồn lợi khác nhằmthay thế phần đất đai đã mất
II.1.1.2 4 Hạn hán
Hạn hán: Là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảmhàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảysông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gâyảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đóinghèo dịch bệnh
Trang 10Hình 4 Hạn hán ở Duyên hải Nam Trung Bộ
Nguyên nhân: Do khí hậu thời tiết bất thường gây nên lượng mưa thường xuyên
ít ỏi hoặc nhất thời thiếu hụt Do con người gây ra: tình trạng phá rừng bừa bãi làm
mất nguồn nước ngầm dẫn đến cạn kiệt nguồn nước, việc trồng cây không phù hợp,vùng ít nước cũng trồng cây cần nhiều nước (như lúa) làm cho việc sử dụng nước quánhiều, dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước, thêm vào đó công tác quy hoạch sử dụngnước, bố trí công trình không phù hợp, làm cho nhiều công trình không phát huy đượctác dụng
Ở Việt Nam, khô hạn kéo dài và tình trạng hạn hán trong mùa khô diễn ra ởnhiều nơi Ở miền Bắc tại các thung lũng khuất gió như Yên Châu, Sông Mã (Sơn La),Lục Ngạn (Bắc Giang) mùa khô kéo dài từ 3 - 4 tháng Còn ở Miền Nam mùa khôkhắc nghiệt hơn: thời kỳ khô hạn kéo dài từ 4 - 5 tháng ở đồng bằng Nam Bộ và vùngthấp Tây Nguyên, 6 - 7 tháng ở vùng ven biển cực Nam Trung Bộ
Hạn hán gây tác động to lớn đến môi trường, kinh tế, chính trị xã hội và sứckhoẻ con người Hạn hán tác động đến môi trường như huỷ hoại các loài thực vật, cácloài động vật, quần cư hoang dã, làm giảm chất lượng không khí, nước, làm cháyrừng, xói lở đất Các tác động này có thể kéo dài và không khôi phục được Hạn hántác động đến kinh tế xã hội như giảm năng suất cây trồng, giảm diện tích gieo trồng,giảm sản lượng cây trồng, chủ yếu là sản lượng cây lương thực Các nhà máy thuỷđiện gặp nhiều khó khăn trong quá trình vận hành
II.1.1.2.5 Động đất
Động đất là hiện tượng rung động đột ngột của vỏ Trái đất, mạnh hay yếu tuỳtừng trận (xác định bằng độ Richter) do sự dịch chuyển các mảng thạch quyển hoặc cácđứt gãy ở dưới mặt đất và truyền qua các khoảng cách lớn
Nguyên nhân: Tầng nham thạch cứng và rắn chắc chịu sự tác dụng của cácmảng của vỏ Trái Đất trượt và xô đẩy nhau dần sinh ra hiện tượng nứt vỡ Khi có một
số vết rạn nứt lớn xảy ra rất bất ngờ sẽ gây nên sóng động đất, sóng này truyền đếnmặt đất và xảy ra hiện tượng động đất
Trang 11Hình 5 Động đất ở Điện Biên – Việt Nam
Việt Nam có không ít động đất Riêng thế kỷ XX đã ghi được khoảng 500 trậnđộng đất lớn nhỏ, phần lớn từ cấp 7 trở xuống một số ít có thể đạt cấp 8 và rất ít cấp 9.Việt Nam không có động đất lớn hơn cấp 9 Số liệu thống kê cho thấy từ năm 1900 cónhiều trận động đất mạnh xảy ra tại nước ta: 1935, 1942 tại Điện Biên, 1964 tại YênThế, 1983 tại Tuần Giáo (Lai Châu), 2001 tại Điện Biên, 2006 tại Đô Lương, 2012 tạiTrà My (Quảng Nam)
