1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một vài kinh nghiệm giảng dạy các kiến thức phần di truyền học trong chương trình sinh học 9 THCS bằng việc sử dụng bài toán nhận thức và tình huống có vấn đề

27 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 251 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tàiPhát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập lànhiệm vụ quan trong hàng đầu mà toàn ngành giáo dục đang hướng tới.Trên khắpmọi miền của đất nước

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1 MỞ ĐẦU:……… 1

2 NỘI DUNG:……… 3

2.1 Cơ sở lí luận……… 2

2.2 Thực trạng:……… 5

2.3 Các giải pháp thực hiện:……… 7

2.4 Hiệu quả: : ………17

3.KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ: ……… 19

1.Kết luận: ……… 19

2.Kiến nghị: ……….20

Trang 2

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập lànhiệm vụ quan trong hàng đầu mà toàn ngành giáo dục đang hướng tới.Trên khắpmọi miền của đất nước từ nông thôn đến thành thị, từ miền xuôi cho đến miền núi,hầu hết ở các trường, từ tiểu học, THCS, cho đến THPT đã ý thức được nhiệm vụtrọng tâm nhất trong quá trình dạy học của trường mình là phải đổi mới đượcphương pháp giảng dạy theo hướng tích cực mà Bộ GD&ĐT đã đề ra Tuy nhiên sựchuyển biến về đổi mới phương pháp dạy học trong các nhà trường phổ thông diễn

ra đang còn chậm Phổ biến hiện nay vẫn là phương pháp thầy đọc trò chép, thuyếttrình giảng giải Một vài giáo viên cũng đã áp dụng thành công phương pháp giảngdạy theo hướng tích cực nhưng chủ yếu đó là các tiết thao giảng, hoặc thi giáo viêngiỏi các cấp, nên kết quả thu được không cao Tình trạng trên có nhiều nguyênnhân nhưng một nguyên nhân căn bản hạn chế sự phát triển của phương pháp tíchcực là thiếu động lực học tập từ phía học sinh Sự cứng nhắc từ hệ thống nội dung,phương pháp, hình thức tổ chức dạy học trong các trưòng phổ thông Hậu quả làhọc sinh ngày càng thụ động mặc dù các nhà trường kêu gọi phát huy tính tích cựcchủ động sáng tạo trong học tập của học sinh

Bước vào thời kỳ đổi mới, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thịtrường nhiều thành phần Trong một xã hội đang phát triển nhanh chóng về nhiềumặt, sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, thì việc phát hiện sớm và giải quyếthợp lí các tình huống có vấn đề nảy sinh trong cuộc sống là một năng lực đảm bảo

sự thành đạt của học sinh Vì vậy tập dượt cho học sinh biết, đặt và giải quyết cáctình huống có vấn đề gặp phải trong học tập và trong cuộc sống không chỉ thể hiện

ở phương pháp giảng dạy mà được đặt ra như một mục tiêu giáo dục

Trong một vài năm gần đây phương pháp dạy học tích cực bằng việc sử dụngBài toán nhận thức (BTNT) và tình huống có vấn đề (THCVĐ) đã được áp dụnggiảng dạy ở nhiều môn học trong đó có môn Sinh học Với việc giải các bài toándựa trên các tình huống có vấn đề học sinh từng bước lĩnh hội tri thức, trên cơ sở

đó khám phá ra các kiến thức mới mà giáo viên cần truyền đạt

Trang 3

Cũng giống như các phần khác trong chương trình Sinh học THCS Ditruyền học là phần mang tính khái quát hoá và trừu tượng cao, đặc biệt là các kiếnthức mang tính chất khái niệm và quy luật Do đó khi dạy các kiến thức phần ditruyền học giáo viên thường rất lúng túng và phân vân trong việc lựa chọn cácphương pháp giảng dạy cho phù hợp, làm sao đó vừa phát huy được tính tự học, tựnghiên cứu của học sinh, vừa phù hợp với mục đích đổi mới phương pháp giảngdạy theo hướng tích cực Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy môn Sinh học lớp 9 tạitrường THCS Yên Lâm -Yên Định - Thanh Hoá trong năm học 2017-2018 bằngphương pháp kết hợp BTNT và THCVĐ với các phương pháp dạy học tích cựckhác Tôi nhận thấy khả năng lĩnh hội kiến thức mới của học sinh là rất cao Chính

vì lẽ đó tôi đã mạnh dạn đưa ra sáng kiến:

“ Một vài kinh nghiệm giảng dạy các kiến thức phần“ Di truyền học” trong chương trình Sinh học 9 THCS bằng việc sử dụng bài toán nhận thức và tình huống có vấn đề kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực”.

