1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khai thác và phân dạng bài tập về liên kết hyđrô của axít đề oxi ribô nuclêic (ADN) trong chương trình sinh học lớp 9 THCS

21 377 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 319 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, thời lượng số tiết trên tuần của bộ môn ít2tiết/tuần, chỉ có 1-2 tiết bài tập/ 1 học kì gây khó khăn không nhỏ cho giáoviên giảng dạy bộ môn Sinh học khi hỗ trợ các em giải bài

Trang 1

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sinh học là môn khoa học cơ bản trong nhà trường Sự phát triển của khoa

học kĩ thuật cho ra đời nhiều loại thiết bị hiện đại phục vụ cho nghiên cứu, kiếnthức sinh học đã và đang trở nên rộng hơn, sâu hơn Do đó việc dạy tốt bộ mônsinh học trở thành một nhiệm vụ rất quan trọng, song cũng gặp nhiều khó khăn,trở ngại,…Đặc biệt bộ môn sinh học 9, với lượng kiến thức lí thuyết mang tínhkhoa học hàn lâm, gây cho học sinh cảm giác ngại tiếp xúc, ngại học ngay từnhững bài đầu tiên Với mục tiêu dạy tốt học tốt, tôi thiết nghĩ cần phải lồngghép giữa dạy lí thuyết với việc hình thành kĩ năng giải bài tập cho các em; nhất

là mảng bài tập di truyền

Qua thực tế giảng dạy Sinh học 9 tại trường THCS Thiết Ống nhận thấy:các em khá lúng túng khi làm các bài tập di truyền phân tử có liên quan đến cácliên kết hóa học Mặt khác, thời lượng số tiết trên tuần của bộ môn ít(2tiết/tuần), chỉ có 1-2 tiết bài tập/ 1 học kì gây khó khăn không nhỏ cho giáoviên giảng dạy bộ môn Sinh học khi hỗ trợ các em giải bài tập di truyền nóichung và bài tập về liên kết hóa học nói riêng Thông thường việc này chỉ cóthể thực hiện với nhóm học sinh ôn thi đội tuyển học sinh giỏi tuy vậy cũng mất

không ít thời gian của cả thầy lẫn trò Do đó trong công tác bồi dưỡng học sinh

giỏi, mỗi giáo viên phải có những sáng tạo riêng trong phương pháp hướng dẫnhọc sinh cách khai thác và hệ thống các dạng bài tập

Từ quá trình dạy học sinh học lớp 9 và bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi đã rút ra

một số kinh nghiệm " Khai thác và phân dạng bài tập về liên kết Hidro của axit deoxiribonucleic trong chương trình sinh học lớp 9 Trường THCS Thiết Ống, huyện Bá Thước” Với mong muốn giúp các em giải bài tập về liên kết Hidro

của axit deoxiribonucleic (ADN)- bài toán di truyền phân tử - hướng tới đốitượng là học sinh ôn đội tuyển thi học sinh giỏi Ngoài ra tôi cũng sử dụng một

số dạng bài cơ bản trong giảng dạy chính khóa môn sinh học 9 với mục đíchcủng cố và hệ thống kiến thức lí thuyết cho học sinh đại trà Từ đó tạo sự hứngthú, phát huy tính tích cực chủ động của các em trong học tập, các em khôngcòn ngại học môn Sinh học đồng thời nâng cao chất lượng bộ môn

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Cách khai thác và phân dạng bài tập về liên kết Hidro của axitdeoxiribonucleic (ADN) vận dụng vào quá trình dạy ôn thi đội tuyển học sinhgiỏi khối 9, lựa chọn một số dạng bài cơ bản để củng cố kiến thức lí thuyết vàkích thích hứng thú cho học sinh đại trà trong các tiết bài tập và luyện tập

3 Đối tượng nghiên cứu:

Phần bài tập về liên kết Hidro của axit Deoxiribonucleic (ADN) qua chươngIII-ADN và gen, chương IV- Biến dị / Phần 1-Di truyền và biến dị/ Sinh học lớp9

4 Phương pháp nghiên cứu:

Tôi đã phối hợp nhiều phương pháp trong quá trình thực hiện SKKN:

