1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

XÂY DỰNG hệ THỐNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM PHẦN ĐỘNG cơ đốt TRONG môn CÔNG NGHỆ lớp 11

26 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 195 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT HẬU LỘC 2 ---&--- SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM PHẦN ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 11 Người thực hiện:Đ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT HẬU LỘC 2 -& -

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM

PHẦN ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 11

Người thực hiện:Đinh Sỹ Hùng

Chức vụ: Giáo viên Đơn vị: Trường THPT Hậu Lộc 2

SKKN : Môn Công nghệ

Trang 3

I TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Để kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục thì có rất nhiều phương pháp Trong giaiđoạn hiện nay, đã có nhiều trường học, nhiều cơ sơ giáo dục áp dụng việc kiểm tra đánhgiá đối tượng của mình bằng hình thức trắc nghiệm khách quan Với xu hướng đổi mớihiện nay thì việc áp dụng hình thức kiểm tra đánh giá bằng phương pháp trắc nghiệmkhách quan cần được nghiên cứu nghiêm túc để sử dụng một cách có hiệu quả tronggiảng dạy và học tập ở nhà trường

Theo nghị quyết số 40/2000/QH-X (09/12/2000) của quốc hội khóa X về đổi mớichương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa mới đã được đưa ra thí điểm năm 2003

và thực hiện đại trà năm 2006 Đến năm 2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành kiểmtra kết quả học tập của học sinh bằng hình thức thi trắc nghiệm đối với một số môn trongcác kì thi học kỳ ở trường phổ thông và đặc biệt là kì thi tuyển sinh đại học trên toànquốc Vì vậy việc nghiên cứu và tiếp cận trương trình và hình thức thi trắc nghiệm mới lànhiệm vụ của tất cả giáo viên cũng như học sinh trong trường phổ thông, nhằm trang bịcho mình những kiến thức cơ bản và cần thiết trong giai đoạn đổi mới của nền giáo dụchiện nay

Từ những lí do trên cho thấy việc xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan làvấn đề cần thiết và mang tính cấp thiết Là một giáo viên giảng dạy nhiều năm tôi cảm

nhận được điều này là rất cần thiết nên tôi đã tìm hiểu và mạnh dạn đưa ra đề tài: “Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần động cơ đốt trong” môn Công nghệ lớp 11.

Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm có học lực tương đương nhau của lớp

11C4 và 11C5 Trường THPT Hậu Lộc 2 (mỗi nhóm có 10 học sinh, nhóm 1 là nhóm thực nghiệm, nhóm 2 là nhóm đối chứng) Thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế

từ tuần đầu học kỳ II đến hết học kỳ II của năm học 2017 - 2018

Qua nghiên cứu và thu thập số liệu, kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệtđến kết quả học tập của học sinh: nhóm thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn sovới nhóm đối chứng Điểm bài kiểm tra lần 1 của 2 nhóm có giá trị trung bình là 6,9 và6,8 Điểm bài kiểm tra lần 2 của 2 nhóm có giá trị trung bình là 8,3 và 7,3 Kết quả kiểmchứng t-test p = 0.03< 0,05 cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến việc đánh giákết quả học tập của học sinh và chất lượng học tập của học sinh đối với môn học Côngnghệ đã được nâng lên rõ rệt

Điều đó chứng minh rằng để kiểm tra đánh giá ta phải thay đổi phương pháp sao chophù hợp nhằm đánh giá đúng trình độ năng lực của học sinh giúp học sinh yêu thích mônhọc và nâng cao kết quả học tập

Trang 4

II GIỚI THIỆU

2.1 Hiện trạng:

Ở nước ta, việc kiểm tra đánh giá học sinh bằng hình thức tự luận như hiện nay thực

sự là một rào cản cho việc đổi mới phương pháp dạy học Thi thế nào thì dạy và học thế

ấy Việc đánh giá học sinh chỉ nhằm kiểm tra việc ghi nhớ, thuộc bài mà không chú trọngđến khả năng sáng tạo, không chấp nhận sự khác biệt trong nhận thức Nếu còn tiếp tụchình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập như hiện nay thì vẫn còn cách dạy “Thầygiảng - Trò ghi”