Động đất nước ta diễn ra mạnh tại các đứt gẫy sâu Vùng Tây Bắc là nơi có hoạtđộng động đất diễn ra mạnh nhất sau đó là khu vực Đông Bắc Các khu vực này có đứtgãy: Sông Hồng – Sông Chảy, Sơn La – Sông Đà, Sông Mã, Điện Biên – Lai Châu,Cao Bằng – Lạng Sơn, Đông Triều – Cẩm Phả
Động đất lớn có thể gây thiệt hại trầm trọng và gây tử vong bằng nhiều cách.Động đất có thể gây ra đất lở, đất nứt, sóng thần, nước triều giả, đê vỡ, hỏa hoạn Tuynhiên, trong hầu hết các trận động đất, sự chuyển động của mặt đất gây ra nhiều thiệthại nhất Năng lực của động đất được trải dài trong một diện tích lớn, và trong các trậnđộng đất lớn có thể trải hết toàn cầu
II.1.1.2.6 Sương muối, sương giá
Sương muối là hình thức ngưng tụ của hơi nước thành những tinh thể trắng,xốp, nhẹ, do nhiệt độ trên mặt đất hạ xuống dưới 00C
Hình 6 Sương muối ở Cao Bằng – Việt Nam
Trang 12Ở nước ta, khi không khí lạnh tràn về, vùng núi Bắc Bộ nằm sâu trong vùngkhông khí lạnh, đêm trời quang mây lặng gió, không khí ẩm đã lạnh lại bị bức xạ mấtnhiệt nên tiếp tục lạnh, nhiệt độ không khí giảm nhanh dẫn đến hình thành sươngmuối Sương muối thường xảy ra vào các tháng mùa đông, nhất là vào tháng XII,tháng I và II Nơi xuất hiện nhiều nhất là các tỉnh vùng núi Bắc Bộ, một số vùng trung
du Các tỉnh Trung trung bộ trở vào các tỉnh phía Nam hầu như không có hiện tượngsương muối
Sương giá là hình thức ngưng tụ của hơi nước ở các vùng có khí hậu lạnh tạothành các tinh thể băng bám trên cành cây, bụi cây, sương giá cũng làm cho mùa màng
bị thiệt hại lớn do nhiệt độ hạ thấp đột ngột Tuy nó không tác hại như sương muốinhưng nếu thời gian xuất hiện kéo dài thì sương giá cũng gây nguy hiểm đối với một
số loại cây trồng
Hình 7 Sương giá ở Lào Cai – Việt Nam
II.2 Thực trạng vấn đề
II.2.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh
Về sự tự ý thức: Ở lứa tuổi này đã phát triển tốt, các em đã thể hiện được vai tròcủa cá nhân đối với công việc xung quanh như bằng lòng hay không bằng lòng Tự ýthức là tài sản để các em soi xét, đánh giá mình về moi mặt trong cuộc sống có phùhợp với mục đích yêu cầu của thời đại hay không Tự ý thức phát triển, biết kiềm chếnhững hành vi, hành động không đúng đắn của mình
Giao tiếp và đời sống tình cảm: Giao tiếp thường xảy ra trong các nhóm tâm lý
có cùng sở thích, nhu cầu hoặc đôi bạn Tình bạn đã đi vào chiều sâu, so với lứa tuổitrước, tình bạn ở lứa tuổi này phải có lòng chân thành, vị tha, đồng cảm với nhau Các
em có nhu cầu cống hiến cho xã hội rất nhiều
II.2.2 Thực trạng về vấn đề giáo dục kỹ năng phòng chống thiên tai của GV qua các bài dạy Địa lí 12
- Nhận thức của giáo viên với giáo dục kỹ năng phòng chống thiên tai cho họcsinh: Tất cả các giáo được điều tra đều cho rằng giáo dục kỹ năng phòng chống thiêntai là việc làm rất cần thiết Sự quan tâm và nhận thức đúng đắn của giáo viên là điềukiện thuận lợi để giáo dục kỹ năng phòng chống thiên tai