Nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tinhọc, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn...
Trang 1MỤC LỤC
1 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài: 1
1.2 Mục đích nghiên cứu: 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu: 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu: 2
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1 Cơ Sở lý luận SKKN: 2
a Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp: 2
b Hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các nội dung học với thực tiễn đời sống: 3
c Hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các nội dung học với thực tiễn đời sống: 3
d Sử dụng phiếu học tập để cũng cố kiến thức: 3
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN: 5
2.2.1 Học sinh - Số liệu thống kê trước khi thực hiện đề tài: 5
2.2.2 Vấn đề vận dụng kiến thức vào thực tiễn: 6
2.3 Biên pháp sử dụng câu hỏi thực tiễn vào bài giảng phần “vi sinh vật” – Sinh học 10: 8
a Một số hình thức áp dụng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống trong tiết dạy: 8
b Hệ thống các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài giảng phần “Sinh học- vi sinh vật”- Sinh học 10: 8
c Sử dụng phiếu học tập để cũng cố kiến thức: 8
2.4.Hiệu quả của SKKN: 18
3 Kết luận và kiến nghị: 19
3.1 Kết luận: 19
3.2 Kiến nghị 19
PHỤ LỤC: 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO:……… 21
Trang 21 Mở đầu
1.1.Lí do chọn đề tài
Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa XI về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã xác định mục tiêugiáo dục phổ thông : "Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thểchất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năngkhiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tinhọc, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn "
Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồidưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh (Điều 24 - Luậtgiáo dục)
Đối với học sinh tại các Trung tâm GDNN - GDTX hầu hết học sinh đầuvào khi tuyển sinh thấp, các em còn lười học, ham chơi và rỗng kiến thức lớpdưới rất nhiều do đó các em rất khó tập trung trong giờ học đặc biệt là khả năngghi nhớ kiến thức còn hạn chế
Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy môn Sinh học ở các Trung Tâm GDNN
- GDTX hiện nay, việc giúp học sinh ghi nhớ kiến thức cơ bản, rèn luyện kỹnăng vận dụng kiến thức sinh học vào thực tiễn đời sống, vào giải quyết các vấn
đề thực tiễn còn chưa được chú trọng Vì vậy, đa phần học sinh đều cho rằng
môn Sinh học thường là “khô khan, khó hiểu, khó nhớ” Điều này gây ảnh
hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy và học bộ môn
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy môn Sinh học ở Trung Tâm GDNN –GDTX huyện Thường Xuân và trao đổi với đồng nghiệp tôi nhận thấy nếu giáoviên biết kết hợp giữa việc sử dụng câu hỏi gắn với thực tiễn hay nói cách khác
là giải thích cơ sở khoa học của những vấn đề thực tiễn đó khi giảng dạy bộmôn, đồng thời kết hợp với sử dụng phiếu học tập - giao nhiệm vụ cho học sinh
tự tổng hợp kiến thức có định hướng thì bài học sẽ hay hơn, sinh động hơn vàgiúp học sinh ghi nhớ kiến thức cơ bản của bài học có hệ thống và chủ động Từ
đó học sinh có hứng thú học tập và ghi nhớ kiến thức tốt hơn Từ những lí do đó,
tôi chọn đề tài: Kết hợp câu hỏi thực tiễn với phiếu học tập trong giảng dạy phần Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10.