Trang 2

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Tham khảo, nghiêncứu tài liệu hướng dẫn về phương pháp giải bài tập di truyền phân tử Thamkhảo SGK, SGV sinh học 9

- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát thái độ, mức độ hứng thú, tíchcực học tập của học sinh

- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm dạy và học: Tích lũy các giờ dạytrên lớp, dự giờ đồng nghiệp, đồng nghiệp dự giờ góp ý

- Phương pháp thực nghiệm: Lựa chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng;

và động vật; ở giai đoạn 2 ( lớp 8 và lớp 9) khả năng tư duy của các em đã pháttriển, đã có một số hiểu biết ban đầu về khái niệm cũng như các kiến thức líthuyết mang tính hàn lâm cao, đòi hỏi tính tư duy lôgic biện chứng Do đó việchọc tập môn sinh học ở lớp 9 có yêu cầu cao hơn, nhất là một số bài tập tínhtoán phần di truyền phân tử

Các bài tập về di truyền phân tử là những bài tập hay, lý thú và có tính tưduy toán học cao Để giải các bài tập này học sinh phải có được hai vấn đề là có

am hiểu cơ bản về kiến thức môn sinh học liên quan và có kiến thức, kĩ năng vềtoán học (công cụ) Việc giải quyết hai vấn đề này phụ thuộc vào cách dạy củagiáo viên

Những bài tập về di truyền phân tử ở lớp 9 được khai thác ở chương III vàchương IV Mặc dù học sinh đã được trang bị kiến thức cơ bản về phân tử vànguyên tố hóa học từ môn hóa học lớp 8 tuy nhiên đây chỉ là những khái niệm

cơ bản, những kiến thức hết sức sơ đẳng cho nên những bài tập loại này vẫn cònmới lạ đối với các em, mặc dù không quá phức tạp đối với học sinh lớp 9 nhưngvẫn cần tập dần cho các em có kỹ năng định hướng bài giải một cách có hệthống, khoa học, dễ dàng tiếp nhận và giải quyết các bài toán di truyền đa dạnghơn ở cấp THPT cũng như khi đi sâu vào nghiên cứu Chuyên ngành ở cáctrường chuyên nghiệp về sau này

Đối với việc hướng dẫn học sinh làm bài tập ở các môn tự nhiên nói chung

và môn sinh học 9 nói riêng thì giáo viên thường dạy theo chủ đề

Với bản thân tôi khi dạy theo cách này thường tiến hành theo các bước sau:

- Trước hết giáo viên phải dạy cho học sinh nắm được các kiến thức sinhhọc cơ bản liên quan đến chủ đề

Trang 3

- Trên cơ sở đó, phân tích một bài tập cụ thể để xây dựng hệ thống côngthức có liên quan

- Trong chủ đề, tổ chức cho học sinh giải theo dạng bài tập và qua từng bàitập phát triển tư duy cho học sinh bằng cách hướng dẫn học sinh đưa ra bài tậpmới từ bài ban đầu, hay “giải một bài để giải được nhiều bài ”

2 Thực trạng của việc giải các bài tập về liên kết Hidro của axit deoxiribonucleic (ADN) đối với học sinh lớp 9 trường THCS Thiết Ống, huyện Bá Thước.

Những năm gần đây, trong các kì thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh, thivào lớp 10 THPT chuyên xuất hiện các bài tập về liên kết hóa học và thường lànhững bài tập hay, cơ bản, điển hình cho dạng bài tập định lượng trong bộ mônsinh học Các đề thi học kì I của Sở giáo dục gần đây đã đưa các bài tập ditruyền phân tử liên quan đến các liên kết hóa học nhưng nhìn chung kết quả thicủa các em như chúng ta đã biết là không cao vì các em thường không làm tốtdạng bài tập này, thậm chí là bỏ qua không làm

