Khỏe để lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước mà Đảng và nhà nước đã xác định Ngày nay một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá trì
Trang 1Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU 2- 3
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu:
3 Đối tượng nghiên cứu:
4 Phương pháp nghiên cứu:
2333
PHẦN II NỘI DUNG SÁNG KIẾN 3-20
1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
PHẦN III KẾT LUẬN 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
MỤC LỤC Trang 1
Trang 2
PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong thực tế đời sống của con người ở bất cứ thời điểm nào của xã hội chúng
ta đều cần đến sức khỏe, sức khỏe là vốn quý của con người và cũng vì thế, Chủ tịch
Hồ Chí Minh người đã khẳng định: ''TDTT là một công tác cách mạng như các công tác cách mạng khác" Người còn kêu gọi: "Giữ gìn dân chủ xây dựng nước nhà việc gì cũng cần có sức khỏe mới thực hiện thành công" (Năm 1946) Gần 15 năm sau Người còn nhấn mạnh: "Muốn lao động sản xuất tốt công tác và học tập tốt thì cần có sức khỏe" Khỏe để lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành sự nghiệp công
nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước mà Đảng và nhà nước đã xác định
Ngày nay một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá trình độ phát triển của mộtquốc gia trước hết đó là trình độ phát triển sức khỏe và thể chất của nguời dân, tínhphổ cập của phong trào TDTT quần chúng, trình độ TDTT nói chung và những kỷlục TDTT nói riêng Như vậy chúng ta có thể thấy rằng TDTT ngày càng có vị tríquan trọng trong đường lối phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Giáo dục thể chất là một trong năm mặt giáo dục toàn diện; Chính vì vậy,trong bất cứ cấp học nào chúng ta đều có môn học giáo dục thể chất Giáo dục thểchất để rèn luyện sức khỏe, khỏe để bảo vệ và xây dựng quê hương đất nước Mặtkhác giáo dục thể chất là biện pháp tích cực nhất để rèn luyện sức khỏe cho các em.giáo dục thể chất trường học giúp cho cơ thể các em phát triển cân đối và toàn diệntăng sức đề kháng với các loại vi trùng gây bệnh và sự thay đổi bất thường của thờitiết Ngoài ra giáo dục thể chất còn có tác dụng phòng tránh một số bệnh thườngxảy ra ở lứa tưổi học sinh như cận thị, cong vẹo cột sống Cũng qua giáo dục thểchất nhằm tìm kiếm nhân tài cho quê hương đất nước Chính vì lẽ đó mà theo kếhoạch của Phòng, Sở, cứ 2 năm một lần, Bộ GD& ĐT cứ 4 năm một lần mà đặc biệt
để chuẩn bị cho Hội khỏe Phù Đổng đó thì các trường cứ mỗi năm tổ chức 1 lầntrong trường học nhằm tìm kiếm những hạt nhân tiêu biểu để tham gia có hiệu quảcao, để đưa phong trào giáo dục thể chất của nhà trường THCS Thị Trấn nói riêng và
Bá Thước nói chung có vị trí cao Trong sự phát triển đó hệ thống giáo dục thể chấttrong bậc học THCS chủ yếu là môn Điền kinh vì môn học này tác động rất tích cựctrong phát triển các tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo,khéo léo, có tác dụng tốt đến giáo dục năng lực thực hành, ý thức tổ chức kỷ luật, tựgiác tích cực sáng tạo nỗ lực ý chí vượt qua khó khăn Trong các hệ thống đó chạy60m là một trong những nội dung quan trọng của việc đánh giá tiêu chuẩn rèn luyệncủa các em trong cấp học THCS Mặt khác chạy 60m là hoạt động có chu kỳ, thựchiện từ xuất phát, chạy lao, giữa quãng và về đích là sự kết hợp kỹ thuật hết sức quantrọng, phức tạp khó thực hiện, như vậy người thực hiện không có khái niệm, kỹ năng,