1.2.Mục đích nghiên cứu
- Bước đầu xây dựng hệ thống câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống
thuộc kiến thức phần “Sinh học vi sinh vật”- Sinh học 10 ban cơ bản
- Vận dụng hệ thống câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống thuộc
kiến thức phần “Sinh học vi sinh vật”- Sinh học 10 ban cơ bản vào dạy học
nhằm tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh
- Xây dựng phiếu học tập để củng cố kiến thức phần “Sinh học vi sinh vật”- Sinh học 10 ban cơ bản nhằm giúp học sinh ghi nhớ nội dung cơ bản của
bài học
Trang 31.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về vấn đề sử dụng kiến thức gắn với thực tế và phiếuhọc tập để dạy học Sinh học theo hướng dạy học tích cực trong quá trình dạy
học các bài phần “Sinh học vi sinh vật”- Sinh học 10 ban cơ bản tại Trung
Tâm GDNN – GDTX huyện Thường Xuân Cụ thể áp dụng đối với học sinh 02lớp 10 (10A, 10B) trong đó: lớp 10A là lớp thí nghiệm (TN), lớp 10B là lớp đốichứng (ĐC) Hai lớp có số học sinh, độ tuổi và học lực tương đương nhau
1.4.Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu, thiết kế câu hỏi và phiếu học tập cho từng nội dung
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm (Giảng dạy thực nghiệm trên lớp)
- Phương pháp điều tra giáo dục - Sử dụng phiếu điều tra (Phụ lục)
- Phương pháp thống kê toán học (So sánh kết quả từ đó nhận xét hiệu quảcủa phương pháp)
2 Nội dung của SKKN
2.1 Cơ sở lí luận của SKKN
Để đáp ứng được phương pháp “Dạy học sinh học gắn với thực tế bộmôn” theo hướng dạy học tích cực thì phải nói đến vị trí, vai trò của các ứngdụng sinh học trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày Nếu các kiến thức thực tiễnđược sử dụng theo đúng mục đích sẽ là nguồn học sinh khai thác, tìm tòi pháthiện kiến thức, giúp phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, phát huy năng lựcnhận thức và tư duy khoa học cho học sinh Ứng dụng sinh học vào thực tế cuộcsống là một mục tiêu quan trọng trong hoạt động dạy học môn Sinh học, giữ vaitrò cơ bản trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học sinh học ở cấp Trung họcphổ thông
Trong những năm gần đây do yêu cầu đổi mới trong sự nghiệp giáo dục
về phương pháp dạy- học và nội dung chương trình Sách giáo khoa nên xuhướng nghiên cứu dạy học lấy học sinh làm trung tâm là chủ đạo Trong cáchướng nghiên cứu phổ biến hiện nay thì việc sử dụng phiếu học tập làm phươngtiện tổ chức hoạt động nhận thức, phát huy tính tích cực của học sinh đang thuhút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu
Đối với học sinh Trung học phổ thông nói chung và học sinh tại TrungTâm GDNN - GDTX nói riêng các em chưa có nhiều định hướng nghề nghiệpcho tương lai nên ý thức học tập các bộ môn chưa cao Người giáo viên dạy sinhhọc phải nắm được tâm lý và đặc điểm lứa tuổi của học sinh, từ đó thay đổiphương pháp dạy học bằng cách khai thác các hiện tượng, ứng dụng sinh họcthực tiễn đời sống hàng ngày để các em thấy môn sinh học rất gần gũi với các
em Để làm được điều đó giáo viên phải tổ chức được các hoạt động học sau chohọc sinh:
a) Hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp.
Với sự bùng nổ của các thành tựu khoa học trong các lĩnh vực: Vật lí,Sinh học, Hóa học…nên chương trình đào tạo cũng được phân chia thành cácmảng kiến thức tương đối tách rời, cô lập với những khái niệm chi tiết khó nhớ
Xu hướng hiện nay trong dạy học sinh học nói riêng và trong các lĩnh vực khoahọc nói chung, người ta cố gắng trình bày cho học sinh thấy mối quan hệ hữu cơcủa các lĩnh vực không những của sinh học với nhau mà còn giữa các ngành
Trang 4khoa học khác nhau như: sinh học, toán học, vật lí,…(Dạy học liên môn) Khidạy kiến thức sinh học bất kể từ lĩnh vực nào: Sinh học tế bào, sinh học vi sinhvật, di truyền học.…đều liên quan đến kiến thức vật lí, hóa học hay nhiều hiệntượng thiên nhiên; hoặc kiến thức thành phần hóa học của tế bào: gluxit, lipit,protein,…đều liên quan đến kiến thức hóa học Do vậy khi sử dụng những câuhỏi mở rộng theo hướng tích hợp sẽ làm cho học sinh chủ động tìm tòi câu trảlời, đồng thời thấy được sự liên hệ giữa các môn học với nhau.