Thực ra trong phân phối chương trình sinh học lớp 9 không có nhiều thời

lượng cho việc làm bài tập mà trong sách tham khảo lại có rất nhiều bài tập vềliên kết hóa học Khi gặp bài tập về liên kết hóa học học sinh thường lúng túng,không hiểu được yêu cầu cơ bản của bài tập nên dẫn đến không có phương phápgiải Theo tôi nguyên nhân của thực trạng này được thể hiện ở một số điểm sau: + Học sinh chưa có kiến thức về toán học liên quan (lũy thừa, phương trìnhbậc nhất, phương trình bậc 2, hệ phương trình 2 ẩn hoặc 3 ẩn, ) hoặc có em cókiến thức cơ bản nhưng khi giải bài tập sinh học không biết cách vận dụng

+ Học sinh chưa nắm sâu sắc được mối quan hệ cơ bản giữa các đại lượngsinh học cơ bản trong bài tập

+ Đa số các em chưa có định hướng chung về phương pháp học lý thuyết,vận dụng công thức chưa linh hoạt, chưa có phương pháp giải bài tập di truyềnphân tử

+ Thông thường giáo viên vẫn cho học sinh tiếp cận với bài tập về liên kếthóa học nhưng không phân theo dạng, theo chủ đề nên học sinh không rèn luyệnđược khả năng phân tích, tổng hợp, nhận dạng bài tập, dẫn đến học sinh thụđộng, máy móc khi gặp phải dạng toán này trong bài thi

Trước đây (trước năm học 2014-2015) khi chưa vận dụng sáng kiến này vàodạy bồi dưỡng học sinh khá giỏi lớp 9, tôi có ra đề khảo sát học lực của học sinhđội tuyển ôn thi đối với các dạng bài tập như sáng kiến này Kết quả thu đượcthống kê qua bảng sau:

Trang 4

Năm học Giải thi cấp huyện Sl học sinh dự

thi cấp tỉnh Giải thi cấp tỉnh

Xuất phát từ những hạn chế trong kết quả thi học sinh giỏi, tôi đã tự rútkinh nghiệm, vận dụng sáng kiến này nhằm cải tạo thực trạng trên qua việc khaithác và phân dạng bài tập về liên kết Hidro của axit deoxiribonucleic (ADN)trong chương trình sinh học lớp 9 Trường THCS Thiết Ống, huyện Bá Thước

3 Các giải pháp đã sử dụng để khai thác và phân dạng bài tập về liên

kết Hidro của axit deoxiribonucleic (ADN) trong chương trình sinh học lớp

9 Trường THCS Thiết Ống, huyện Bá Thước:

Để triển khai chủ đề bài tập về liên kết Hidro trong các buổi ôn thi học sinh

giỏi đạt hiệu quả, bản thân tôi đã nghiên cứu sách giáo khoa trước khi soạn bài,tham khảo các tài liệu nâng cao giành cho giáo viên và học sinh; các đề thi họcsinh giỏi các cấp; các chuyên đề sinh học 9 Trên cơ sở đó tôi đã biên soạn thành

hệ thống nội dung kiến thức và bài tập theo mạch kiến thức từ dễ đến khó saocho phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp với mạch tư duy logic của các em -gây được sự hứng thú đối với học sinh

Ngoài những kiến thức trong sách giáo khoa, khi đưa các đơn vị kiến thứcnâng cao tôi cũng đã thảo luận cùng nhóm, tổ chuyên môn; thử nghiệm qua mỗibài giảng, mỗi khóa học sinh

Những bài tập về liên kết Hidro được đề cập ở đây là những bài điển hình,phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh, đem lại kết quả tốt qua các kì thi -cuộc thi mà học sinh của tôi có cơ hội tham gia

Quá trình tôi tổ chức thực hiện chủ đề bài tập về liên kết Hidro cụ thể như sau:

3.1 Hệ thống kiến thức cơ bản:

3.1.1 Kiến thức về Axit deoxiribonucleic (ADN):

- Axit deoxiribonucleic hay ADN thuộc loại axit Nucleic

- Axit Nucleic là một nhóm axit hữu cơ, có vai trò rất quan trọng trong hoạtđộng sống của tế bào và cơ thể, đảm bảo cho khả năng sinh tồn của nòi giốngvới chức năng mang và truyền đạt thông tin di truyền

Axit Nucleic gồm 2 loại: axit Deoxiribonucleic (ADN) và axit ribonucleic(ARN) Chúng đều là chất trùng hợp từ đơn phân là Nucleotit (viết tắt là Nu) Mỗi Nucleotit gồm 3 thành phần:

Trang 5

+ Nhóm photphat (P) có tính hóa học mạnh để liên kết các nhóm kháctrong phản ứng ngưng tụ.