kỹ xảo, cụ thể cũng như chuẩn bị chưa tốt thì hiệu quả sẽ không cao
Với nhiều năm kinh nghiệm trong dạy - học môn thể dục lớp 9 ở bậc THCS và quacác lần tham gia huấn luyện đội thi cấp Tỉnh, Hội khỏe Phù Đổng các cấp và là trọngtài điền kinh cho khu vực Bắc Miền Trung, tôi thấy khi thực hiện chạy 60m một cáchchính xác nhuần nhuyễn các giai đoạn tốt thì sẽ có thành tích tốt Trong 4 giai đoạn
Trang 3đó có sự quan hệ mật thiết, móc xích với nhau, thúc đẩy cho nhau, ngược lại nếutrong khi thực hiện nếu sai một giai đoạn sẽ dẫn đến phá vỡ kỹ thuật, thành tích đạtđược sẽ thấp Từ kết quả của quá trình giảng dạy và những thành tích đã đạt đượcnên tôi đã mạnh dạn áp dụng sáng kiến vào giảng dạy nên tôi chọn sáng kiến:
“Các giai đoạn và bài tập trong huấn luyện chạy 60m cho học sinh lớp 9”
2 Mục đích nghiên cứu:
- Nhằm nâng cao thành tích tập luyện Thể dục thể thao trong trường THCS nóichung và để bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng
- Đẩy mạnh phong trào tập luyện TDTT hướng tới các cuộc thi HSG các cấp
- Nghiên cứu lựa chọn các bài tập của các bước để tập luyện cụ thể trong khihuấn luyện chạy 60m cho HS THCS lứa tuổi 15 (khối 9)
3 Đối tượng nghiên cứu:
Sau khi xác định được mục đích nghiên cứu, căn cứ vào thời gian và chươngtrình học tập của Bộ GD& ĐT; tôi tiến hành nghiên cứu các giai đoạn và bài tậptrong huấn luyện chạy 60m ở học sinh khối 9 Trường THCS Thị Trấn Cành Nàngtrong 2 năm 2014-2016
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tổng hợp tài liệu: Tìm hiểu các nguyên nhân tìm ra các bài tập cóhiệu quả tốt nhất để sửa chữa, tôi đã sử dụng phương pháp này để nghiên cứu và tổnghợp tư liệu liên quan đến đề tài nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy điền kinh nóichung và chạy 60m trong trường THCS Thị Trấn Cành Nàng nói riêng, nhằm giảiquyết nhiệm vụ đề tài có tính ưu việt nhất
- Phương pháp quan sát sư phạm: Trong quá trình dạy học, nghiên cứu, huấnluyện đội tuyển về nội dung chạy 60m ở lớp 9 trường THCS tôi nhận thấy sai lầm khihuấn luyện làm ảnh hưởng đến thành tích của học sinh rất lớn
- Phương pháp tọa đàm vấn đáp: Để tìm ra nguyên nhân mà khi huấn luyện mắcphải trong khi học nội chạy 60m, tôi thấy sáng kiến này mang tính khoa học và thựctiễn tôi đã sử dụng phương pháp này để phỏng vấn một số giáo viên có thâm niên, cótrình độ chuyên môn trong ngành giáo dục từ đó tìm ra vấn đề và giải quyết nó tốthơn
- Phương pháp thực nghiêm sư phạm: Tôi đã dùng phương pháp này để tiến hànhthực nghiệm áp dụng một số bài tập đã được lựa chọn những sai lầm cơ bản nhấttrong chạy 60m ở lớp 9 bậc THCS trên cơ sở tư vấn cho đồng nghiệp thực nghiệm,đối chiếu để tìm ra các bài tập phù hợp
- Phương pháp thống kê tổng hợp: Để kết quả có độ chính xác cao tôi đã áp dụng
công cụ toán học thống kê để thống kê để cho kết quả chính xác khi đã tiến hành thựcnghiệm
PHẦN II NỘI DUNG SÁNG KIẾN.