1.2 Mục đích của SKKN:

- Đưa ra các phương pháp có hiệu quả để giảng dạy các kiến thức di truyền

- Hình thành cho học sinh phát hiện và giải quyết các tình huống có vấn đềtrong cuộc sống

1.3 Đối tượng nghiên cứu – Phạm vi áp dụng – thời gian thực hiện.

- Đối tượng nghiên cứu: Ứng dụng bài toán nhận thức và tình huống có vấn đề.

- Phạm vi ứng dụng: Dùng cho giảng dạy phần “Di truyền học” Sinh học 9.

Thời gian thực hiện: Năm học 2017 - 2018

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp thu nhập

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý thông tin

Trang 4

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:

2.1.1 Lịch sử phát triển của BTNT - THCVĐ trong giảng dạy môn Sinh học.

Theo GS.TS Đinh Quang Báo(Lí luận giảng dạy sinh học-NXB GD năm

học bằng các THCVĐ (Proplem solving) mới đáp ứng được và được nhiều nước áp

dụng trong dạy học ở mọi cấp học

2.1.2 Sơ lược về BTNT và tình huống có vấn đề trong dạy học.

a Bài toán nhận thức.

* Khái niệm

BTNT là bài toán được giáo viên sử dụng để hình thành kiến thức mới chohọc sinh Bài toán chỉ trở thành nhận thức khi mâu thuẫn khách quan trong bài tậpđược học sinh ý thức như là một vấn đề, từ đó dựa vào kiến thức đã biết học sinh tựlực giải bài toán qua đó lĩnh hội kiến thức

* Phân loại bài toán nhận thức: Theo TS Phan Đức Duy (ĐHSP Huế)

Dựa vào mục đích của lí luận dạy học người ta chia bài toán thành 2 dạng:

+ Bài toán để dạy bài mới

+ Bài toán để củng cố kiến thức bài học:

b Tình huống có vấn đề (THCVĐ)

* Khái niệm:

Theo MI Macmutôp “Tình huống có vấn đề là trở ngại về trí tuệ của conngười, xuất hiện khi người đó chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện, quá

Trang 5

trình thực tại, khi chưa thể đạt được mục đích bằng cách thức hành động quenthuộc Tình huống này kích thích con người tìm cách giải thích hay xuất hiện hànhđộng mới THCVĐ là quy luật hành động sáng tạo có hiệu qủa”.

Theo PGS.TS Nguyễn Đức Thành (Lí luận dạy học Sinh học- NXB GD) và

TS Phan Đức Duy (Dạy học GQVĐ - ĐHSP Huế; 2002) THCVĐ được xác định

bởi 3 đại lượng:

- Tạo THCVĐ bằng cách nêu các sự kiện mâu thuẫn với bản thân sự kịên khoa học

- Mâu thuẫn giữa kinh nghiệm sống với cách giải thích một cách khoa học sự kiện

- THCVĐ có thể xây dựng trên cơ sở mâu thuẫn giữa kiến thức đã có với các sựkiện mới thoạt đầu chưa thể giải thích được

* Kỹ thuật xây dựng tình huống có vấn đề.

Bước 1: Tái hiện tri thức liên quan đến tình huống sắp giải quyết.

Trong các tiết lên lớp công việc này có thể thực hiện bằng các kỹ thuật khácnhau như: ra câu hỏi kiểm tra bài cũ, tổ chức ôn tập trước những vấn đề liên quanđến điều sắp học

Bước 2: Nêu ra sự kiện hiện tượng mâu thuẫn với tri thức đã có.

Mâu thuẫn có thể là sự không phù hợp với cái đã biết và cái chưa biết, giữatri thức khoa học đã có với thực tiễn đa dạng Mâu thuẫn có thể là một nghịch límột bất ngờ một cái gì đó không bình thường so với nhận thức của học sinh Cũng

có thể là một sự kiện, một hiện tượng mà học sinh không thể giải thích được

2.1.3 Điều kiện cần thiết để sử dụng bài toán nhận thức và tình huống có vấn

đề trong dạy học môn Sinh học ở trường THCS.