Ví dụ: Khi học hóa học ta giải thích hiện tượng: Tại sao nước một số
sông hồ có màu đen? đó là do H 2 S trong nước ao kết hợp với Fe để tạo thành FeS kết tủa, thì với sinh học các em sẽ hiểu rõ hơn trong các môi trường kị khí như bùn trong các ao, sông, hồ một số vi sinh vật phân giải chất hữu cơ bắt nguồn từ xác thực vật, vận chuyển Ion và electron đến chất nhận electron cuối cùng là SO 4 2- được gọi là hô hấp sunphat Quá trình hô hấp này tạo ra khí H 2 S, khí này kết hợp với Fe có trong ao tạo ra FeS làm nước ao có màu đen
Tuy nhiên để dạy theo cách tích hợp như trên, người giáo viên phải biếtchọn những vấn đề quan trọng, mấu chốt nhất của chương trình để giảng dạycòn phần kiến thức dễ hiểu nên hướng dẫn học sinh về nhà đọc SGK hoặc cáctài liệu tham khảo Ngoài ra giáo viên phải chọn lựa các hiện tượng thực tiễnphù hợp với nội dung bài mới tăng hứng thú, say mê học tập, tìm hiểu bộ môn
b) Hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các nội dung học với thực tiễn đời sống.
Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy vàhọc giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáokhoa với thực tiễn đời sống hàng ngày Rất nhiều kiến thức sinh học có thể liên
hệ được với các hiện tượng tự nhiên xung quanh chúng ta
Ví dụ: Tại sao dưa cà muối lại bảo quản được lâu?
Giải thích:Khi muối dưa cà, axitlactic do vi khuẩn lactic tiết ra cùng với
nồng độ muối cao kìm hãm sinh trưởng của các vi sinh vật khác, đặc biệt là vi sinh vật gây thối rau quả.
c) Hướng dẫn học sinh học tập thông qua các tình huống giả định bằng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống.
Trong quá trình dạy học nếu ta chỉ áp dụng một kiểu dạy thì học sinh sẽnhàm chán Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp dạy học lồng ghép vàonhau, trong đó hình thức giảng dạy bằng cách đưa ra các tình huống giả địnhkèm vào các phương pháp dạy để học sinh tranh luận Phương pháp này vừaphát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh vừa tạo được môi trường thoảimái để các em trao đổi từ đó giúp học sinh thêm yêu thích môn học hơn
Ví dụ: Khi học bài: Ảnh hưởng của các yếu tố hóa học đến sinh trưởng
Trang 5Tình huống mang tính thách đố như vậy sẽ kích thích học sinh học tập và thi đua nhau tìm câu trả lời Các em sẽ nhớ kiến thức lâu hơn
d)Sử dụng phiếu học tập để củng cố kiến thức
Sử dụng phiếu học tập để so sánh, khái quát hóa, tổng hợp hóa kiến thức sau khi giảng dạy các bài học, các phần có các cơ chế, quá trình, hiện tượng tương tự nhau
Để củng cố bài học, giáo viên vẫn tiến hành dạy bình thường theo nội dung trong SGK, sau đó giáo viên phát phiếu học tập để HS tự tóm tắt kiến thức dựa vào nội dung đã học Đây coi như phần ghi nhớ kiến thức của bài
Để củng cố chương hoặc một chủ đề lớn, tốt nhất giáo viên phát PHT cho từng HS để HS tự chuẩn bị ở nhà Đến giờ ôn tập cho HS báo cáo kết quả, GV nhận xét, tổng kết làm nội dung học tập chính thức
Ví dụ: Sau khi dạy xong bài 25 “Sinh trưởng của vi sinh vật” Giáo viên
sử dụng phiếu học tập sau để củng cố kiến thức hoặc giao học sinh về nhà::
Sinh trưởng của sinh vật trong môi trường nuôi cấy không liên tục
Quan sát đồ thị sau và trả lời câu hỏi:
Câu hỏi:
- So sánh đặc điểm các pha
- Để thu sinh khối sinh vật tối đa thì nên dừng ở pha nào? Tại sao?