+ Đường pentozo ở ADN là đường deoxiribozo (C5H10O4) còn ở ARN làđường ribozo (C5H10O5)

+ Bazo nitric thuộc 2 nhóm: Purin (adenin và guanin) có kích thước lớnhơn và pirimidin (timin, xitzin, uraxin) có kích thước nhỏ hơn Timin ở AND,còn uraxin chỉ có ở ARN

- ADN Có 4 loại nucleotit phân biệt nhau bởi Bazo nitric (A, T, G, X) đã

tạo nên chuỗi phân tử (chuỗi polynucleotit) dài hàng trăm thậm chí hàng triệuđơn phân

- ADN theo mô hình của J.Oat xơn và F Crick, có cấu trúc 2 mạch ngượcchiều nhau, liên kết giữa các Nu trên 1 mạch là liên kết photphodieste; giữa các

Nu trên 2 mạch với nhau là liên kết Hidro

- ADN có đặc tính tự nhân đôi (tự sao):

Quá trình này gồm các giai đoạn sau:

+ Đầu tiên 2 mạch của ADN nhờ các enzim gọi là helicaza, các enzim này phá vỡ các liên kết hidro giữa các bazo nhờ năng lượng giải phóng từ sự thủy phân các nucleozit 5’triphotphat Các protein SSB gắn lên các đoạn mới được tách làm 2 mạch đơn không kết hợp lại được

+ Tổng hợp đoạn mồi ARN

+ Tổng hợp các mạch mới nhờ enzim polimeraza III

Các nucleotit của môi trường nội bào liên kết với các nucleotit ở mạchkhuôn theo nguyên tắc bổ sung: A-T, G-X

- ADN có thể bị đột biến, các đột biến xảy ra trong quá trình tự sao củaphân tử ADN, dẫn đến hình thành gen mới khi liên quan đến một hoặc một sốcặp Nu; từ đó cũng dẫn đến sự thay đổi trong cấu trúc của ADN làm thay đổi sốlượng các liên liên kết Hidro

3.1.2 Kiến thức về liên kết Hidro của axit deoxiribonucleic (ADN):

- Liên kết Hidro là một dạng liên kết hóa học yếu, đóng vai trò rất quantrọng trong cơ thể sống Nhờ liên kết này đã hình thành nên cấu trúc không giancủa các đại phân tử sống cơ bản như ADN, Protein, Lipit,…

- Liên kết Hidro giữa 2 mạch đơn của ADN theo nguyên tắc bổ sung, 1purine - đơn phân có kích thước lớn (A hoặc G) của mạch đơn này với 1pyrimidine- đơn phân có kích thước bé (T hoặc X) của mạch đơn bên kia; Cụthể: A liên kết với T bằng 2 liên kết hidro còn X liên kết với G bằng 3 liên kếthidro Điều này đảm bảo được khoảng cách đều đặn giữa 2 mạch đơn

- Với đặc tính là liên kết yếu nên liên kết Hidro có thể bị phá vỡ dễ dàngtrong quá trình nhân đôi ADN và phiên mã gen Tuy vậy chuỗi xoắn kép ADN

có sự tương tác liên kết hiđro giữa các cặp bazơ lân cận làm cho phân tử ADNkhi ở trạng thái xoắn kép sẽ bền vững hơn Thêm vào đó, mỗi phân tử ADN cómột số lượng lớn nhất định các liên kết hidro cho nên dù bị chuyển động nhiệt