- Giáo viên phải được đào tạo chu đáo để thích nghi với nhiệm vụ đa dạng,vừa có tri thức bộ môn sâu rộng, vừa có trình độ sư phạm lành nghề, biết ứng xửtinh tế, sử dụng các phương pháp thành thạo

Trang 6

- Chương trình và SGK phải giảm bớt thông tin bắt buộc học sinh phải thừanhận, ghi nhớ Tăng cường các BTNT để học sinh tập giải.

- Khối lượng thông tin trong một chương, một bài, một tiết học phải vừa mức

độ để thầy trò có thời gian tổ chức công tác độc lập, tìm tòi, kiểm tra đánh giá

- Yêu cầu về phương tiện, thiết bị dạy học hỗ trợ cho công tác độc lập Hìnhthức tổ chức thay đổi linh hoạt

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

- Các kiến thức di truyền trong chương trình Sinh học 9 THCS là những kiếnthức liên quan đến các thí nghiệm và thực nghiệm Do đó giáo viên có thể dễ dàngvận dụng các BTNT - THCVĐ trong quá trình giảng dạy của mình

- Sự chỉ đạo kịp thời, sát sao của các cấp, ngành có liên quan trong việc đổimới phương pháp giảng dạy đã thôi thúc giáo viên không ngừng đổi mới phươngpháp giảng dạy để phù hợp với xu thế phát triển của xã hội

- Trong những năm gần đây Phòng GD&ĐT huyện Yên Định -Thanh Hoá đãkhông ngừng mở các lớp bồi dưỡng giáo viên trong việc đổi mới phương phápgiảng dạy Chính vì lẽ đó mà giáo viên đã sử dụng thành thạo, có hiệu quả cácphương pháp dạy học theo hướng tích cực, trong đó có phương pháp sử dụngBTNT - THCVĐ

Trang 7

- Việc xây dựng BTNT - THCVĐ nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy của giáoviên là không dễ thực hiện do giáo viên chưa có mẫu cụ thể để học tập và vận dụng.

- Có nhiều GV muốn đổi mới phương pháp giảng dạy, muốn sử dụng BTNT

- THCVĐ để giảng dạy nhưng lại thiếu kinh nghiệm, hoặc do dung lượng các bàitrong SGK quá nặng, thiếu thời gian áp dụng, do lớp học quá đông, tâm lý nặng nềtrong thi cử…… nên hiệu quả giảng dạy chưa cao, chưa phát huy tính chủ độngsáng tạo của học sinh

2.2.3 Tình hình sử dụng BTNT và THCVĐ trong giảng dạy các kiến thức môn Sinh học ở một số trường THCS trên địa bàn huyện Yên Định - Thanh Hoá.

Tôi đã tiến hành khảo sát tình hình giảng dạy môn Sinh học 9 (đặc biệt là cáckiến thức phần Di truyền học) ở một số trường THCS thuộc cụm Yên Lâm - QuýLộc - Yên Thọ - Yên Trung trong địa bàn huyện Yên Định – tỉnh Thanh Hoá bằngcác phiếu khảo sát đối với các giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Sinh học 9 Tổnghợp được kết quả và ghi vào bảng sau:

Bảng 1: Điều tra tình hình sử dụng các phương pháp giảng dạy của giáo viên.

dạy môn sinh

GV dạy lớp 9

Các phương pháp dạy học

Thuyết trình

Diễn giải nêu vấn đề

Hỏi đáp thông báo

Hỏi đáp tìm tòi

Làm việc SGK

BTNT+ THCVĐ

2.3 Các SKKN hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:

2.3.1 Sử dụng BTNT – THCVĐ kết hợp với câu hỏi tự lực.

- Câu hỏi tự lực là các câu hỏi yêu cầu phân tích, giải thích, chứng minh haykhái quát hoá tổng hợp nội dung SGK và từ đó tìm ra lời giải cho những tình huốngđặt ra trong BTNT