Trả lời: - Sự khác nhau giữa các pha: Nội dung PHA TIỀM PHÁTPHA CẤP SỐ PHA CÂN BẰNG PHA SUY VONG Đặc điểm ………
………
………
………
………
………
………
………
- Để thu sinh khối tối đa thì nên dừng ở pha ……… bởi vì ………
* Cách xử lí PHT
Để nhận xét, đánh giá hoạt động học tập của HS, GV có thể có nhiều cách
xử lí PHT khác nhau tuỳ theo từng nội dung kiến thức, mục đích sử dụng
- PHT sử dụng theo nhóm: sau thời gian hoạt động nhóm để hoàn thành PHT, GV có thể thu lại PHT và quan sát nhanh để biết kết quả của nhóm Khi
N
b
c
d
t (giờ )
Hình 38-1 Đồ thị sinh trưởng của quần thể vi khuẩn trong môi trường nuôi cấy không liên tục
N 0 a
a: Pha tiềm phát b: Pha luỹ thừa c: Pha cân bằng động d: Pha suy vong
Trang 6gọi đại diện nhóm trình bày GV có thể đưa lại phiếu để nhóm đó trình bày sau
đó tiếp tục thu lại để đánh giá sau tiết học GV cũng có thể yêu cầu các nhóm
HS đổi phiếu cho nhau để các nhóm đánh giá chéo nhau sau khi GV đưa đáp ánPHT Nếu có sử dụng máy chiếu thông minh, GV có thể chiếu các PHT của cácnhóm để cả lớp cùng đánh giá
- PHT hoạt động cá nhân: có thể cho HS đánh giá chéo nhau dựa trên đáp
án GV đưa ra sau khi đã gọi một số HS trình bày, hoặc GV cũng có thể thu về
để đánh giá sau Nếu không thu phiếu lại, GV có thể đánh giá ngẫu nhiên mộtvài HS, nếu các em làm tốt thì tuyên dương, nếu làm chưa tốt cần nhắc nhở.Sau khi GV nhận xét, đưa đáp án, cần yêu cầu HS chỉnh sửa trong phiếu họctập những kiến thức chưa chính xác để đi đến kết luận thống nhất kiến thức bàihọc HS có thể giữ PHT đó lại hoặc viết nội dung trong phiếu vào vở ghi làmkiến thức ôn tập sau này
* Trong quá trình dạy học trên lớp có sử dụng PHT, GV cần lưu ý:
- Bao quát và theo dõi hoạt động của HS Trong PHT có thể có những sựkiện, nội dung khó trả lời, quá trình học tập có thể rơi vào tình trạng bế tắchoặc chệch hướng GV phải xử lí tất cả các tình huống có thể xảy ra trong quátrình HS làm việc với PHT Điều đó không có nghĩa là giải đáp mọi vướng mắccủa HS, đưa ra những kết luận hoàn toàn chính xác Ý nghĩa chủ yếu của việc
xử lí là hỗ trợ, thúc đẩy quá trình học tập tiến triển theo hướng tích cực, khuyếnkhích HS hoạt động tích cực hơn
- Có thể động viên, khuyến khích những HS học tập tốt dưới hình thứcbiểu dương hoặc cho điểm tốt
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
2.2.1 Học sinh - Số liệu thống kê trước khi thực hiện đề tài
Tôi xây dựng và lấy thông tin phiếu khảo sát sự hứng thú của học sinh 02lớp đối với môn sinh học (Sau khi học xong phần II Sinh học tế bào – Phụ lục)
a) Thực trạng: Thái độ - hứng thú của học sinh khối 10 đối với môn Sinh học
b) Yếu tố gây chán ghét khi học môn Sinh ở các em là gì?