Trang 6

làm phá vỡ những liên kết hidro ở 2 đầu phân tử nhưng ở giữa phân tử nếu vẫncòn liên kết hidro thì sẽ gắn 2 sợi đơn lại chỉ khi bị nhiệt độ quá cao gần điểm

sôi mới tách chúng ra được

- Sự vi phạm nguyên tắc bổ sung trong liên kết hidro sẽ dẫn đến biến đổi

trong cấu trúc của đoạn phân tử ADN (đột biến gen) Thay đổi cấu trúc củaphân tử ARN do đoạn ADN đó mã hóa, biến đổi cấu trúc của Protein tương ứng,cuối cùng biểu hiện thành kiểu hình đột biến

3.2 Xây dựng công thức tổng quát từ bài tập cụ thể:

Nếu gọi tổng số nucleotit trong 1 phân tử ADN là: N (Đk: N là số nguyên dương)

Căn cứ vào cấu trúc 2 mạch bổ sung của mỗi phân tử ADN, số nucleotit trên

1 mạch của phân tử là N/2

Trên cơ sở lí thuyết đã được phân tích ở trên, có thể xây dựng công thức liên quan đến liên kết Hidro như sau:

3.2.1 Tính số liên kết Hidro ( H ) trong phân tử AND:

Bài tập cơ sở 1 : Một gen dài 5100 Ǻ và Ađenin chiếm 20% số Nucleotit

của gen Hãy xác định số liên kết hidro của gen?

Thảo luận:

- Bài tập yêu cầu xác định giá trị gì?

( Xác định số liên kết Hidro)

- Dữ kiện đề bài đã cho biết những gì?

( Chiều dài của gen L = 5100 Ǻ, tỉ lệ % số Nu loại A)

- Các dữ kiện của đề bài có liên quan như thế nào với số liên kết Hidro? (Để tính được số liên kết Hidro cần xác định gen trên có bao nhiêu Nu loại

A, bao nhiêu Nu loại G? từ % số Nu loại A có thể xác định được % số Nu loạiG; xác định giá trị N (số Nu của gen) suy ra từ công thức tính chiều dài củagen.)

Hướng dẫn giải

- Từ công thức tính chiều dài của gen L = (N/2)3,4

Suy ra số nucleotit của gen là: N = (L: 3,4)2 = (5100 : 3,4)2 = 3000 Nu

- Xác định số nucleotit của từng loại đơn phân:

A = 20%N = 600 Nu

G = (50%-20%)N = 900 Nu

- Số liên kết hidro (H):

Vì :

A của mạch này nối với T của mạch kia bằng 2 liên kết hidro và ngược lại

G của mạch này nối với X của mạch kia bằng 3 liên kết hidro và ngược lại

Trang 7

Mặt khác, dựa vào hệ quả của NTBS, trong phân tử ADN số lượng Nuloại A luôn bằng số lượng Nu loại T, số lượng Nu loại G luôn bằng số lượng Nuloại X (A = T và G = X)

Do vậy số liên kết Hidro (H) được xác định như sau:

H = 2A + 3G = 2 x 600 + 3 x 900 = 3900 (liên kết).

Xây dựng công thức tổng quát:

* Tính số liên kết Hidro ( H ) trong phân tử AND:

Với H là số liên kết Hidro, A số lượng đơn phân Adenin (A = T); G là số lượng đơn phân Guanin (G = X)

Số liên kết Hidro (H) của ADN được xác định như sau:

H = 2A + 3 G hoặc H = 2T + 3X

Vì N = A + T + G + X = 2A + 2G

Nên số liên kết Hidro còn dược xác định theo công thức sau:

H = N + G

Hệ quả: (có thể hiểu là loại bài toán nghịch của dạng bài toán trên):

Căn cứ vào công thức tính số liên kết hidro trong phân tử ADN

H = 2A + 3G hoặc H = N + G

Có thể suy ra các giá trị như sau:

Khi bài toán cho biết H, giá trị G xác định có thể suy ra N theo công thức biến đổi sau: N = H – G

Hoặc bài toán cho biết H, N có thể xác định được thành phần từng loại

nucleotit của ADN như sau:

Xác định giá trị G : G = H – N rồi tính giá trị A, T, X theo G.