1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Hệ quả của giáo dục thể chất gắn liền với đặc điểm giải phẫu sinh lí, tâm lí học
và đặc điểm phát triển tố chất thể lực ở mỗi lứa tuổi con người, Tác dụng của giáodục thể chất là rất lớn, nó không ngừng đem lại sức khỏe cho học sinh mà còn gópphần đào tạo con người phát triển toàn diện
Trang 4Tố chất thể lực là sự biểu hiện tổng hợp của hệ thống chức năng các cơ quan cơthể, tố chất thể lực tăng trưởng theo sự tăng trưởng của lứa tuổi Sự tăng trưởng này
có tốc độ nhanh, biên độ lớn trong thời kì dậy thì Giai đoạn lứa tuổi khác thì tố chấtthể lực phát triển khác, tức là trong cùng một lứa tuổi tố chất thể lực khác phát triểnthay đổi cũng không giống nhau
Tố chất thể lực từ giai đoạn tăng trưởng chuyển qua giai đoạn ổn định theo thứ
tự phát triển sau: Tố chất nhanh phát triển đầu tiên, sau đó là tố chất bền và tố chấtsức mạnh
* Tố chất sức nhanh:
Tố chất nhanh phát triển sớm hơn sự phát triển tố chất mạnh, thời kì phát triển
tố chất nhanh quan trọng nhất ở tuổi học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở
* Tố chất sức bền
Sức bền là khả năng của cơ thể chống lại sự mệt mỏi trong một hoạt động nào
đó Để phát triển sức bền cần cho HS luyện tập các bài tập từ nhỏ đến lớn theo hìnhthức tăng dần và thông qua các môn thể thao như cầu lông, bóng chuyền , bóng rổ Tóm lại, trong quá trình giảng dạy và huấn luyện thể thao nói chung và điền kinhnói riêng, chúng ta cần căn cứ vào đặc điểm phát triển tố chất, đồng thời dùng cácphương pháp huấn luyện khoa học, xúc tiến cho việc phát triển tố chất thể lực củangười tập nói chung và học sinh nói riêng
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Về tâm lý học sinh lớp 9 đã hình thành thế giới quan tự ý thức, hình thành tínhcách, đó là tuổi lãng mạn ước mơ độc đáo và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn đây làtuổi thích được khen trước tập thể không thích chê trước tập thể, trí tuệ của học sinhmang tính nhạy bén và phát triển đến mức độ tương đối tư duy nhất quán các em đã
có thái độ tự giác, tích cực, sáng tạo trong hoạt động, nhanh nhạy với cái mới, nhưngsuy luận triết lý chưa cao nên dẫn đến kết luận vội vàng thiếu chặt chẽ, thiếu cơ sở vàthiếu kinh nghiệm nên xa rời lý thuyết Trí nhớ của các em thường không mang tínhmáy móc khi học bài thường chú ý đến chủ đề và vạch ra cách thực hiện, xây dựngkhái niệm ghi nhớ một cách lôgic Tư tưởng của các em phát triển mạnh biểu tượngmang tính sáng tạo cao, các em đã có những ước mơ táo bạo và muốn thược hiện ước
mơ đó, ở lứa tuổi này hưng phấn lớn hơn ức chế, do đó các em tiếp thu cái mới rấtnhanh nhưng chóng chán nếu thành công dễ dẫn đến tự mãn điều đó hoàn toàn khôngtốt cho học tập và thi đấu, tính tự ái thường xen vào trong học tập, chính vì thế nên
Trang 5giáo viên cần ép buộc kết hợp với tự luyện, động viên, khuyến khích kịp thời dù chocác em chỉ tiến bộ hơn trước một chút.