Trang 7Môn Sinh rắc rối, khó nhớ 10 27,8 4 16,7 14 23,3Thầy cô dạy khó hiểu, giờ
c) Kết quả học tập của học sinh
- Kiến thức môn Sinh còn khá nặng, nên giảm tải bớt
- Bài giảng cần sinh động hơn; giáo viên nên giảng bài sôi nổi hơn, liên
hệ thực thế nhiều hơn, đặc biệt là những ứng dụng, hiện tượng ngoài thựctiễn….để tiết học thêm sinh động và giúp các em dễ hình dung và hiểu bài,không nên chỉ cho học sinh đọc sách giáo khoa, gây nhàm chán
- Chưa có phương pháp ghi nhớ kiến thức cơ bản và có hệ thống
2.2.2 Vấn đề vận dụng kiến thức vào thực tiễn và ghi nhớ kiến thức của học sinh.
Chương trình Sinh học trung học phổ thông ở nước ta hiện nay (thể hiệnthông qua nội dung sách giáo khoa của các lớp 10, 11 và 12) bao gồm 7 phần.Mỗi phần được thể hiện bằng nhiều đơn vị kiến thức, tương ứng với các cáchtiếp cận kiến thức khác nhau Đây là lượng kiến thức phong phú, các em có thểchủ động lĩnh hội, vận dụng vào việc giải thích những hiện tượng xảy ra hàngngày trong đời sống Nhưng điều đó đã không diễn ra trên thực tế như những gìchúng ta mong đợi
Các kiến thức sinh học về vi sinh vật lẽ ra phải là một trong các cơ sở tốt
nhất để các em vận dụng vào thực tiễn, nhưng điều đó dường như vẫn còn “xa vời” đối với các em và có lẽ vẫn chỉ là nội dung các khái niệm, cách giải các bài
tập, chúng còn “nằm yên” một cách khiêm tốn trên những trang vở, theo tôi
Trang 8vẫn còn thiếu một cái gì đó để có thể “đánh thức” chúng dậy, làm cho chúng trởthành một trong những hành trang tốt trong cuộc sống của mỗi học sinh.
Một vấn đề nữa là khi hỏi ngay trên lớp về các nội dung cơ bản của bàihọc một số học sinh có thể trả lời ngay, nhưng đến giờ sau – kiểm tra bài cũ, gầnnhư không học sinh nào trả lời được Câu trả lời giáo viên nhận được nhiều nhất
“Thưa thầy em không thuộc bài…”.
Tôi cũng đã trao đổi vấn đề này với nhiều đồng nghiệp hầu như họ cũng
có chung nhận định như vậy, thậm chí nhiều giáo viên giảng dạy ở khu vực nôngthôn, miền núi khó khăn hơn cho biết thực trạng trên còn có thể xấu hơn
Trăn trở với thực trạng đáng buồn trên, tôi đã đi tìm những nguyên nhân của vấn đề và những nguyên nhân ấy bộc lộ dưới những hình thức nào?
Theo tôi, nguyên nhân cơ bản là:
Thứ nhất: Nguyên nhân khách quan phải kể đến, là sự quá tải của
chương trình Nội dung kiến thức trong phần lớn các bài học là quá nhiều, khôngthích ứng với thời gian quy định của mỗi tiết học Thực tế giảng dạy cho thấy,với thời gian 45 phút của một tiết học, nếu chỉ sử dụng một cách “tiết kiệm”nhất: 2 phút để ổn định lớp, 5 phút để kiểm tra bài cũ (chủ yếu là kiểm tra nhữngkiến thức rất cơ bản), 3 phút để củng cố bài (thực chất chỉ đủ để nhắc lại nhữngkiến thức chính vào cuối tiết học) thì thời gian còn lại chỉ là 35 phút dành chothầy và trò tiến hành các hoạt động nhận thức của bài học Trong khoảng thờigian này, với nội dung kiến thức tương đối nhiều, việc làm cho học sinh hiểuđược kiến thức bài học thôi cũng đã là khó khăn, giáo viên không còn đủ thờigian để liên hệ kiến thức mà học sinh vừa lĩnh hội được với thực tế đời sống,hoặc nếu có liên hệ được thì cũng chỉ dưới hình thức liệt kê tên gọi của các sựvật, hiện tượng mà thôi