Trước đây do chưa nắm vững khoa học đo lường và KT-ĐG kết quả học tập nênphần lớn các đề kiểm tra 15’, 45’, kiểm tra học kỳ chỉ nhằm KT-ĐG học sinh thuộc bàicủa giáo viên đến mức nào Học sinh chỉ học theo bài giảng; không tham khảo tài liệuliên quan và những kiến thức được ứng dụng trong thực tế đời sống, không học theo lối

tư duy sáng tạo, không biết phê phán, không biết “nêu vấn đề” để có năng lực giải quyếtvấn đề Từ đó, chất lượng sản phẩm đào tạo về năng lực ở phổ thông trung học là khôngđáp ứng được yêu cầu của đào tạo và của xã hội thông tin tri thức

Để khắc phục lối “truyền thụ một chiều” (thầy giảng - trò ghi), phải kiên quyết loại

bỏ hình thức kiểm tra theo hình thức “học gì - thi nấy”, sao chép lại mớ kiến thức đãđược ghi chép, tiếp thu một cách thụ động Đánh giá kết quả học tập, phải đánh giá cảquá trình học tập, bao gồm cả tinh thần, thái độ học tập,…và đặc biệt phải cải tiến cáchthức kiểm tra (thi), đó là: Tăng cường kiểm tra TNKQ, làm bài tập môn học trên tinh thầnđảm bảo tính nghiêm túc, khách quan, tránh chạy theo bệnh thành tích, chạy theo chỉ tiêu.Kiểm tra kiến thức học sinh bằng phương pháp TNKQ sẽ thúc đẩy học sinh học tập chủđộng và tích cực hơn Nên khuyến khích dùng hình thức kiểm tra TNKQ thay thế cho cáchình thức cũ Chính vì vậy việc đổi mới KT-ĐG là vấn đề cần thiết hiện nay Vì nó đánhgiá được học sinh có thể hiểu và nhớ được những kiến thức cơ bản của môn học, chủ yếu

là nhớ ý nghĩa theo hệ thống kiến thức của chương trình Đánh giá được việc áp dụngkiến thức để giải quyết tình huống cụ thể, sự độc lập sáng tạo của học sinh Đánh giáđược động cơ, hứng thú, thái độ học tập của học sinh

Qua nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy nếu tiếp tục việc kiểm tra đánh giá học sinhbằng các hình thức cũ không còn phù hợp Chất lượng học tập môn Công nghệ nhìnchung chưa cao Qua kết quả học tập của các em lớp 11 nhiều năm cho thấy, đa số họcsinh của lớp có điểm khá và trung bình Nhiều học sinh chưa nắm vững kiến thức đã học,cũng như tiếp thu kiến thức mới được cung cấp còn chậm, chưa liên hệ, vận dụng đượckiến thức mới vào thực tế Phần lớn học sinh còn chưa yêu thích và hứng thú học tập mônCông nghệ

Trang 5

Đặc biệt đối với trường THPT Hậu Lộc 2 là một trường nằm trên địa bàn nôngnghiệp, là vùng xa của thành phố và có chất lượng đầu vào ở những năm gần đây khôngcao nên việc tiếp thu môn công nghệ còn gặp rất nhiều hạn chế.

Để thay đổi hiện trạng trên, đề tài nghiên cứu của tôi là ”Xây dựng hệ thống câu hỏi

trắc nghiệm phần động cơ đốt trong” môn Công nghệ lớp 11

2.2 Giải pháp thay thế:

Qua hiện trạng trên, tôi quyết định chọn đề tài ”Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần động cơ đốt trong” môn Công nghệ lớp 11, nhằm tìm ra giải pháp nâng

cao chất lượng môn học và làm cho học sinh hứng thú yêu thích môn học

Giáo viên biên soạn tài liệu giảng dạy với những kiến thức căn bản, trọng tâm màchương trình sách giáo khoa biên soạn, Đồng thời sau mỗi bài học giáo viên chốt lại cáckiến thức trọng tâm, giải đáp các thắc mắc của các em củng cố cho học sinh bằng các câuhỏi trắc nghiệm khách quan liên quan đến kiến thức của bài học Qua đó biên tập thànhngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan phục vụ quá trình dạy học, kiểm tra đánh giáhọc sinh vừa sức với trình độ của học sinh giúp các em nắm vững kiến thức, nội dung bàihọc và củng cố lại kiến thức sách giáo khoa và kiến thức thực tế trong đời sống Ngoài racòn kết hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm lớp để trao đổi nhắc nhở ý thức học tập củacác em Cho các em tự tìm hiểu thêm các kiến thức thực tế của môn học trong đời sống.Xây dựng ma trận đề cho các bài kiểm tra một cách hợp lý với nội dung chươngtrình