Trang 8

- Câu hỏi tự lực giúp định hướng cho quá trình tự lực nghiên cứu SGK củahọc sinh Sau khi đưa ra BTNT để giúp học sinh giải quyết được vấn đề, GV đưa ra

hệ thống câu hỏi tự lực định hướng cho HS nghiên cứu SGK Trên cơ sở nghiêncứu SGK học sinh sẽ giải quyết được BTNT và THCVĐ đã đưa ra,thông qua đóhọc sinh sẽ chiếm lĩnh được các kiến thức mới

2.3.2 Sử dụng BTNT-THCVĐ kết hợp với đàm thoại orixtic.

- Đàm thoại orixtic là phương pháp mà trong đó học sinh độc lập giải quyếttừng phần nhỏ hàng loạt các câu hỏi do giáo viên nêu ra trên lớp GV tổ chức sựtrao đổi ý kiến, kể cả tranh luận giữa thầy với trò, giữa trò với trò Thông qua đónắm được kiến thức mới

- Sau khi đưa BTNT tạo THCVĐ GV tổ chức việc dạy học bằng sự xen kẽtuần tự thông báo ngắn của GV với các câu hỏi và câu trả lời của học sinh

2.3.3 Sử dụng BTNT - THCVĐ kết hợp với phiếu học tập.

Phiếu học tập (PHT) là những tờ giấy rời in sẵn những công tác độc lập,được phát cho học sinh tự lực hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết học GVlập ra phiếu học tập dưới dạng những bài tập, hệ thống câu hỏi theo nội dung SGK.Những yêu cầu trong phiếu học tập sau khi được trả lời sẽ giúp học sinh địnhhướng việc giải BTNT để dễ dàng tiếp thu các tri thức mới

Sau khi trả lời các câu hỏi trong phiếu học tập (PHT) học sinh có thể chiếmlĩnh được kiến thức mới

2.3.4 Vận dụng BTNT - THCVĐ để giảng dạy một số kiến thức phần “Di truyền học” trong chương trình Sinh học 9 THCS.

1 Hình thành kiến thức về khái nhiệm phép lai phân tích ( Bài 3- Lai một cặp tính trạng).

GV đưa vấn đề: Trong bài trước chúng ta đã biết kiểu hình hoa đỏ F 2 có 2 kiểu gen là AA và Aa Menđen làm thế nào để biết được đậu hoa đỏ là thuần chủng

AA hay không thuần chủng Aa.

HS: Cho đậu hoa đỏ tự thụ phấn

+ Nếu F 3 toàn hoa đỏ thì F 2 thuần chủng (AA) + Nếu F 3 xuất hiện hoa đỏ và hoa trắng thì F 2 không thuần chủng.

Trang 9

GV: Menđen đã tìm ra một phương pháp khoa học hơn đó là phương pháp

lai phân tích Vậy lai phân tích là gì?

GV: Đưa BTNT để tạo THCVĐ sau:

Phép lai 1: P: Hoa đỏ x Hoa trắng

F1: 100% Hoa đỏPhép lai 2: P: Hoa đỏ x Hoa trắng

Sơ đồ lai: Sơ đồ lai:

P: Hoa đỏ x Hoa trắng P: Hoa đỏ x Hoa trắng

AA aa Aa aa

G/P A a G/P: A,a a

F1: Aa (100% Hoa đỏ) F1: Aa (50% Hoa đỏ): aa (50% hoa trắng)

GV: nhận xét kết quả kiểu hình của hai phép lai trên?

HS: F 1 ở phép lai 1 đồng tính, phép lai 2 phân tính.

GV: tại sao lại có sự khác nhau đó?

HS: vì hoa đỏ (AA) ở phép lai 1 chỉ cho ra một loại giao tử duy nhất là A.

Hoa trắng(aa) cho ra một loại giao tử duy nhất là a.

F 1 cho ra một hợp tử duy nhất Aa (đồng tính): Có KH hoa đỏ.

Hoa đỏ Aa ở phép lai 2 cho ra hai loại giao tử A,a với tỉ lệ ngang nhau và hoa trắng aa cho ra một loại giao tử a; F 1 cho ra hợp tử Aa (Hoa đỏ) và aa( Hoa trắng) nên có sự phân tính.