Từ đó có thể xác định các giá trị liên quan là: L (chiều dài của ADN), C (số chu kì xoắn của ADN) , M (khối lượng phân tử ADN),

3.2.2 Tính số liên kết hidro được hình thành hoặc bị phá hủy khi ADN

tự nhân đôi:

Bài tập cơ sở 2 : Một gen có số nucleotit loại A = 600 và G = 3/2 A Gen

đó nhân đôi một số lần đã cần môi trường cung cấp 6300 nucleotit loại G Hãyxác định số liên kết hidro bị phá hủy và được hình thành trong quá trình nhânđôi của ADN ?

Thảo luận:

- Đề bài yêu cầu xác định giá trị gì?

( Số liên kết Hidro bị phá hủy và số liên kết Hidro được hình thành trongquá trình nhân đôi)

- Dữ kiên bài toán đã cho biết số lần tự nhân đôi chưa? (Chưa cho biết)

- Để xác định số lần tự nhân đôi cần dựa vào dữ kiện nào? ( Dựa vào số

Nu loại G mà môi trường đã cung cấp; như vậy cần phải xác định được

số Nu loại G của gen)

Trang 8

Hướng dẫn giải

- Xác định số nucleotit loại G của gen: G = 3/2 A = 3/2 x 600 = 900 Nu

- Xác định giá trị k- số lần nhân đôi của gen

Từ công thức tính số nucleotit loại G môi trường đã cung cấp cho gennhân đôi k lần là:

Gmt = (2k – 1) Ggen

 6300 = (2k – 1)900 Suy ra (2k – 1) = 6300: 900 = 7 2k = 8 Vậy k = 3

- Xác định số liên kết H:

+ Số liên kết H bị phá hủy trong quá trình nhân đôi của gen:

Khi ADN tự nhân đôi hoàn toàn 2 mạch ADN tách ra, các liên kết hidrogiữa 2 mạch nên số liên kết hidro bị phá vỡ bằng số liên kết hidro của AND banđầu

ADN tự nhân đôi 3 lần:

Lần 1: Có 1 phân tử ADN

Số liên kết H bị phá vỡ = số liên kết H của ADN = H = 20H

Lần 2: Có 21 = 2 phân tử ADN mới được tạo ra

Số liên kết H bị phá vỡ = số liên kết H của 2 ADN = 2H = 2 1H

Lần 3: Có 22 = 4 phân tử ADN mới được tạo ra

Số liên kết H bị phá vỡ = số liên kết H của 4 ADN = 4H = 2 2H

Vậy tổng số liên kết Hidro bị phá hủy sau 3 lần tự nhân đôi là:

H bị phá vỡ = 1H + 2H + 4H = (20 + 21 + 22)H = (23 - 1)H

= (23 - 1)(2A + 3G) = 7 x 3900 = 27300 (liên kết)

+ Số liên kết Hidro được hình thành trong quá trình gen nhân đôi:

Mỗi mạch đơn của ADN đều nối các nu tự do theo NTBS bằng các liênkết hidro nên số liên kết Hiđro được hình thành là tổng số liên kết Hiđro của 2ADN con Do đó số liên kết Hidro được hình thành trong quá trình nhân đôichính là số liên kết Hidro của tất cả các gen con vừa được tạo ra sau 3 lần tựnhân đôi

H hình thành = 23H = 8 x 3900 = 31200 (liên kết).

Xây dựng công thức tổng quát:

Số liên kết hidro bị phá vỡ và số liên kết hidro được hình thành

Qua 1 lần tự nhân đôi

Khi ADN tự nhân đôi hoàn toàn 2 mạch ADN tách ra, các liên kết hidro giữa 2 mạch bị phá vỡ nên số liên kết hidro bị phá vỡ bằng số liên kết hidro của ADN ban đầu

H bị phá vỡ = H ADN (liên kết)

Trang 9

Mỗi mạch ADN đều nối các nu tự do theo NTBS bằng các liên kết hidro nên số liên kết hiđro được hình thành là tổng số liên kết hiđro của 2 ADN con

H hình thành = 2 H ADN (liên kết)