Ở lứa tuổi này các em đã có sự phát triển về thể lực cơ bản nhanh chức năngsinh lý cũng phát triển theo, khả năng hoạt động của các bộ phận cơ thể cũng pháttriển theo Xương bắt đầu đi vào ổn định, mặc dù vậy nhưng cột sống vẫn còn dễ bịcong vẹo, nữ xương nhỏ hơn nam (tính tổng thể) Cơ dù phát triển muộn hơn xươngnhưng tính đàn hồi lại tăng nhanh, không đều chủ yếu là cơ nhỏ và cơ dài, hệ thầnkinh tiếp tục phát triển tạo điều kiện tốt cho hình thành các phản xạ nhanh chónghoàn thiện Hệ tuần hoàn cũng bước đầu di vào hoàn thiện buồng tim cũng di vàohoàn chỉnh lúc này mạch đập của nam khoảng 60 – 70 l/p của nữ khoảng 65 – 75 l/p.Phản ứng của hệ tuần hoàn tương đối rõ nét tần số hô hấp không cách xa người lớn làbao nhiêu tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sức co dãn của lồng ngực ít màchủ yếu dựa vào cơ hoành Hệ bài tiết hoạt động có hiệu quả đặc biệt là bài tiết qua
da chính vì thế mà phục hồi sau vận động rất nhanh, sự trao đổi chất tương đối hoànthiện cụ thể như sau
+ Hệ thần kinh: Ở lứa tuổi này đã hoàn thiện về cấu trúc chức năng, sinh lí vậnđang phát triển mạnh Quá trình hưng phấn vẫn chiếm ưu thế hơn quá trình ức chế,kích thước não và hành tủy đạt đến mức người trưởng thành Hoạt động phân tích của
võ não tăng lên, tư duy trừu tượng đã hình thành tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho việchình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện
+ Hệ vận động: Lứa tuổi 14 - 15 hệ xương của các em đã cứng song vẫn đangtrong giai đoạn phát triển về chiều dài, xương ở giai đoạn này có tính đàn hồi rất tốt
vì chất keo trong xương chiếm tỷ lệ cao bắp thịt chiếm tỷ lệ nước nhiều, cơ bắp mạnh
dẻ chủ yếu phát triển về chiều dài cơ, do cơ bắp phát triển nên lực cơ tăng Các nhóm
cơ nhỏ đã bắt đầu phát triển, các cơ co phát triển hơn các cơ duỗi Do vậy ở lứa tuổinày cần tập trung vào phát triển sức mạnh cho các em
+ Hệ tuần hoàn: Tim của các em lứa tuổi này phát triển chậm hơn so với mạchmáu Do đó cơ năng của tim chưa được vững vàng, cơ năng điều tiết hoạt động củatim chưa được ổn định, sức co bóp còn yếu Nếu hoạt động quá nhiều quá căng thẳng
sẽ dẫn đến nhanh mệt mỏi Tập thể dục thường xuyên sẽ ảnh hưởng rõ ràng đến hệthống tuần hoàn, tim dần dần thích ứng và có khả năng chịu đựng với khối lượng làmviệc nặng nhọc Nhưng trong quá trình tập luyện cần tôn trọng các nguyên tắc tăngdần từ nhẹ đến nặng, không nên để các em hoạt động quá sức chịu đựng quá độtngột
+ Hệ hô hấp: Ở lứa tuổi 14 - 15 phổi các em phát triển chưa đầy đủ các ngăncác buồng, túi phổi đang còn nhỏ, các cơ thở còn chưa phát triển dung lượng phổicòn nhỏ Vì vậy khi hoạt động tần số thở của các em phải tăng lên nhiều dẫn đếnchóng mệt mỏi Cho nên việc rèn luyện của các em không những phải phát triển toàndiện mà còn chú ý tới phát triển các cơ thở, đồng thời dạy cho các em biết cách thởsâu thở đúng như vậy mới có thể làm việc, hoạt động dược lâu bền
Trong quá trình dạy học môn thể dục thực chất là rèn luyện kỹ năng sống, thái
độ, hành vi, phát triển thể lực, nâng cao sức khỏe phát huy thế mạnh của bản thân về
Trang 6thể dục thể thao, biết vận dụng những cái đã học vào các hoạt động trong và ngoàinhà trường Để tìm và bồi dưỡng nhân tài cho địa phương, cho ngành GD Huyện BáThước về nhân tài chạy cự li ngắn mà cụ thể là chạy 60m, muốn làm được điều đóngười giáo viên phải truyền thụ cho học sinh những khái niệm, hình thành các kháiniệm, kỹ năng, kỹ xảo, phối hợp nhuần nhuyễn các giai đoạn của chạy 60m
Xuất phát từ yêu cầu chung nhằm nâng cao thành tích của học sinh và nâng caochất lượng dạy - học cũng như nâng cao thành tích trong thi đấu Tôi đã tiến hành
một số giải pháp như: Dùng phiếu điều tra và thu thập thông tin về hiểu biết của học
sinh trong quá trình luyện tập chạy cự li ngắn 60m
Phiếu điều tra:
1 Kỹ thuật chạy 60m gồm mấy giai đoạn?
1 Em có tự tập nhảy xa thường xuyên tập chạy cự li ngắn ? Tập theo hình thức nào?
2 Một học sinh xuất phát không đúng kỹ thuật ,thành tích đạt được có cao không?
3 Một bạn chạy không đúng ô chạy thành tích có được tính không?
Kết quả cho thấy vốn hiểu biết của các em về bộ môn chạy cự li ngắn còn nhiềuhạn chế do các em không quan tâm đến luyện tập thể lực và quan tâm đến môn học,
đa số các em không biết được rằng rèn luyện thể thao kém sẽ ảnh hưởng rất lớn đếnkết quả học tập cũng như sự phát triển của cơ thể Khi tiến hành nghiên cứu học sinhkhối 9 gồm 59 em, tôi thu được kết quả như sau:
Kết quả điều tra giáo dục:
Bảng 01
Trang 7
Hình 1Cũng như đi bộ, Chạy là một hoạt động có chu kỳ, mỗi chu kỳ gồm hai bước.Nhưng chạy khác với đi bộ ở chỗ, trong một chu kỳ chạy có hai thời kỳ bay và trong
chạy: tốc độ, biên độ hoạt động lớn hơn đi bộ (Hình 1).
Chạy cự ly 60m được chia một cách quy ước thành 4 giai đoạn: xuất phát, chạy lao sau xuất phát, chạy giữa quãng và về đích
3 1 Xuất phát
Giai đoạn này bắt đầu từ khi vận động viên vào bàn đạp đến khi rời khỏi bànđạp Nhiệm vụ của giai đoạn này là tận dụng mọi khả năng để xuất phát nhanh vàđúng luật Trong chạy 60m, để xuất phát được nhanh, phải dùng kỹ thuật xuất phátthấp với bàn đạp Xuất phát thấp giúp ta tận dụng được lực đạp sau để cơ thể xuấtphát nhanh
Cách đóng bàn đạp
Hinhf Hình 2
Trang 8Trong thi đấu, kiểm tra sau khi đóng bàn đạp và thử xuất phát Có 3 lệnh, kỹthuật sau mỗi lệnh như sau:
Hình 3Theo hiệu lệnh “vào chỗ”, vận động viên chạy tiến ra trước hai bàn đạp, ngồixuống và chống tay về phía trước vạch xuất phát Từ thư thế này, vận động viênchuyển chân từ phía trước ra phía sau, lần lượt tỳ bàn chân lên mặt tựa bàn đạp trướcrồi đến bàn đạp sau Hai mũi giầy chạy chạm mặt đường hoặc hai đinh đầu tiên tỳxuống mặt đường Sau khi hạ gối sau xuống, vận động viên thu hai tay về và đặt
xuống sát sau vạch xuất phát (Hình3) Lúc này giữa ngón cái và các ngón còn lại để
sát nhau tạo thành vòm Hai tay duỗi thẳng tự nhiên, chống tỳ trên đất ở độ rộng bằngvai Thân trên thẳng, đầu duỗi thẳng so với thân trên và trọng lượng cơ thể được phânđều giữa hai tay, chân chống trước và đầu gối chân sau Ở tư thế đó người chạy chú ýnghe lệnh tiếp
Theo lệnh “sẵn sàng”, vận động viên hơi duỗi chân, gối chân đặt sau tách khỏi mặtđường làm trọng tâm hơi chuyển lên trên và ra trước Lúc này, trọng lượng cơ thểdồn trên hai tay và chân chống trước, hình chiếu của trọng tâm cơ thể trên đất phảicách vạch xuất phát từ 15 – 20cm Hai đế giầy tỳ sát vào mặt tựa bàn đạp, vùng hôngnâng cao hơn vai 10 – 20cm và lúc này hai cẳng chân gần như song song với nhau.Trong tư thế “sẵn sàng”, điều cần lưu ý là không nên dồn trọng lượng cơ thể quánhiều xuống hai tay vì điều này làm ảnh hưởng xấu đến thời gian hoàn thành xuất
phát thấp (Hình4) Giữ nguyên tư thế đó và lập tức lao ra khi nghe lệnh xuất phát.