Sử dụng phần mềm trộn đề để các bài kiểm tra có ít nhất là 4 đề, giúp cho học sinh

tự giác làm bài trong các giờ kiểm tra

2.3 Một số nghiên cứu gần đây liên quan đến đề tài:

Về vấn đề ”Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần động cơ đốt trong” mônCông nghệ lớp 11 đã có một số bài viết được trình bày trong các hội thảo liên quan:

- Sáng kiến kinh nghiệm: “Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn công

nghệ bậc THPT” của chính bản thân đã trình bày năm 2015 và được hội đồng khoa học

của sở giáo dục đánh giá cao

Các đề tài này đều đề cập đến những định hướng, tác dụng, kết quả của việc đưaCNTT vào dạy và học

Trang 6

2.4 Vấn đề nghiên cứu:

Xem xét việc ”Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần động cơ đốt trong” mônCông nghệ lớp 11 có đánh giá được đúng trình độ nhận thức của học sinh hay không, cólàm nâng cao chất lượng môn học và làm cho học sinh hứng thú yêu thích môn học côngnghệ hay không

2.5 Giả thuyết nghiên cứu:

Việc ”Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần động cơ đốt trong” môn Côngnghệ lớp 11 sẽ giúp cho học sinh lớp 11C4 và lớp 11C5 của Trường THPT Hậu Lộc 2hiểu bài nắm vững kiến thức, làm nâng cao chất lượng môn học Làm cho học sinh hứngthú yêu thích môn học công nghệ và làm quen với phương pháp kiểm tra đánh giá bằngcâu hỏi trắc nhiệm khách quan

III PHƯƠNG PHÁP:

Tôi lựa chọn học sinh lớp 11C4 và lớp 11C5 của Trường THPT Hậu Lộc 2, vì lớp cónhiều điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu ứng dụng

3.1 Khách thể nghiên cứu:

*Giáo viên: Đinh Sỹ Hùng – giáo viên Công nghệ đang trực tiếp giảng dạy tại lớp

11C4 và lớp 11C5 trường THPT Hậu Lộc 2 thực hiện việc nghiên cứu

*Học sinh: chọn 20 học sinh của lớp 11C4 và lớp 11C5, trong đó 10 học sinh của lớp

11C4 là nhóm thực nghiệm và 10 học sinh của lớp 11C5 là nhóm đối chứng Về ý thức

học tập, tất cả các em đều chăm ngoan tích cực, chủ động tiếp thu kiến thức môn học Vềthành tích học tập của học kỳ 1, các em đều tương đương nhau về điểm số của môn học

3.2 Thiết kế

Tôi dùng thiết kế kiểm tra trước và sau tác động với các học sinh của lớp 11C4 vàlớp 11C5 của Trường THPT Hậu Lộc 2 Tôi căn cứ vào kết quả học tập của học kỳ 1 nămhọc 2017-2018 và bài khảo sát môn công nghệ đầu học kỳ 2 năm học 2017-2018 của 2lớp 11C4 và 11C5, do nhóm công nghệ ra đề và chọn ra 2 nhóm ngẫu nhiên là các họcsinh diện trung bình khá thuộc 2 lớp 11C4 và 11C5 là ngang nhau Tôi thực hiện tác độngvào nhóm 1 của lớp 11C4 bằng cách tổ chức các hoạt động dạy như bình thường nhằmgiúp học sinh lĩnh hội các kiến thức mới và kiến thức thực tế Đồng thời sau mỗi bài họctôi đưa ra hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhằm giúp các em củng cố lại kiếnthức đã học Do đó đã giúp học sinh yêu thích môn học hơn Qua tác động giải pháp thaythế 12 tuần, tôi tiến hành kiểm tra sau tác động đối với các học sinh của 2 lớp 11C4 và

Trang 7

11C5 bằng kết quả điểm kiểm tra bài 15’ thứ 2 của học kì II năm học 2017-2018 Sau đótôi dùng phép kiểm chứng T-test để phân tích dữ liệu.