Trang 10

GV: như vậy muốn kiểm tra cơ thể trội là đồng hợp hay không đồng hợp ta cho cơ thể trội lai với cơ thể đồng hợp lặn và kiểm tra sự di truyền của đời con Đó

là nội dung của phép lai phân tích Vậy phép lai phân tích là gì?

HS: Trả lời GV: Tổng kết và rút ra khái niệm phép lai phân tích.

2 Dạy Quy luật phân li độc lập (PLĐL) (Bài 4 – Lai 2 cặp tính trạng)

GV đưa BTNT – THCVĐ như sau: Biết A: Hạt vàng; a: Hạt xanh; B: Vỏtrơn, b : vỏ nhăn

F2: 9 hạt vàng trơn: 3 vàng, nhăn: 3 xanh trơn: 1 xanh, nhăn

Giải thích 2 bài toán trên?

Dựa vào quy luật phân li học sinh sẽ giải thích được bài toán 1:

Quy ước: A: Hạt vàng, a: Hạt xanh; B: Vỏ trơn; b: Vỏ nhăn

3 Hạt vàng: 1Hạt xanh 3 Vỏ trơn: 1vỏ nhăn

Bài toán 2: Học sinh không giải thích được (Đây chính là tình huống có vấn đề)

GV: Xác định số kiểu tổ hợp ở F 2 ? HS: 16 kiểu tổ hợp (= 4x 4)

GV: Bố mẹ cho tối đa bao nhiêu loại giao tử ? HS: 4 loại giao tử.

GV: Để tạo ra 4 loại giao tử bố mẹ có kiểu gen như thế nào?

HS: Dị hợp 2 cặp gen (AaBb)

GV: Yêu cầu học sinh viết sơ đồ lai:

Trang 11

F1: AaBb x AaBb Vàng, trơn Vàng, trơn

G/P AB, Ab , aB, ab

F2: 9 (A-B): 3 (A –bb): 3 aaB- : 1aabb

9 Vàng, trơn 3: Vàng, nhăn: 1 Xanh, trơn: 1 Xanh, nhăn

Giáo viên yêu cầu học sinh tính tích kết quả của 2 phép lai ở bài tập 1

(1AA: 2Aa: 1aa)(1BB: 2Bb: 1bb) = ?

(3vàng: 1 xanh) (3 trơn: 1 nhăn) =?

HS: (1AA: 2Aa: 1aa)(1BB: 2Bb: 1bb) = 1AABB: 2AABb:1AAbb: 2AaBB:

4AaBb: 2Aabb: 1aaBB: 2aaBb: 1aabb = 9(A – B): 3A-bb: 3aaB-: 1aabb (KQBT2)

(3 vàng: 1xanh)(3 trơn: 1 nhăn) = 9 vàng, trơn: 3 vàng, nhăn: 3 trơn, nhăn:

1 xanh, nhăn = Kết quả bài toán 2

GV: Như vậy ta thấy tích KG và KH trong 2 phép lai của bài tập 1 = kết quả

của bài tập 2 Chứng tỏ các tính trạng ở bài tập 2 đã phân li độc lập với nhau.

GV: Kết quả của BT2 chính là thí nghiệm của Menđen về quy luật PLĐL

GV: rút ra nội dung quy luật PLĐL

3 Dạy kiến thức bài Di truyền liên kết (Bài 13 – Sinh học 9)

a Hình thành kiến thức khái niệm Di truyền liên kết.

Giáo viên đưa BTNT sau:

Bài toán 1 : Ptc: Đậu Hà lan hạt vàng, trơn x Đậu Hà lan hạt xanh, nhăn

Cho F1 lai phân tích, hãy xác định tỉ lệ KH ở FB

Bài toán 2: Ptc: Ruồi giấm thân xám, dài x Ruồi giấm đen, cụt

F1: 100% Thân xám, dàiCho con đực F1 lai phân tích xác định kết quả FB

Do đã học quy luật phân li độc lập HS giải như sau:

Bài toán 1: Quy ước: A: Hạt vàng; a: Hạt xanh; B: Vỏ trơn ; b: Vỏ nhăn

Ptc: Hạt vàng, trơn x Hạt xanh, nhăn AABB aabb

F1: AaBb (100% Vàng, trơn) Lai phân tích: AaBb(Vàng, trơn) x aabb (Xanh, nhăn)