Thứ hai: Việc giảng dạy kiến thức cho học sinh nói chung và kiến thức
sinh học nói riêng ở nhiều trường, Trung tâm vẫn còn tiến hành theo lối “thôngbáo - tái hiện” Do những khó khăn nhất định về kinh phí, cơ sở vật chất, thiết bịnên chưa khuyến khích được giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, không tạođược những điều kiện tốt để giáo viên có thể sử dụng các hình thức dạy học tiêntiến (sử dụng các phương tiện dạy học như phiếu học tập, tranh ảnh tự làm, tựsưu tầm, máy tính, thực hiện các tiết học bằng bài giảng điện tử, dã ngoại ) và
do đó lối “dạy chay” vẫn là cách dạy học ngự trị ở nhiều Trung tâm hiện nay
Thứ ba: Nguyên nhân thuộc về chủ quan của mỗi giáo viên đứng lớp,
nhiều giáo viên chưa có sự chuẩn bị tốt nhất cho bài giảng, giáo án còn thiên vềcung cấp kiến thức giáo khoa một cách thuần túy, chưa coi trọng việc soạn và sửdụng bài giảng theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, điềunày làm cho học sinh khá thụ động trong việc lĩnh hội và vận dụng kiến thức
Thứ tư: Cách kiểm tra đánh giá hiện nay đã có % câu hỏi vận dụng thấp
và câu hỏi vận dụng cao được đưa vào Tuy nhiên trong thực tế áp dụng giáoviên thường hạn chế đưa các câu hỏi dạng này vào, đây chính là một “ khe hở”khá rộng một nguyên nhân khá rõ để giải thích cho thực trạng nêu trên
Giải quyết thực trạng trên như thế nào? Đó là một vấn đề khó Tôi xin đưa
ra giải pháp mà bản thân đã tích luỹ được qua thực tiễn giảng dạy tại Trung tâmGDNN – GDTX huyện Thường Xuân, mong rằng giải pháp này có thể giúp ích
Trang 9cho chúng ta cải thiện được ít nhiều thực trạng trên, nhằm giúp học sinh hứngthú học tập bộ môn sinh học.
2.3 Biện pháp sử dụng câu hỏi thực tiến và phiếu học tập vào bài giảng phần “ vi sinh vật” – sinh học 10.
a) Một số hình thức áp dụng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống trong tiết dạy:
* Đặt tình huống vào bài mới.
Tiết dạy có gây sự chú ý của học sinh hay không nhờ vào người hướngdẫn (giáo viên) rất nhiều Trong đó phần mở đầu đặc biệt quan trọng, nếu ta biếtđặt ra một tình huống thực tiễn hoặc một tình huống giả định yêu cầu học sinhcùng tìm hiểu, giải thích qua bài học sẽ cuốn hút được sự chú ý của học sinhtrong tiết dạy
* Lồng ghép tích hợp kiến thức có liên quan đến vấn đề môi trường vào bài dạy.
Vấn đề môi trường: nước, không khí, đất, đang được con người nhắc đếnrất nhiều Trong cuộc sống hằng ngày các hiện tượng thường xuyên bắt gặp như:nước thải của một ao cá, chuồng heo, chuồng vịt ; khói bụi của các nhà máyxay lúa, các lò gạch, các cánh đồng sau thu hoạch, có liên quan gì đến nhữngdiễn biến bất thường của thời tiết hiện nay không Giáo viên dạy học bộ mônsinh có thể lồng ghép các hiện tượng đó vào phần sản xuất các sản phẩm sinhhọc, hay ứng dụng của một số vi sinh vật Ngoài việc gây sự chú ý của học sinhtrong tiết dạy còn giáo dục ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường cho từng họcsinh Tùy vào thực trạng của từng địa phương mà ta lấy các hiện tượng cho cụthể và gần gũi với các em
* Liên hệ kiến thức có liên quan đến thực tiễn đời sống trong bài dạy.