Bảng 1 Kiểm chứng trước tác động để xác định các nhóm tương đương

Số HS

Điểm TB Kiểm tra

Độ lệch chuẩn

Giá trị p của T-test

Bảng thiết kế nghiên cứu:

Nhó

m

N1 O1 Sử dụng đề KT bằng câu hỏi TNKQ O3

N2 O2 Sử dụng đề KT bằng câu hỏi tự luận O4

N1: Nhóm thực nghiệm (10 học sinh xếp loại trung bình, khá lớp 11C4)

N2: Nhóm thực nghiệm (10 học sinh xếp loại trung bình, khá lớp 11C5)

3.3 Quy trình nghiên cứu:

* Chuẩn bị của giáo viên:

Nghiên cứu kỹ về lý thuyết phần câu hỏi trắc nhiệm khách quan, các nguyên tắckhi biên soạn câu hỏi trắc nhiệm khách quan

Soạn giảng theo hướng đổi mới, thường xuyên kiểm tra nhanh học sinh bằng cáccâu hỏi trắc nghiệm khách quan có liên quan tới kiến thức bài học

Sau mỗi bài học giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nhiệm khách quan theochuẩn kiến thức kỹ năng và các kiến thức trong thực tế đời sống sản xuất để củng cố bàicho học sinh

Tập hợp thành ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan phần động cơ đốt trong

để tổ nhóm tham khảo đóng góp ý kiến trong các buổi sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn

Xây dựng ma trận đề và sử dụng phần mềm trộn đề trắc nghiệm của Phạm VănTrung (lấy trên mạng Internet) để biên soạn đề kiểm tra

(Hệ thống câu hỏi xem trong phần phụ lục)

Trang 8

IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ:

4.1 Trình bày kết quả:

Bảng so sánh điểm trung bình sau khi tác động:

SốHS

Điểm TBKiểm tra

Độ lệchchuẩn

Giá trị pcủa T-test

Chênh lệch giá trị trungbình chuẩn SMD

4.2 Phân tích dữ liệu:

- Kết quả kiểm tra sau tác động cho thấy điểm trung bình của nhóm thực nghiệm là

8,3 cao hơn nhiều so với điểm trung bình kiểm tra trước tác động là 7,3 Điều này chứng

tỏ rằng việc đánh giá chất lượng học tập phần động cơ đốt trong - môn công nghệ lớp 11của học sinh 2 lớp 11C4 và 11C5 đã được nâng lên đáng kể

- Độ chênh lệch chuẩn của kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là

0.8624 < 1 điều này cho thấy mức độ chênh lệch có ý nghĩa.

- Độ chênh lệch điểm trung bình T-test cho kết quả p = 0.03 < 0,05 cho thấy sự

chênh lệch điểm khảo sát trung bình giữa trước và sau tác động là có ý nghĩa, tức là sựchênh lệch điểm trung bình khảo sát trước và sau tác động là không xảy ra ngẫu nhiên mà

là do tác động của giải pháp thay thế đã mang lại hiệu quả

- Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD =1.21466

Trang 9

so sánh với bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 1.21466 chothấy mức độ ảnh hưởng khi ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn công nghệ

lớp 11 là rất lớn Giả thuyết của đề tài đã được kiểm chứng.

Hình 1 Biểu đồ so sánh điểm trung bình kiểm tra trước tác động và sau tác động của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

4.3 Bàn luận:

+ Ưu điểm:

Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm có điểm trung bình là8,3, kết quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là 7,3 Độ chênh lệch điểm số giữahai nhóm là 1.0 điểm; Điều đó cho thấy điểm trung bình của hai nhóm đối chứng và thựcnghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, nhóm được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đốichứng rất nhiều

Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 1.21466 Điềunày có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn

Phép kiểm chứng T-test điểm trung bình sau tác động của hai nhóm là p =

0.03 < 0.05 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không

phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động của việc sử dụng câu hỏi trắc nhiệm khách quan

để đánh giá học sinh

+ Hạn chế: Nghiên cứu này là một giải pháp rất tốt để giúp học sinh nắm vững

kiến thức và yêu thích môn học nhưng để sử dụng có hiệu quả, người giáo viên cần phải

có trình độ về chuyên môn, ham tìm tòi các kiến thức ứng dụng trong thực tế và hiểu biết