Qua k lần tự nhân đôi

- Tổng số liên kết hydro bị phá vỡ :

k = 1: Số liên kết H bị phá vỡ = số liên kết H của ADN = H = 20H

k = 2: Số liên kết H bị phá vỡ = số liên kết H của 2 ADN = 2H = 2 1H

k = 3: Số liên kết H bị phá vỡ = số liên kết H của 4 ADN = 4H = 2 2H ………

Bài tập cơ sở 3 : Trong phân tử ADN, ađênin (A) liên kết với timin (T) bởi

2 liên kết hiđrô và xitôzin (X) liên kết với guanin (G) bởi 3 liên kết hiđrô

a) Tính số liên kết hiđrô của gen khi biết:

A + G = 700 nuclêôtit và A - G = 100 nuclêôtit

b) Số liên kết hiđrô của gen thay đổi như sau:

-Trường hợp 1 : Mất một cặp nuclêôtit

-Trường hợp 2: Thêm một cặp nuclêôtit

-Trường hợp 3: Thay thế một cặp nuclêôtit này bằng một cặp nuclêôtitkhác

Trang 10

- Nếu mất cặp A-T: Số liên kết Hidro giảm đi 2 liên kết còn: 1700 – 2 = 1698

- Nếu mất cặp G-X: Số liên kết Hidro giảm đi 3 liên kết còn: 1700 – 3 =

1697

Trường hợp 2: Thêm một cặp nuclêôtit

- Nếu thêm cặp A-T: Số liên kết Hidro tăng 2 liên kết: 1700 + 2 = 1702

- Nếu thêm cặp G-X: Số liên kết Hidro tăng 3 liên kết : 1700 + 3 = 1703

Trường hợp 3: Thay thế một cặp nuclêôtit này bằng một cặp nuclêôtit khác

- Nếu thay cặp A-T bằng cặp G-X: Số liên kết Hidro tăng 1 liên kết:

1700 + 1 = 1702 (liên kết)

- Nếu thay cặp G-X bằng cặp A-T: Số liên kết Hidro giảm 1 liên kết :

1700 - 1 = 1699 (liên kết)

Xây dựng công thức tổng quát:

- Muốn xác định số liên kết Hidro của gen đột biến phải căn cứ vào genlúc chưa đột biến và dựa vào loại đột biến

- Ở cấp THCS ta chỉ xét 3 loại đột biến gen:

+ Đột biến thêm 1 hoặc 1 số cặp Nu: Loại đột biến này sẽ làm tăng số liênkết Hidro

+ Đột biến mất 1 hoặc 1 số cặp Nu: Loại đột biến này sẽ làm giảm số liênkết Hidro

+ Đột biến thay thế 1 hoặc 1 số cặp Nu: Nếu đột biến thay thế cặp A-Tbằng cặp G-X sẽ làm tăng số liên kết Hidro; Nếu đột biến thay thế cặp G-X bằngcặp A-T sẽ làm giảm số liên kết Hidro

Sau khi hướng dẫn học sinh giải các bài tập cơ sở để xây dựng được cáccông thức có liên quan đến liên kết Hidro, giáo viên sử dụng các hệ thống bàitập vận dụng yêu cầu học sinh áp dụng các công thức đã cùng nhau xây dựng đểgiải các bài tập cụ thể

3.3 Khai thác bài tập vận dụng định hướng theo dạng :

Dạng 1: Tính số liên kết Hidro ( H ) trong phân tử ADN:

* Loại bài toán thuận

Bài 1 Một đoạn phân tử ADN có 270 nucleotit loại G và tỉ lệ A = 1/3X.

Phân tử này có bao nhiêu liên kết hidro?

( Trích BT cuốn PP giải bài tập di truyền và sinh thái lớp 9/ Lê Ngọc Lập/ Nhà

xuất bản Giáo dục)

Lược giải

- Số lượng các loại Nu:

G = X = 270 Nu; A = T = 90 Nu

- Số liên kết hidro trong phân tử AND:

A liên kết với T bằng 2 liên kết hidro

G liên kết với X bằng 3 liên kết hidro

Ngày đăng: 21/10/2019, 10:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w