Khi học xong vấn đề gì học sinh thấy có ứng dụng thực tiễn cho cuộcsống thì các em sẽ chú ý hơn, tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu, để nhớ hơn
Do đó mỗi bài học giáo viên đưa ra được một số ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốnđược sự chú ý của học sinh Giáo viên cũng cần chú ý khi sử dụng các hiệntượng sinh học thực tiễn nên khéo léo trong giải thích vấn đề, vì cấp độ bộ mônsinh ở THPT nhiều khi chưa tìm hiểu sâu quá trình diễn biến của sự việc hayhiện tượng Do đó giáo viên phải biết lựa chọn cách giải thích cho phù hợp, nếuhọc sinh tỏ ra tìm tòi hơn chúng ta có thể khích lệ, mở ra hướng giáo dục vai tròquan trọng của bộ môn mà các em sẽ được tìm hiểu ở các cấp cao hơn
b) Hệ thống các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài giảng phần “Sinh học vi sinh vật”- Sinh học 10.
*Hệ thống các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài giảng thuộc:
Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật
Câu 1: Tại sao dưa muối lại chua, ăn ngon và giữ được lâu?
Giải thích: Muối dưa, cà là hình thức lên men lactic tự nhiên, do vi khuẩn
lactic Vị chua là vị của axit lactic Do vi khuẩn lactic và dung dịch muối ức chế
sự phát triển của các vi khuẩn gây thối nên giữ được lâu
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên để đặt vấn đề, giới hạn kiến
thức vào chương và bài học của phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi
Trang 10sinh vật.
Câu 2: Vì sao không nên bón Phân đạm cùng với phân chuồng trên
những ruộng lúa ngập nước?
Giải thích: Vi khuẩn phản nitrat hóa có khả năng dùng nitrat chủ yếu làm
chất nhận điện tử Tùy theo loài vi khuẩn mà sản phẩm của khử nitrat dị hóa là
N2, N2O hay NO, đây đều là những chất mà cây trồng không hấp thụ được Quátrình phản nitrat hóa xảy ra mạnh khi đất bị kị khí như khi dùng phân đạm(nitrat) cùng với phân chuồng trên những ruộng lúa ngập nước, đạm nitrat dùngbón cho lúa bị nhóm vi khuẩn này sử dụng rất nhanh, nitrat có thể mất hết rấtnhanh mà cây trồng không kịp sử dụng
Áp dụng: Giáo viên đặt câu hỏi trên để đặt vấn đề vào bài 22: Dinh
dưỡng, chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật.
Câu 3: Tại sao khi đi gần các sông, hồ bị ô nhiễm vào ngày nắng nóng,
người ta ngửi thấy mùi khai ?
Giải thích: Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ giàu
đạm như nước tiểu, phân hữu cơ, rác thải hữu cơ… thì lượng urê trong các chấthữu cơ này sinh ra nhiều Dưới tác dụng của men ureaza của các vi sinh vật, urê
bị phân hủy tiếp thành CO2 và amoniac NH3 theo phản ứng:
(NH2)2CO + H2O CO2 + 2NH3
NH3 sinh ra hòa tan trong nước sông, hồ dưới dạng một cân bằng động.Như vậy khi trời nắng (nhiệt độ cao), NH3 sinh ra do các phản ứng phân hủy urêchứa trong nước sẽ không hòa tan vào nước mà bị tách ra bay vào không khí làmcho không khí xung quanh sông, hồ có mùi khai khó chịu
Áp dụng: Đây là hiện tượng thường gặp quanh hồ, ao, nhất là vào mùa
khô, nắng nóng Giáo viên nêu vấn đề để chuyển sang mục mới
Câu 4: Rơm, rạ hay cỏ là thức ăn rất nghèo chất dinh dưỡng (chủ yếu là
chất sơ) - Tại sao trâu bò lại có thể sử dụng làm thức ăn chính được?
Giải thích: Trong dạ cỏ của trâu, bò chứa các vi sinh vật, trong các vi sinh
vật đó chứa các enzim có khả năng phân giải xenlulozo, heemixenlulozo vàpectin trong rơm, dạ, cỏ thành các chất đơn giản cơ thể hấp thụ và sử dụng được
Áp dụng: Giáo viên đặt câu hỏi trên để mở rộng mục II.2 Phân giải
polisaccarit và ứng dụng hoặc củng cố bài 23: Quá trình tổng hợp và phân giải các chất ở vi sinh vật.
Câu 5: Tại sao khi nướng bánh mì lại trở lên xốp?