Trang 10

về công nghệ thông tin, có kĩ năng thiết kế giáo án điện tử, biết khai thác và sử dụng cácnguồn thông tin trên mạng Internet, biết thiết kế kế hoạch bài học hợp lí Và đòi hỏi về cơ

sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học nhờ ứng dụng của công nghệ thông tin

V KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ:

5.1 Kết luận :

Việc “Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nhiệm” phần động cơ đốt trong lớp 11 có

mục đích phục vụ cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá học sinh

ở trường THPT THPT Hậu Lộc 2 Qua đó đã làm thay đổi cái nhìn của học sinh về mônhọc Điều này đã làm cho kết quả học tập, tiếp thu kiến thức môn công nghệ được nânglên, học sinh tự tin hơn trong học tập, thêm yêu thích môn học và ngày càng thân thiệnvới trường, lớp hơn

5.2 Khuyến nghị:

* Đối với các cấp lãnh đạo: cần quan tâm về cơ sở vật chất như trang thiết bị máy

tính, máy chiếu Projector hoặc màn hình ti vi màn hình rộng có bộ kết nối cho các nhàtrường Mở các lớp bồi dưỡng ứng dụng CNTT, khuyến khích và động viên giáo viên ápdụng CNTT vào dạy học

* Đối với giáo viên: Phải không ngừng đầu tư nghiên cứu tìm ra giải pháp nâng

cao chất lượng giáo dục Phải không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để hiểu biết về CNTT,dành nhiều thời gian và tâm huyết để xây dựng và sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nhiệmcho bộ môn, sử dụng thành thạo các phần mềm trộn đề trắc nghiệm

Với kết quả của đề tài nghiên cứu, tôi rất mong muốn được sự quan tâm, giúp đỡcủa các cấp lãnh đạo giáo dục Những ý kiến đóng góp quý báu, chân thành của quý đồngnghiệp giúp cho tôi hoàn chỉnh đề tài nghiên cứu này

VI TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Các bài viết, tài liệu trên mạng Internet

- Tài liệu tập huấn nghiên cứu KHSP ứng dụng dự án Việt Bỉ - Bộ GD&ĐT

- Tài liệu tập huấn giáo viên dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹnăng trong chương trình giáo dục phổ thông môn công nghệ cấp THPT - Bộ GD&ĐT

- Tài liệu tập huấn cán bộ quản lý,giáo viên về biên soạn đề kiểm tra đánh giá môncông nghệ cấp THPT - Bộ GD&ĐT

- Sách giáo khoa công nghệ 11 – Nhà xuất bản giáo dục – Bộ GD&ĐT

- Phần mềm trộn đề trắc nghiệm của Phạm Văn Trung

Trang 11

VII MINH CHỨNG - PHỤ LỤC CHO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHẢO SÁT TRƯỚC VÀ SAU TÁC ĐỘNG

Nhóm thực nghiệm (Lớp 11C4)

Stt Họ và tên học sinh 11C4

KT trước tác động Bài KT 15’

KT sau tác động Bài KT 15’

KT sau tác động Bài KT 15’

Trang 12

NGHIÊN CỨU CƠ BẢN VỀ CÂU HỎI TNKQ

1 Trắc nghiệm khách quan là gì?

TNKQ là phương pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng các câu hỏiTNKQ Trong đó, các yêu cầu thực hiện có kèm theo câu trả lời sẵn hoặc các phương ántiến hành đòi hỏi học sinh phải chọn một câu trả lời hoặc một phương án hay phải điềnthêm những thông tin nhất định vào câu trả lời

Thuật ngữ “khách quan” ở đây chỉ tính chất khách quan khi làm bài và chấm bài.Tuy nhiên, về mặt nội dung, cấu trúc, đặc điểm của các câu hỏi có ảnh hưởng bởi tínhchất chủ quan của người soạn câu hỏi

2 Bản chất của trắc nghiệm khách quan

Giao cho học sinh những câu hỏi kiểm tra để thăm dò đánh giá một số đặc điểm trítuệ của học sinh như trí nhớ, sự thông minh,…và một số yếu tố của kỹ năng, kỹ thuật nào