Hình 4
Trang 9- Sau lệnh “Chạy!”–hoặc tiếng súng: Xuất phát được bắt đầu bằng đạp mạnh haichân Hai tay rời mặt đường đánh so le với chân (vừa để giữ thăng bằng, vừa để hỗtrợ lúc đạp sau của hai chân) Chân sau không đạp hết, mà mau chóng đưa về trước
để hoàn thành bước chạy thứ nhất Chân phía trước phải đạp duỗi thẳng hết các khớprồi mới rời khỏi bàn đạp, đưa nhanh về trước để thực hiện và hoàn thành bước chạythứ hai Khi đưa lăng, các mũi bàn chân không chúc xuống để không bị vấp ngã.(Hình 5, hình 6)
3 2 Giai đoạn chạy lao:
Giai đoạn này bắt đầu từ khi vận động viên rời khỏi bàn đạp tới khi chạy đạt tốc
độ cao nhất của mình Nhiệm vụ của giai đoạn này là mau chóng đạt được tốc độ tối
đa để chuyển sang chạy giữa quãng
Trang 10
Hình7 Tốc độ chạy lao sau xuất phát được tăng lên chủ yếu do tăng độ dài bước chạy
và một phần không nhiều do tăng tần số bước Việc tăng độ dài bước chủ yếu đếnbước thứ tám – thứ mười (bướ c sau dài hơn bước trước từ 10 – 15cm), sau đó thì độdài bước được tăng ít hơn (4 – 8cm) Việc thay đổi độ dài bước đột ngột dưới hìnhthức nhảy là không tốt vì làm mất đi nhịp điệu chạy
Cùng với việc tăng tốc độ di chuyển của cơ thể, thời gian bay trên không tăng
lên và thời gian tiếp đất giảm đi (Hình 8)
Hình 8
3 3 Giai đoạn chạy giữa quãng:
Tiếp sau chạy lao là chạy giữa quãng Nhiệm vụ chủ yếu của chạy giữa quãng là
duy trì tốc độ cao đã đạt được ở kết thúc chạy lao (mà không phải tiếp tục tăng tốc độchạy) Trong giai đoạn này kỹ thuật chạy khá ổn định
Trang 11Khi chạy giữa quãng (cũng như chạy trên toàn cự li) việc thở vẫn tiến hành,thậm chí cần thở tích cực hơn lúc bình thường Tuy nhiên phải đảm bảo rằng việc thở
đó không làm rối loạn kỹ thuật và nhịp điệu chạy Để tăng tốc độ chạy, có nhiềungười chủ động tăng nhịp thở, nhưng cũng có những người lại cố nhịn thở Dù theocách nào cũng không được vì vậy làm rối loạn nhịp điệu chạy
Nhìn chung, do đoạn chạy giữa quãng là dài so với các đoạn khác nên thànhtích chạy 60m phụ thuộc rất lớn vào thành tích ở đoạn chạy giữa quãng Chạy giữaquãng tốt là chạy được với tần số và độ dài bước lớn nhưng phù hợp với đặc điểmmỗi người Phối hợp nhuần nhuyễn giữa dùng sức và thả lỏng, đảm bảo cho cơ bắpđược hoạt động với hiệu suất cao nhất Cần chạy nhẹ nhàng, thả lỏng không có cácđộng tác thừa (hình 9,10)
Chạy giữa quãng sang rút về đích Tập trung hết sức lực để tăng tốc độ – chủ yếu là bằng tăng tần số bước Cố tăng độ ngả người về trước để tận dụng hiệu quả đạp sau Người chạy hoàn thành cự li 60m khi có một bộ phận của thân trên (trừ đầu)
chạm vào dây đích.(Hình 11)
Thực ra, động tác đánh đích chỉ có ý nghĩa khi cần phân thứ hạng giữa những người có cùng thành tích Bình thường chỉ là chạy qua đích.