Giải thích: Khi làm bánh mì, ngoài bột mì ra thì một thành phần không
thể thiếu là men, đây là những vi sinh vật - nấm mem trao đổi chất mạnh hìnhthành khí cacbonic, sinh khối và vitamin Khí cacbonic trong bột sẽ giãn nở vàtăng thể tích khi nướng nên làm bánh mì nở, rỗng ruột và trở nên xốp hơn
Áp dụng: Giáo viên đặt câu hỏi trên củng cố (mở rộng) bài 23: Quá trình
tổng hợp và phân giải các chất ở vi sinh vật (Lợi ích của vi sinh vật)
Câu 6: Trong làm tương và làm nước mắm có sử dụng cùng một loại vi
sinh vật không?
Giải thích: Không, vì làm tương nhờ nấm vàng hoa cau là chủ yếu, loại
nấm này tiết ra proteaza để phân giải protein trong đậu tương Làm nước mắmnhờ vi khuẩn kị khí trong ruột cá là chủ yếu, chúng sinh ra proteaza để phân giải
Trang 11protein của cá.
Áp dụng: Giáo viên đặt câu hỏi trên để mở rộng ứng dụng quá trình phân
giải protein – Mục II.1 bài 23
Câu 7: Người ta đã áp dụng hình thức lên men nào trong muối dưa, cà?
Làm thế nào để muối được dưa, cà ngon?
Giải thích: Muối dưa, cà là hình thức lên men lactic tự nhiên, do vi khuẩn
lactic Muốn muối dưa, cà ngon phải tạo điều kiện ngay từ đầu vi khuẩn lacticlấn át được vi khuẩn gây thối Do đó phải cho đủ muối, nhưng không được quánhiều vì sẽ ức chế ngay cả vi khuẩn lactic làm dưa không chua được
Áp dụng: Giáo viên đặt câu hỏi trên để đặt vấn đề vào bài hoặc liên hệ
thực tế bài 23 mục II quá trình phân giải các chất ở vi sinh vật.
Câu 8: Tại sao rượu vang hoặc sâmpanh đã mở thì phải uống hết?
Giải thích: Đã mở phải uống hết vì để đến hôm sau dễ bị chua, rượu nhạt
đi do bị ôxi tạo ra dấm - axit acetic… Đây là quá trình oxi hóa hiếu khí đượcthực hiện bởi nhóm vi khuẩn thuộc chi Acetobacter, để lâu hơn axit acetic bị oxihóa thành CO2 và H2O dấm nhạt đi
Áp dụng: Giáo viên đặt câu hỏi trên để liên hệ thực tế trong bài 24: Thực hành lên men Etilic và Lactic.
Câu 9: Tại sao những quả có vị ngọt như vải, nhãn để 3 đến 4 ngày
thường có mùi chua?
Giải thích: Vì trong dịch quả có nhiều đường, nấm men ở trên vỏ xâm
nhập vào và quá trình lên men diễn ra Sau đó các vi khuẩn chuyển hóa dườngthành rượu, từ rượu thành axit khiến quả bị chua
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên để đặt vấn đề vào bài 24: Thực
hành lên men Etilic.
Câu 10: Vì sao rượu trưng cất bằng phương pháp thủ công ở một số vùng
dễ làm người uống đau đầu?
Giải thích: Nấu rượu bằng nồi đồng xảy ra phản ứng:
Câu 11: Ở Thanh Hóa có đặc sản nem chua, ăn nem chua có đảm bảo
sạch hay không vì nem chua làm bằng thịt sống hoàn toàn mà không qua đunnấu?
Giải thích: Làm nem chua dựa trên nguyên lí lên men lacstic đảm bảo an
toàn, nhung nếu trong quá trình làm không vệ sinh đúng thì các vi khuẩn lênmen thối hoạt động
Áp dụng: Giáo viên đặt câu hỏi trên để liên hệ thực tế trong bài thực hành
lên men lactic – Bài 24.
* Hệ thống câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài giảng thuộc:
Chương II: Sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật
Câu 1: Trong môi trường tự nhiên (đất, nước), pha lũy thừa có xảy ra