Trang 12

FB: 1AaBb : 1Aabb: 1aaBb: 1aabb

Vàng, trơn: Vàng, nhăn: Xanh, trơn: Xanh nhăn

Bài toán 2: HS cũng giải tương tự thu được kết quả như sau:

Quy ước: B: Xám, b: Đen; V: Dài, v: Cụt

FB: 1BbVv: 1Bbvv: 1bbVv: 1bbvv

Xám, dài: Xám, cụt: đen, dài: đen, cụt

GV: Bài toán 2 chính là thí nghiệm của MoocGan về ruồi giấm

GV thông báo kết quả trong thí nghiệm, F B : 1 xám, dài: 1 đen cụt Kết quả này khác với sự tính toán của học sinh.

GV : Vì sao F B lại phân li theo tỉ lệ 1:1?

GV gợi ý: Ruồi đen, cụt khi giảm phân cho mấy loại giao tử ?

HS: Cho 1 loại giao tử vì đồng hợp tử lặn

GV: F B Xuất hiện 2 tổ hợp với tỉ lệ 1:1 Vậy ruồi đực F 1 cho mấy loại giao tử.

HS: 2 Loại, vì 2=2 (đực) x 1 (cái)

GV :Vậy tại sao ở thí nghiệm của Mooc Gan ruồi đực F 1 chỉ cho 2 loại giao

tử mà không cho 4 loại? Tại sao trong kết quả phép lai phân tích không xuất hiện kiểu hình xám, ngắn và đen, dài ?

Lúc này học sinh sẽ rơi vào tình huống có vấn đề mới Và lúng túng

GV: Dẫn dắt học sinh để đi đến hình thành giả thuyết mới

GV: 2 cặp NST di truyền PLÐL lai phân tích có 4 loại kiểu hình, không

phù hợp với kết quả thí nghiệm  loại bỏ giả thuyết này.

GV: Vậy 2 cặp gen phải cùng nằm trên 1 cặp NST F B thân xám thể hiện cùng cánh dài và thân đen biểu hiện cùng cánh cụt giả thuyết : gen B và V, b và

v cùng nằm trên 1 NST và di truyền cùng nhau Kí hiệu : B và b

V v

GV sữa chữa lại cách kí hiệu:

Ruồi đực: Xám, dài B b Ruồi cái: Đen,cụt b b

V v v v

GV: Hiện tượng các gen (B,V) và (b,v) cùng nằm trên 1 NST phân li cùng

nhau trong quá trình phân bào được gọi là hiện tượng Di truyền liên kết.

GV: Vậy hiện tượng Di truyền liên kết là gì? HS: trả lời, GV rút ra khái niệm.

Trang 13

b Hình thành kiến thức về ý nghĩa của di truyền liên kết.

GV nêu tình huống có vấn đề: ở ruồi giấm 2n=8 (Có 8 NST trong tế bào)

nhưng tế bào có khoảng 4000 gen Tỉ lệ KH ở di truyền liên kết 1: 1 còn tỉ lệ kiểu hình ở phân li độc lập: 1: 1: 1: 1? Tại sao lại có các hiện tượng này? HS:??

GV hướng dẫn học sinh giải quyết tình huống này: Bằng phương pháp đàm

thoại ơrixtic :

GV: Nhận xét số lượng của gen và NST?

HS: Số lượng gen nhiều hơn rất nhiều so với NST.

GV: Sự phân bố các gen trên NST sẽ như thế nào?

HS: mỗi NST sẽ mang nhiều gen Hình thành nên nhóm gen liên kết.

GV: So sánh kiểu hình F 2 trong trường hợp phân li độc lập và di truyền liên kết?

HS: Di truyền liên kết cho 2 kiểu hình giống với bố mẹ Phân li độc lập xuất

hiện kiểu hình giống và khác bố mẹ.

GV: Sự khác nhau đó chứng tỏ điều gì?

HS : Nếu F 2 phân li độc lập sẽ làm xuất hiện biến dị tổ hợp, di truyền liên kết thì không?

GV: Có nhận xét gì về sự di truyền của các tính trạng?

HS: Luôn di truyền cùng nhau

GV: Ý nghĩa của di truyền liên kết là gì?

HS: Trao đổi và trả lời

GV củng cố bài học bằng cách giao Phiếu học tập

Ngày đăng: 21/10/2019, 10:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w