đó như quan sát các chi tiết động cơ đốt trong, phân tích các bộ phận thuộc các hệ thống,

cơ cấu, nhận biết, phân biệt các đối tượng cùng loại hoặc tương tự…

3 Vai trò của trắc nghiệm trong dạy học

a Đối với giáo viên

- Giáo viên thường kiểm tra - đánh giá học sinh để biết học sinh đạt đến trình độnào Các bài trắc nghiệm soạn kỹ, đúng phương pháp có thể là nguồn kích thích học sinhchăm lo học tập, sửa đổi những sai lầm và hướng các hoạt động học tập đến những mụctiêu như mong muốn

- Kết quả trắc nghiệm giúp giáo viên biết chỗ nào chưa đạt yêu cầu để thay đổiphương pháp giảng dạy Giúp nhà trường và giáo viên có cơ sở để chứng tỏ về trình độkhả năng học tập của học sinh

b Đối với học sinh

- Kiểm tra giúp học sinh biết mình phải làm gì? Giúp học sinh nhớ lại và có thể khắcsâu một vấn đề nào đó

- Kiểm tra cũng như cung cấp các kiến thức mới, giúp học sinh tự kiểm tra mình đãnắm chắc hay chưa những vấn đề nào đó, từ đó điều chỉnh phương pháp học tập

4 Ưu nhược điểm của phương pháp trắc nghiệm khách quan

Trang 13

- Các câu hỏi và đáp án đã được quy định về số lượng nội dung và đã chuẩn hóa nên

dễ sử dụng phương pháp thống kê toán học xử lý kết quả đề kiểm tra Do đó có thể pháthiện đồng đều kết quả kiểm tra của từng lớp học sinh

- Cách tiến hành và phương tiện đơn giản, phổ biến trên diện rộng nhờ máy tính

b Nhược điểm

- Dễ gây ra tình trạng đoán mò, chọn mò của học sinh, khi không nắm trắc kiến thức

- Không phát triển được tư duy sáng tạo cho học sinh

- Hạn chế trong việc rèn luyện kỹ năng viết, tư duy lập luận logic khi trình bày mộtvấn đề

- Hạn chế trong việc đánh giá kết quả nhận thức, thái độ của học sinh đối với thế giớiquan và nhân sinh quan

- Đòi hỏi giáo viên công phu trong khâu ra đề, đồng thời phải có một trình độ nhấtđịnh về mặt bằng chung của đối tượng cụ thể

5 Phân loại câu hỏi TNKQ

TNKQ gồm 4 loại cơ bản :

a Câu hỏi đúng-sai

Được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và học sinh trả lời bằng cách lựa chọn

“đúng” hoặc “sai”.Thực chất đây là dạng đăc biệt của câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựachọn Người soạn phải chọn cách hành văn sao cho những câu phát biểu trở nên khó hơnđối với học sinh chỉ học vẹt, chưa hiểu kỹ bài, học một cách lệch lạc, tránh chép nguyênvăn những đề trong sách giáo khoa

Loại câu hỏi này thich hợp khi cần gợi nhớ lại kiến thức và có thể kiểm tra đượcmột lượng kiến thức lớn một cách nhanh chóng Tuy nhiên, do yêu cầu cơ bản của loạicâu hỏi này là phải hoàn toàn rõ ràng là”đ” hoặc “s” hay là “không” hoặc “có”để có thểtrả lời dứt khoát, nên tạo ra sự khó khăn khi sử dụng để kiểm tra trình độ hiểu biết caohơn

b Câu hỏi trắc nghiệm loại điền khuyết

Loại câu hỏi này người học phải điền thêm một từ, một câu, một con số, một kíhiệu,…còn thiếu cho một câu hỏi trực tiếp hay một câu nhận định chưa đầy đủ Loại câuhỏi này có ưu thế là đòi hỏi học sinh phải tìm câu trả lời đúng hơn là nhận ra câu trả lờiđúng từ các thông tin Do đó phát huy được óc sáng kiến, giúp học sinh luyện trí nhớ vàvận dụng nó trong giờ học Tuy nhiên đây là loại câu hỏi khó được xây dựng rõ ràng vì

có thể có nhiều câu trả lời có giá trị gần như nhau và gây nên khó khăn cho người chấm

c Câu hỏi trắc nghiệm loại ghép đôi

Có thể xem đây là một dạng câu đặc biệt của TNKQ nhiều lựa chọn Dạng câu hỏinày thường gồm hai cột thông tin, một cột là những câu hỏi (hay câu dẫn), một cột là

Ngày đăng: 21/10/2019, 19:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w